Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Khu vực Châu Á

Hợp tác khu vực Đông Á sẽ đứng vững trước những thử thách cam go như thế nào?

29/08/2025
in Châu Á, Chính trị
A A
0
Hợp tác ASEAN+3 trong bối cảnh chiến tranh thương mại 2.0 hiện nay
0
SHARES
4
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Dưới tác động thuế quan do Mỹ áp đặt và những thách thức phức tạp từ làn sóng căng thẳng địa chính trị quay trở lại, các quốc gia Đông Á cũng như hợp tác khu vực đang phải đối mặt với một “thách thức cam go” to lớn. Làm thế nào để cơ chế hợp tác Đông Á lấy ASEAN cùng Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc (10+3) làm trụ cột có thể duy trì sức bật, biến nguy thành cơ, đạt được những bước phát triển lớn hơn? Những thảo luận dưới đây sẽ phân tích về các vấn đề đó.

Sức bật của cơ chế hợp tác khu vực 10+3 đến từ đâu?1

Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) mới đây đã công bố báo cáo triển vọng hàng quý mới nhất, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực ASEAN – Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc (10+3) đạt 3,8% vào năm 2025, con số phản ánh khả năng chống chịu đáng ghi nhận trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động. Đồng thời, tổ chức quốc tế chuyên giám sát kinh tế vĩ mô khu vực này cũng cảnh báo rằng, khi những “đám mây đen” như hàng rào thuế quan của Mỹ tiếp tục bao trùm triển vọng kinh tế toàn cầu và khu vực, tăng trưởng kinh tế của khu vực 10+3 trong tương lai sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn, tốc độ tăng trưởng có thể chậm lại xuống 3,6% vào năm 2026.

Hợp tác ASEAN – Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc (10+3) là kênh chính của hợp tác kinh tế Đông Á, hiện đã trở thành cơ chế trung tâm của hợp tác khu vực Đông Á. Hợp tác 10+3 bắt nguồn từ ý tưởng “Khối kinh tế Đông Á” do cựu Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad đề xuất vào năm 1990. Năm 1997, Hội nghị không chính thức cấp lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc lần đầu tiên được tổ chức tại Kuala Lumpur, chính thức khởi động tiến trình hợp tác khu vực Đông Á.

Nửa cuối năm 1997, trước cơn bão khủng hoảng tài chính châu Á, 10+3 đã tiến hành trao đổi sâu rộng và hợp tác về các vấn đề như thoát khỏi khủng hoảng tài chính, khôi phục tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự phát triển lâu dài của khu vực Đông Á, khiến cơ chế này mang ý nghĩa như “lá chắn” để ứng phó khủng hoảng.

Tháng 5/2000, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính 10+3 tại Chiang Mai, Thái Lan đã ký “Sáng kiến Chiang Mai”. Đây là một thỏa thuận nhằm thiết lập mạng lưới hoán đổi tiền tệ khu vực. Theo đó các quốc gia 10+3 đóng góp một lượng dự trữ ngoại hối nhất định vào “Quỹ dự trữ ngoại hối chung”. Khi một quốc gia gặp khó khăn như thiếu hụt nguồn ngoại tệ, các nước khác có thể hỗ trợ thông qua cơ chế này. Cho đến nay, “Sáng kiến Chiang Mai” được xem là một trong những thành quả thể chế quan trọng nhất của hợp tác tiền tệ, tài chính châu Á, có ý nghĩa sâu sắc trong việc phòng ngừa khủng hoảng tài chính và thúc đẩy hợp tác khu vực.

Có thể nói, ngay từ đầu hợp tác Đông Á đã là một cơ chế hợp tác mang đậm tính chất “được thúc đẩy bởi khủng hoảng”. Việc “ra đời để ứng phó khủng hoảng” tự nó đã trở thành một nguồn sức bật quan trọng của hợp tác 10+3.

Trong khuôn khổ 10+3, các quốc gia liên quan đã tiến hành một loạt hợp tác mang tính cơ chế, thiết lập các cơ chế gặp gỡ định kỳ ở nhiều cấp độ khác nhau, triển khai đối thoại và hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Những hợp tác mang tính cơ chế này có lợi trong việc tăng cường lòng tin chính trị giữa các quốc gia 10+3, từ đó trở thành một nhân tố trọng yếu nâng cao tính bền vững của hợp tác Đông Á.

Ngoài ra, hợp tác 10+3 còn sở hữu những lợi thế tự nhiên như quy mô thị trường khổng lồ, tính bổ trợ mạnh mẽ giữa các ngành. Dân số toàn khu vực 10+3 vào khoảng 2,2 tỷ người, tạo nên một thị trường tiêu thụ khổng lồ. Các quốc gia ASEAN có lợi thế rõ rệt về nguyên liệu thô, lực lượng lao động trẻ, trong khi Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc lại giữ vị trí quan trọng ở phân khúc trung và cao của chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng. Điều này khiến các quốc gia 10+3 có tính bổ sung hoặc đan xen cao trong phát triển ngành sản xuất và nhiều ngành công nghiệp khác, hình thành nên một hệ thống hợp tác khu vực có hiệu suất rất cao.

Tất nhiên, trong bối cảnh chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ và hành vi bá quyền kinh tế tác động đến hệ thống thương mại đa phương quốc tế, hợp tác Đông Á cũng đang đối mặt với những thách thức phức tạp. Chẳng hạn, xuất khẩu của các quốc gia trong khu vực đang chịu tác động từ thuế quan do Mỹ áp đặt. Phần lớn các nước 10+3 là những nền kinh tế hướng ngoại, phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mô hình phát triển kinh tế định hướng xuất khẩu này vừa hướng vào nội bộ khu vực Đông Á, vừa hướng ra ngoài khu vực, đặc biệt là trong quan hệ thương mại với Mỹ và châu Âu. Hiện nay, xuất khẩu sang Mỹ chiếm một tỷ trọng tương đối cao trong tổng kim ngạch thương mại ngoại thương của các nước trong khu vực. Do đó việc Mỹ lạm dụng áp thuế sẽ tác động trực tiếp đến xuất khẩu của các quốc gia Đông Á. Tuy nhiên, tác động từ thuế quan của Mỹ cũng có thể thúc đẩy các quốc gia trong khu vực điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu hàng hóa, bao gồm việc giảm tỷ trọng xuất khẩu sang Mỹ và tăng tỷ trọng xuất khẩu trong nội khối cũng như sang các quốc gia, khu vực khác ngoài Mỹ.

Mặc dù vậy, chi phí xuất khẩu của các quốc gia trong khu vực chắc chắn sẽ tăng lên. Trong thời gian dài, toàn cầu hóa kinh tế và sự phân công lao động quốc tế đã thúc đẩy dòng chảy tự do và tối ưu hóa phân bổ các nguồn lực như vốn, nhân lực, nguyên liệu thô và hàng hóa trung gian. Tuy nhiên, việc Mỹ khơi mào các biện pháp thuế quan và gây ra xung đột thương mại đã tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng – sản xuất toàn cầu, bao gồm cả thương mại hàng hóa trung gian. Từ đó gây ra ảnh hưởng nhất định đối với các quốc gia 10+3, đặc biệt là các nước ASEAN. Ngoài ra, trong quá trình đàm phán thương mại với các nước trong khu vực, hoặc trong các mức áp thuế đã công bố, Mỹ thường tìm cách đưa vào một số điều khoản mang tính loại trừ, đặc biệt là nhắm vào hoạt động thương mại tạm nhập tái xuất. Điều này có thể gây ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động kinh tế thương mại trong nội khối 10+3.

Đối mặt với những thách thức này, ngoài việc tiếp tục phát huy đầy đủ vai trò của các cơ chế đối thoại và hợp tác hiện có, các quốc gia 10+3 cần dựa trên bản sắc khu vực và lợi ích chung để tăng cường xây dựng liên kết khu vực. Đồng thời cần kiên định theo đuổi nguyên tắc mở cửa và thương mại tự do, nỗ lực hơn nữa trong việc mở rộng và gia tăng lợi ích chung.

Cần đề phòng những hệ lụy tiềm ẩn khó nhận biết2

Hiện nay, hợp tác khu vực Đông Á đang phải đối mặt với một “thách thức cam go” khổng lồ khi môi trường kinh tế thương mại toàn cầu biến động mạnh, cộng thêm sự trỗi dậy trở lại của yếu tố địa chính trị. Việc Mỹ áp thuế ở các mức độ khác nhau đối với các quốc gia trong khu vực đã làm gia tăng rủi ro cho mạng lưới sản xuất Đông Á vốn có mức độ liên kết cao. Chẳng hạn như làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn chuỗi cung ứng và gây bất ổn thị trường tài chính.

Trước chiến lược áp thuế “chia để trị” của Washington, khả năng đoàn kết và phối hợp trong nội bộ cơ chế ASEAN cộng với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (10+3) cũng đang chịu nhiều thử thách. Mặc dù các quốc gia 10+3 đã thể hiện lập trường chung trong trong việc bảo vệ hệ thống thương mại đa phương và phản đối chủ nghĩa đơn phương, nhưng do quan hệ kinh tế thương mại của mỗi nước với Mỹ cũng như mức độ chịu tác động từ thuế quan là khác nhau, nên cách thức ứng phó cụ thể của từng nước vẫn có sự khác biệt.

Nhật Bản và Hàn Quốc đã cam kết đầu tư hàng trăm tỷ USD vào Mỹ và mở cửa thị trường, qua đó giữ được mức thuế “đối ứng” ở mức 15%, tránh phải chịu mức thuế cao hơn 25%. Tuy nhiên, tác động sâu xa của thỏa thuận này là việc buộc hai nước phải thiết lập “chuỗi cung ứng an toàn” trong các lĩnh vực then chốt như chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, đồng thời tăng cường phối hợp kiểm soát xuất khẩu. Điều này đồng nghĩa với việc Nhật Bản và Hàn Quốc ngày càng bị ràng buộc chặt chẽ vào hệ thống tiêu chuẩn công nghệ và cơ chế rà soát an ninh của Mỹ.

Trong khi đó, nội bộ ASEAN bắt đầu lộ rõ sự phân hóa. Đầu tháng 7, Việt Nam là nước đầu tiên đạt thỏa thuận với Mỹ, theo đó giảm thuế suất xuống 20%. Cái giá phải trả không chỉ là mở cửa thị trường cho Mỹ, mà quan trọng hơn là việc đồng ý thiết lập một cơ chế kiểm tra nghiêm ngặt về “xuất xứ hàng hóa”, nhằm chứng minh sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam không đơn thuần là hàng tái xuất chung chuyển hay sử dụng quá nhiều linh kiện có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Thứ nhất, hiệu ứng từ hệ lụy tiềm ẩn khó nhận biết này có thể làm lung lay nền tảng hợp tác 10+3. Trước hết, nó phá vỡ cơ sở hình thành thị trường chung. Khi Nhật Bản và Hàn Quốc buộc phải gắn chặt chuỗi cung ứng công nghệ cao với Mỹ, trong khi một số quốc gia ASEAN lại chịu sự ràng buộc chặt chẽ của các quy tắc xuất xứ do Washington áp đặt đối với sản xuất và xuất khẩu, thì Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) với mục tiêu xây dựng một thị trường khu vực thống nhất, ít rào cản có nguy cơ bị chia cắt.

Thứ hai nó tạo ra sự nghi kỵ chiến lược trong nội khối. Thông qua chiến lược đàm phán “chia để trị”, Mỹ lần lượt ký kết nhiều thỏa thuận thương mại khác nhau với các quốc gia trong khu vực, điều này khách quan mà nói có thể làm suy yếu lập trường đàm phán tập thể của khu vực, đồng thời tạo ra sự mất cân bằng và thiếu tin tưởng lẫn nhau trong nội bộ 10+3.

Thứ ba nó buộc các nước phải lựa chọn con đường phát triển công nghiệp khác nhau. Trong các lĩnh vực mới nổi như kinh tế số, năng lượng xanh, các quốc gia 10+3 đứng trước tình thế buộc phải lựa chọn theo tiêu chuẩn của Mỹ hay cùng nhau xây dựng bộ tiêu chuẩn chung của khu vực. Điều này có thể cản trở quá trình hình thành một hệ sinh thái công nghệ và cụm công nghiệp thống nhất ở Đông Á, từ đó làm suy giảm năng lực cạnh tranh dài hạn của toàn khu vực.

Ngoài ra, vấn đề thuế quan của Mỹ ở một mức độ nhất định cũng làm gián đoạn chương trình hợp tác vốn có của 10+3. Các quốc gia buộc phải dành nhiều nguồn lực ngoại giao để xử lý tranh chấp thương mại, thay vì tăng cường thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn trong các lĩnh vực như tài chính, kết nối hạ tầng, giao lưu văn hóa xã hội.

Mặc dù rủi ro và thách thức là không nhỏ, những biến động của kinh tế – thương mại quốc tế cũng đang buộc các quốc gia Đông Á phải “kề vai sát cánh cùng nhau vượt khó. Từ đó mở ra cơ hội mới để thúc đẩy hợp tác khu vực sâu rộng hơn. Điều then chốt trong giai đoạn tới đối với Đông Á là trở lại với nguyên tắc hợp tác ban đầu, tập trung vào lợi ích chung, lấy hợp tác mang tính chức năng làm bước đi tiên phong, lấy xây dựng thể chế làm nền tảng, từ đó hóa giải rủi ro và cùng nhau kiến tạo tương lai.

Đầu tiên, phải kiên định bảo vệ vị trí trung tâm của ASEAN. Cơ chế 10+3 phải nỗ lực điều phối lập trường, cùng cất lên một tiếng nói chung, qua đó nâng cao quyền phát ngôn tập thể và tầm ảnh hưởng của Đông Á trên trường quốc tế.

Một khuôn khổ hợp tác khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ đạo, dựa trên nguyên tắc tham vấn và đồng thuận, quan tâm đến sự thoải mái của tất cả các bên, chính là con đường khả thi duy nhất để tránh cho Đông Á rơi vào chia rẽ và đối kháng. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cần ủng hộ vị trí trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực, đồng thời chủ động hỗ trợ, nâng cao năng lực điều phối và dẫn dắt hợp tác khu vực của ASEAN.

Tiếp theo, cần triển khai RCEP một cách chất lượng cao để định hình cục diện mới cho hội nhập kinh tế khu vực. Sức sống của RCEP không chỉ nằm ở việc cắt giảm thuế quan, mà còn ở quy tắc xuất xứ thống nhất, cũng như cam kết mở cửa về thể chế trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và thương mại điện tử. Các bên cần đẩy nhanh việc điều chỉnh các quy định pháp luật trong nước, tập trung dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan, thúc đẩy đơn giản hóa và phối hợp thủ tục hải quan. Từ đó thực sự hiện thực hóa việc tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư trong khu vực.

Sau đó, cần chủ động nắm bắt “hai động lực” kinh tế số và kinh tế xanh. Các bên cần đẩy nhanh thảo luận trong khuôn khổ 10+3 về việc xây dựng các quy tắc chung cho thương mại số, thúc đẩy lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới một cách an toàn và có trật tự. Đồng thời, thông qua các sáng kiến như thúc đẩy thành lập “Quỹ phát triển xanh Đông Á”, biến chuyển đổi xanh trở thành động lực tăng trưởng mới của kinh tế khu vực.

Cuối cùng, củng cố mạng lưới an ninh tài chính khu vực. Các quốc gia trong khu vực cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế “Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai”, nghiên cứu quy trình kích hoạt nhanh hơn trong trường hợp khủng hoảng. Song song đó, cần tích cực thúc đẩy việc thanh toán bằng đồng nội tệ trong khu vực, đặc biệt là giảm sự phụ thuộc quá mức vào một đồng tiền bên ngoài duy nhất, qua đó tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống tài chính khu vực.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, “lấy đoàn kết làm động lực phát triển” mới là mẫu số chung lớn nhất của lợi ích các quốc gia trong khu vực. Các nước 10+3 cần hướng tới tầm nhìn dài hạn, biến sức ép bên ngoài thành động lực thúc đẩy hội nhập nội khối, đẩy nhanh phối hợp chính sách và hành động tập thể, nhằm xây dựng một cộng đồng kinh tế Đông Á có sức bật mạnh mẽ hơn, tự chủ hơn và thịnh vượng hơn.

Thúc đẩy hợp tác khu vực theo những hướng đi mới3

Là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế toàn cầu, việc Đông Á có thể ứng phó hiệu quả với những sức ép trong và ngoài khu vực, bảo vệ lợi ích chung của các quốc gia hay không, không chỉ liên quan đến tiến trình hội nhập Đông Á, mà còn có ảnh hưởng quan trọng đến việc duy trì hệ thống thương mại đa phương.

Đặc điểm nổi bật của tiến trình hợp tác khu vực Đông Á chính là “được thúc đẩy bởi khủng hoảng”. Mỗi khi đối mặt với những cơn địa chấn kinh tế lớn, các quốc gia chủ chốt trong khu vực thường tăng cường phối hợp, cùng nhau ứng phó thách thức và biến khủng hoảng thành động lực thúc đẩy hợp tác. Mô hình này đã được thể hiện rõ trong khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và khủng hoảng tài chính quốc tế năm 2008.

Việc mô hình ASEAN không ngừng được củng cố và mở rộng, cơ chế hợp tác ASEAN+3 (ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) ngày càng hoàn thiện, cùng với Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) được ký kết và triển khai, đều đã trở thành những động lực then chốt thúc đẩy tiến trình hợp tác khu vực Đông Á.

Từ những năm 1990 đến nay, một xu thế nổi bật trong thương mại toàn cầu là sự gia tăng nhanh chóng của các hiệp định thương mại khu vực (RTA). Thông qua việc thiết lập các khu vực mậu dịch tự do, nhiều quốc gia đã tăng cường liên kết kinh tế, trong khi tỷ trọng thương mại nội khối trong tổng thương mại toàn cầu không ngừng mở rộng. Trong bối cảnh đó, hợp tác kinh tế Đông Á với cơ chế 10+3 đang trở thành một điển hình tiêu biểu của xu thế này.

Chỉ tính từ đầu năm nay, nhiều sự kiện quan trọng đã diễn ra: Hội nghị Ngoại trưởng Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc và Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN+3 được tổ chức thành công. Đàm phán về Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN phiên bản 3.0 đã hoàn tất. Hiệp định RCEP tiếp tục được triển khai hiệu quả. Trước những thách thức phát triển mang tính toàn cầu và khu vực, các nước Đông Á đang nỗ lực tìm kiếm những hướng đi mới để làm sâu sắc hơn hợp tác khu vực.

Trong nửa đầu năm 2025, tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 3,67 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 9,6%, chiếm 16,8% tổng giá trị ngoại thương của Trung Quốc. Việc hoàn tất Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN phiên bản 3.0 đánh dấu bước tiến mới trong quá trình hội nhập quy tắc của một siêu thị trường bao phủ 1/4 dân số thế giới.

So với phiên bản 2.0, hiệp định FTA 3.0 không chỉ tiếp tục làm sâu sắc hơn các nội dung truyền thống như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, quy tắc hải quan, hợp tác kinh tế và khoa học công nghệ, mà còn bổ sung nhiều lĩnh vực mới, bao gồm kinh tế số, kinh tế xanh, kết nối chuỗi cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, quy tắc cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng. Những điểm mới này sẽ góp phần nâng cao mức độ mở cửa hai chiều, thúc đẩy sự gắn kết sâu hơn nữa của chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng trong khu vực.

Sau hơn ba năm có hiệu lực, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đã trở thành động lực tăng trưởng mới của kinh tế khu vực. Quy mô thương mại hàng hóa nội khối tăng trưởng ổn định, mạng lưới chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng tiếp tục gắn kết, tỷ trọng thương mại trung gian trong tổng kim ngạch thương mại nội khối đã tăng từ 65% năm 2021 lên 68,3% vào năm 2024. Trong tương lai, RCEP không chỉ tiếp tục củng cố nền tảng hợp tác khu vực, mà còn có khả năng mở rộng sang hợp tác liên khu vực, tạo thêm không gian phát triển cho hội nhập kinh tế châu Á – Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh chủ nghĩa đơn phương và bảo hộ trỗi dậy, các rào cản thuế quan và thương mại gia tăng, căng thẳng địa chính trị ngày càng phức tạp, hợp tác 10+3 càng trở nên quý giá. Các quốc gia liên quan đều nhất trí để cơ chế này tiếp tục phát huy vai trò định hướng chiến lược, thúc đẩy phát triển bao trùm và hòa bình bền vững trong khu vực.

Việc tiếp tục triển khai hiệu quả RCEP, hoàn thiện mạng lưới an ninh tài chính khu vực, nâng cao hợp tác an ninh lương thực, đồng thời tăng cường hợp tác đổi mới trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, hợp tác an ninh trong đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia cũng như thúc đẩy giao lưu văn hóa xã hội đều nhận được sự ủng hộ chung của các nước 10+3.

Thực tiễn đã chứng minh, kể từ khi được thiết lập, cơ chế hợp tác 10+3 đã không ngừng củng cố năng lực ứng phó khủng hoảng của toàn khu vực Đông Á, đạt nhiều kết quả nổi bật trong thúc đẩy hội nhập kinh tế, tạo động lực phát triển mới, góp phần đưa Đông Á trở thành một trong những khu vực năng động nhất thế giới.

Nhìn từ xu thế phát triển thương mại toàn cầu hiện nay, hội nhập khu vực và thương mại tự do nội khối sẽ trở thành hình thức thương mại chủ đạo của một giai đoạn “toàn cầu hóa kiểu mới”. Song song với đó, hệ thống chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu vốn tương đối thống nhất trước đây đang dần chuyển dịch sang mô hình tồn tại nhiều chuỗi sản xuất, cung ứng mang tính khu vực, tương đối độc lập.

Nói cách khác, trong bối cảnh trật tự thương mại đa phương đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, cục diện kinh tế thương mại quốc tế biến động sâu sắc, xu hướng khu vực hóa chuỗi cung ứng và sản xuất sẽ ngày càng nổi bật. Việc Mỹ khơi mào xung đột thuế quan chắc chắn mang đến thách thức lớn cho các quốc gia Đông Á, song không thể loại trừ khả năng trong “nguy” có “cơ”.

Thực tế cho thấy, cùng với việc không ngừng tăng cường hợp tác khu vực và xây dựng hội nhập kinh tế, các quốc gia Đông Á có thể sẽ ngày càng đẩy mạnh việc thiết lập các cơ chế hợp tác theo hình thức khu vực với các đối tác ở những khu vực khác trên thế giới. Đây nhiều khả năng sẽ trở thành một trong những con đường thực tiễn của toàn cầu hóa kinh tế kiểu mới trong vòng mười đến hai mươi năm tới./.

Biên dịch: Nguyễn Phượng

Các tác giả:

1 Hứa Lợi Bình là Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu Chiến lược Toàn cầu và Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.

2 Hạng Hạo Vũ làNghiên cứu viên đặc biệt, Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương.

3 Mạnh Nguyệt Minh là Viện trưởng, Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Khoa học xã hội Liêu Ninh.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của các tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
ShareTweetShare
Bài trước

Chính sách phát triển kinh tế biển của Malaysia hiện nay và những gợi mở đối với Việt Nam

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Trung Quốc – một thập kỷ phát triển và một số chỉ dấu chính sách đối với Việt Nam (Phần I)

Sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Trung Quốc – một thập kỷ phát triển và một số chỉ dấu chính sách đối với Việt Nam (Phần I)

04/10/2023
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Nhìn nhận về quan hệ Nga – Triều hiện nay: Vị thế của một tiểu cường sở hữu vũ khí hạt nhân

Nhìn nhận về quan hệ Nga – Triều hiện nay: Vị thế của một tiểu cường sở hữu vũ khí hạt nhân

1
Hợp tác ASEAN+3 trong bối cảnh chiến tranh thương mại 2.0 hiện nay

Hợp tác khu vực Đông Á sẽ đứng vững trước những thử thách cam go như thế nào?

29/08/2025
Chính sách phát triển kinh tế biển của Malaysia hiện nay và những gợi mở đối với Việt Nam

Chính sách phát triển kinh tế biển của Malaysia hiện nay và những gợi mở đối với Việt Nam

28/08/2025
Logic đại chiến lược quân sự của chính quyền Trump

Logic đại chiến lược quân sự của chính quyền Trump

27/08/2025
Ấn Độ trước ngã ba quyền lực: Sức ép từ Mỹ và kỳ vọng ở BRICS

Ấn Độ trước ngã ba quyền lực: Sức ép từ Mỹ và kỳ vọng ở BRICS

26/08/2025
Trump đã thắng trong bàn cờ chiến lược của một trăm năm tiếp theo: Khi Châu Âu cố gắng níu kéo hào quang cuối cùng

Trump đã thắng trong bàn cờ chiến lược của một trăm năm tiếp theo: Khi Châu Âu cố gắng níu kéo hào quang cuối cùng

25/08/2025
Ý nghĩa chính trị của việc Tập Cận Bình xuất hiện tại Tây Tạng trước thềm Hội nghị Hợp tác Thượng Hải (SCO) 2025

Ý nghĩa chính trị của việc Tập Cận Bình xuất hiện tại Tây Tạng trước thềm Hội nghị Hợp tác Thượng Hải (SCO) 2025

24/08/2025
Tranh chấp biên giới Campuchia – Thái Lan: thế lưỡng nan giữa luật pháp quốc tế và chính trị quyền lực ở Đông Nam Á

Tranh chấp biên giới Campuchia – Thái Lan: thế lưỡng nan giữa luật pháp quốc tế và chính trị quyền lực ở Đông Nam Á

22/08/2025
Học thuyết Trump-Vance: Liệu Washington có một học thuyết đối ngoại thực sự không?

Học thuyết Trump-Vance: Liệu Washington có một học thuyết đối ngoại thực sự không?

21/08/2025

Tin Mới

Hợp tác ASEAN+3 trong bối cảnh chiến tranh thương mại 2.0 hiện nay

Hợp tác khu vực Đông Á sẽ đứng vững trước những thử thách cam go như thế nào?

29/08/2025
4
Chính sách phát triển kinh tế biển của Malaysia hiện nay và những gợi mở đối với Việt Nam

Chính sách phát triển kinh tế biển của Malaysia hiện nay và những gợi mở đối với Việt Nam

28/08/2025
67
Logic đại chiến lược quân sự của chính quyền Trump

Logic đại chiến lược quân sự của chính quyền Trump

27/08/2025
108
Ấn Độ trước ngã ba quyền lực: Sức ép từ Mỹ và kỳ vọng ở BRICS

Ấn Độ trước ngã ba quyền lực: Sức ép từ Mỹ và kỳ vọng ở BRICS

26/08/2025
110

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Bầu cử tổng thống mỹ
  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.