Tác động của sự vận động quan hệ nước lớn đối với cục diện chính trị – an ninh thế giới và khu vực
Nếu nhìn một cách trực diện và cụ thể hơn, sự vận động và điều chỉnh đồng thời trong quan hệ giữa các nước lớn đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc và Nga không chỉ dừng lại ở những khái niệm khái quát như cạnh tranh cấu trúc hay phân mảnh trật tự, mà đã và đang biểu hiện thành những chuyển động địa chính trị rõ ràng trên toàn bộ không gian Á – Âu, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi.[1] Điểm cốt lõi cần nhấn mạnh là các biến động hiện nay không phải là tập hợp ngẫu nhiên của những khủng hoảng riêng lẻ, mà là hệ quả trực tiếp của sự thay đổi trong cách các cường quốc nhìn nhận lợi ích, xác định đối thủ, phân bổ nguồn lực và chấp nhận rủi ro chiến lược. Khi nền tảng nhận thức chiến lược thay đổi, cấu trúc quyền lực dịch chuyển, khi cấu trúc quyền lực dịch chuyển, luật chơi, thể chế và hành vi của các chủ thể khác buộc phải điều chỉnh theo.
Tác động nổi bật nhất là sự gia tăng cạnh tranh chiến lược đi kèm với suy giảm lòng tin chiến lược mang tính hệ thống, tác động trực tiếp tới cấu trúc an ninh và chính trị của từng khu vực.
Một, tại Châu Âu, trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine, vai trò chiến lược và địa chính trị của châu Âu đã chuyển từ trạng thái hậu lịch sử sang một giai đoạn cạnh tranh chiến lược sâu sắc và kéo dài. Cuộc chiến tranh này không chỉ là cuộc xung đột lãnh thổ mà còn phản ánh sự đổ vỡ kiến trúc an ninh hậu Chiến tranh Lạnh, buộc NATO và EU phải tái cấu trúc toàn bộ cơ chế phòng thủ và hợp tác quốc phòng. Theo các báo cáo chiến lược, NATO đã tăng lực lượng phản ứng nhanh lên tới 300.000 quân sẵn sàng chiến đấu và số thành viên cam kết đạt chi tiêu quốc phòng tối thiểu 2 % GDP tăng từ 7 lên 19 thành viên trong vòng vài năm, cho thấy châu Âu đánh giá lại vai trò an ninh tập thể sau nhiều thập kỷ phụ thuộc vào Mỹ.[2] Song song với đó, EU tái định hình chiến lược năng lượng, cụ thể là thông qua kế hoạch REPowerEU nhằm giảm phụ thuộc vào khí đốt Nga, tăng cường nguồn năng lượng tái tạo, và cải thiện tính bền vững của hệ thống năng lượng châu lục một bước đi vừa mang tính an ninh năng lượng lẫn địa chính trị khi bị Moscow sử dụng năng lượng làm vũ khí trong xung đột. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh khu vực mà còn làm biến đổi cấu trúc chiến lược toàn cầu, châu Âu đang tăng cường hợp tác quốc phòng nội khối, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, đồng thời duy trì liên minh xuyên Đại Tây Dương với Mỹ trong khi chuẩn bị đối phó với một Nga ngày càng quyết đoán và các thách thức an ninh mới.
Hai, ở Trung Đông, sự điều chỉnh ưu tiên chiến lược của Mỹ, theo đó giảm can dự quân sự trực tiếp ở Trung Đông để tập trung lực lượng vào khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đã tạo ra một khoảng trống quyền lực tương đối trong cấu trúc địa chính trị khu vực, vốn từng được Washington duy trì bằng hiện diện quân sự và chính sách an ninh. Trong bối cảnh này, các quốc gia Trung Đông chủ động hơn trong xây dựng chính sách độc lập, đồng thời gia tăng hiện diện ngoại giao và hợp tác đa phương, trong khi các cường quốc khác như Trung Quốc và Nga mở rộng vai trò thông qua đầu tư kinh tế, hòa giải và liên minh chiến lược dẫn đến sự tái cân bằng quyền lực, các tiến trình bình thường hóa quan hệ và những xoáy xung đột mới phản ánh môi trường chiến lược toàn cầu đang dịch chuyển. Điều này khiến Trung Đông trở thành không gian phản chiếu cạnh tranh nước lớn ở mức độ tinh vi, với sự đan xen giữa ảnh hưởng, trung gian ngoại giao và tự chủ khu vực hơn trước.[3]
Ba, tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc đã trở thành trục chi phối chính khiến các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và nhiều nước Đông Nam Á điều chỉnh căn bản chiến lược an ninh. Nhật Bản đã liên tiếp tăng chi tiêu quốc phòng, với ngân sách kỷ lục hơn ¥9 nghìn tỷ, tương đương xấp xỉ 58 tỷ đô la Mỹ và đang theo đuổi mục tiêu đạt 2% GDP cho quốc phòng trong vòng vài năm tới, nhằm gia tăng khả năng răn đe trước các mối đe dọa từ Trung Quốc, đặc biệt quanh eo biển Đài Loan và khu vực biển Hoa Đông.[4] Hàn Quốc cũng cam kết tăng cường năng lực quân sự và tham gia chặt chẽ hơn vào hợp tác an ninh đa phương với Mỹ và các đối tác, đồng thời chi tiêu quốc phòng của nước này đã tăng mạnh theo xu hướng hiện đại hóa lực lượng, với chi tiêu hơn 47,6 tỷ đô trong 2024, rơi khoảng 2,6% GDP để đối phó cả mối đe dọa từ Triều Tiên và diễn biến chiến lược trong khu vực.[5] Bối cảnh này diễn ra trong một khu vực mà tự do hàng hải và an ninh biển là ưu tiên chiến lược, các cuộc tập trận chung giữa Mỹ với Nhật, Hàn, Australia và Philippines đã tăng về tần suất, phản ánh quan ngại chung về tuyên bố chủ quyền mở rộng của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan.
Bốn, ở Mỹ Latinh, cạnh tranh ảnh hưởng thể hiện qua sự đan xen giữa trừng phạt, can dự chính trị và đầu tư hạ tầng. Các khủng hoảng kinh tế – chính trị tại một số quốc gia không chỉ mang tính nội sinh, mà còn gắn với tính toán địa chiến lược rộng hơn. Sự kiện Mỹ tiến hành chiến dịch quân sự nhắm vào Venezuela và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro, cùng với việc Washington siết chặt các biện pháp trừng phạt và ngăn chặn viện trợ dầu từ Venezuela đối với đồng minh khu vực như Cuba,[6] là biểu hiện rõ rệt của việc một cường quốc sử dụng sức mạnh quân sự – kinh tế và các công cụ chính sách đối ngoại để chi phối cục diện chính trị không chỉ trong khu vực Mỹ Latinh mà còn trên phạm vi quốc tế. Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực ngày càng đa dạng hóa đối tác, tìm kiếm không gian tự chủ trong bối cảnh môi trường quốc tế phân cực.
Năm, tại châu Phi, sự hiện diện song song của nhiều đối tác lớn trong lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, an ninh và khai khoáng phản ánh rõ xu thế cạnh tranh ảnh hưởng. Một số biến động chính trị và đảo chính tại khu vực Sahel cũng diễn ra trong bối cảnh tái định vị quan hệ với các đối tác truyền thống và tìm kiếm cấu trúc liên kết mới.
Sáu, tại Đông Nam Á, nhiều quốc gia vừa tìm cách duy trì quan hệ kinh tế sâu rộng với Trung Quốc, vừa củng cố hợp tác an ninh với Mỹ và các đối tác khác. Chiến lược ngoại giao và an ninh của các cường quốc đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ đã và đang định hình lại cục diện chính trị – an ninh khu vực theo cách sâu rộng và đa chiều. Trung Quốc là đối tác kinh tế hàng đầu của ASEAN, với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 771 tỷ USD trong năm gần nhất, phản ánh mức độ gắn kết kinh tế sâu rộng giữa Bắc Kinh và khu vực này.[7] Song song với đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng chủ động củng cố quan hệ an ninh và chính sách đối tác chiến lược với Washington và các đồng minh của Mỹ nhằm đảm bảo cân bằng quyền lực. Khảo sát của ISEAS Yusof Ishak Institute cho thấy khi được hỏi nếu buộc phải lựa chọn giữa hai siêu cường, 52,3% các nước ASEAN ưu tiên liên kết với Mỹ hơn Trung Quốc, phản ánh tầm quan trọng của quan hệ an ninh với Washington trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông và an ninh khu vực.[8] Trong thực tế, các nước Đông Nam Á triển khai chiến lược linh hoạt khi vừa duy trì quan hệ kinh tế sâu với Trung Quốc, vừa gia tăng hợp tác an ninh đa phương với Mỹ, Nhật Bản, Australia và các đối tác khác thông qua các diễn đàn như ADMM Plus hay các cuộc tập trận chung, nhằm tránh phụ thuộc hoàn toàn vào một nước lớn duy nhất điều này phản ánh một lằn ranh tinh vi giữa hợp tác và cạnh tranh ảnh hưởng.[9] Điều này có tác động trực tiếp tới bối cảnh an ninh khu vực khi các tranh chấp biển đảo ở Biển Đông vẫn tiếp diễn, buộc các nước như Philippines phải kêu gọi hợp tác an ninh với Mỹ và các đối tác để tự bảo vệ chủ quyền, trong khi vẫn tìm kiếm đối thoại kinh tế với Trung Quốc.
Điểm chung nổi bật của toàn bộ bức tranh này là xung đột và khủng hoảng gia tăng về mật độ, nhưng vẫn được duy trì dưới ngưỡng đối đầu trực tiếp giữa các cường quốc. Các nước lớn cạnh tranh thông qua ủy nhiệm, trừng phạt kinh tế, kiểm soát công nghệ, chiến tranh thông tin và điều chỉnh liên minh, thay vì đối đầu quân sự toàn diện. Điều đó tạo nên một trạng thái bất ổn nhưng lại có kiểm soát, hệ thống không sụp đổ, nhưng luôn ở trong trạng thái căng thẳng tiềm ẩn. Mỗi điều chỉnh trong quan hệ Mỹ – Trung – Nga đều tạo ra hiệu ứng dây chuyền xuyên khu vực, mỗi điểm nóng khu vực lại phản chiếu logic cạnh tranh toàn cầu.
Dự báo xu hướng thời gian tới
Quan hệ nước lớn nhiều khả năng sẽ tiếp tục điều chỉnh theo hướng cạnh tranh dài hạn, khó đảo ngược.
Ngay trong trước mắt, môi trường chính trị – an ninh quốc tế nhiều khả năng không quay trở lại trạng thái hậu Chiến tranh Lạnh dựa trên giả định về hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau làm giảm xung đột, mà sẽ tiếp tục vận động theo quỹ đạo cạnh tranh chiến lược kéo dài giữa các nước lớn. Điều này xuất phát từ những thay đổi có tính cấu trúc trong phân bổ quyền lực toàn cầu, trong nhận thức chiến lược và trong nội tại chính trị – kinh tế của từng cường quốc. Cạnh tranh hiện nay không còn là lựa chọn chính sách ngắn hạn, mà đã trở thành định hướng chiến lược được thể chế hóa trong các văn kiện an ninh, trong điều chỉnh chuỗi cung ứng, trong chính sách công nghệ và quốc phòng. Khi cạnh tranh đã ăn sâu vào cấu trúc chính sách và được củng cố bởi đồng thuận chính trị trong nước, khả năng đảo ngược toàn diện là rất thấp.
Một, về quan hệ Mỹ – Trung sẽ tiếp tục duy trì trạng thái cạnh tranh dài hạn, với biên độ dao động nhưng không thay đổi bản chất. Trong những năm qua, cạnh tranh đã chuyển từ lĩnh vực thương mại sang công nghệ lõi, chuỗi cung ứng chiến lược, an ninh biển và ảnh hưởng thể chế. Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu bán dẫn, hạn chế đầu tư vào công nghệ nhạy cảm, cùng với nỗ lực thúc đẩy tự chủ công nghệ từ phía Trung Quốc cho thấy hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang từng bước giảm phụ thuộc chiến lược vào nhau. Ngay cả khi hai bên duy trì đối thoại cấp cao và kiểm soát khủng hoảng, xu thế tách rời có chọn lọc và tái cấu trúc chuỗi giá trị theo logic địa chính trị vẫn sẽ tiếp diễn. Điều này đồng nghĩa với việc cạnh tranh không chỉ tồn tại ở cấp độ song phương, mà lan tỏa ra toàn hệ thống, buộc các nước thứ ba phải điều chỉnh chính sách kinh tế – an ninh theo hướng linh hoạt và phòng ngừa rủi ro nhiều hơn.
Hai, về quan hệ Mỹ – Nga và Nga – phương Tây khó có khả năng sớm phục hồi về trạng thái đối thoại cấu trúc như trước. Xung đột tại Ukraine đã tạo ra sự đứt gãy sâu sắc trong cấu trúc an ninh châu Âu, làm suy yếu hoặc đóng băng nhiều cơ chế kiểm soát vũ khí và xây dựng lòng tin hình thành sau Chiến tranh Lạnh. Ngay cả khi cường độ xung đột có thể thay đổi theo diễn biến thực địa và thỏa thuận tạm thời, sự nghi kỵ chiến lược giữa Nga và phương Tây đã ở mức cao và mang tính dài hạn. Điều này đồng nghĩa với việc châu Âu sẽ tiếp tục duy trì mức độ quân sự hóa và răn đe cao hơn so với giai đoạn trước năm 2014, kéo theo gia tăng chi tiêu quốc phòng, củng cố NATO và mở rộng hợp tác an ninh nội khối. Sự điều chỉnh này sẽ tiếp tục tác động lan tỏa tới cấu trúc năng lượng, thương mại và định hướng chiến lược của Liên minh châu Âu trong nhiều năm tới.
Ba, quan hệ Trung – Nga và các liên kết linh hoạt khác giữa các cường quốc sẽ tiếp tục mang tính thực dụng, không hình thành một khối liên minh cứng nhắc nhưng đủ để tạo thế cân bằng tương đối trước sức ép từ phương Tây. Hai bên có lợi ích chung trong việc thúc đẩy trật tự quốc tế đa trung tâm hơn, giảm phụ thuộc vào các thiết chế do phương Tây chi phối, song đồng thời vẫn duy trì không gian điều chỉnh riêng để bảo vệ lợi ích quốc gia. Kiểu liên kết không ràng buộc nhưng cùng hướng này sẽ góp phần làm hệ thống quốc tế vận hành theo logic mạng lưới chồng chéo, thay vì phân cực rạch ròi như thời Chiến tranh Lạnh.
Xu thế hiện nay không chỉ tiếp diễn mà còn có khả năng được đẩy nhanh và phức tạp hóa bởi ba động lực bổ sung:
Thứ nhất, tiến bộ công nghệ, đặc biệt trong trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử và vũ khí siêu vượt âm, làm gia tăng tốc độ và mức độ khó dự báo của cạnh tranh. Khi công nghệ trở thành nền tảng của cả sức mạnh kinh tế và quân sự, cuộc đua giành ưu thế công nghệ sẽ có xu hướng quyết liệt hơn, kéo theo nguy cơ tính toán sai lầm trong môi trường thiếu chuẩn mực chung.
Thứ hai, áp lực nội bộ trong từng quốc gia từ cạnh tranh chính trị, yêu cầu tăng trưởng kinh tế đến bảo đảm việc làm có thể thúc đẩy các chính phủ theo đuổi chính sách cứng rắn hơn để củng cố vị thế trong nước.
Thứ ba, sự gia tăng vai trò của các điểm nóng khu vực như eo biển Đài Loan, Biển Đông, bán đảo Triều Tiên, Trung Đông, nơi chỉ một sự cố nhỏ cũng có thể bị thổi phồng trong bối cảnh thiếu lòng tin chiến lược.
Tuy nhiên, dù cạnh tranh gia tăng và phức tạp hóa, cục diện thế giới nhiều khả năng vẫn duy trì trạng thái có kiểm soát. Các nước lớn nhận thức rõ chi phí của một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp, đặc biệt trong bối cảnh răn đe hạt nhân và phụ thuộc kinh tế đan xen. Do đó, cạnh tranh sẽ chủ yếu diễn ra dưới ngưỡng chiến tranh toàn diện: thông qua trừng phạt kinh tế, kiểm soát công nghệ, chiến tranh thông tin, cạnh tranh tiêu chuẩn và ảnh hưởng tại các khu vực thứ ba. Xung đột cục bộ có thể tiếp tục nổ ra hoặc kéo dài, song các bên sẽ cố gắng duy trì các vùng an toàn tối thiểu nhằm tránh leo thang vượt tầm kiểm soát.
Ở cấp độ khu vực, xu hướng này sẽ thể hiện qua ba đặc điểm: [1] Gia tăng liên kết an ninh theo nhóm nhỏ và linh hoạt, thay vì dựa hoàn toàn vào các cơ chế toàn cầu rộng lớn. [2] Các nước vừa và nhỏ tiếp tục theo đuổi chiến lược đa dạng hóa, tránh bị ràng buộc tuyệt đối vào một trục quyền lực duy nhất. [3] Các cơ chế khu vực như ASEAN, Liên minh châu Âu, Liên minh châu Phi sẽ đứng trước sức ép phải thích ứng nhanh hơn, nếu không muốn bị đẩy ra bên lề trong cạnh tranh giữa các cường quốc.
Bởi lẽ trong bối cảnh hiện nay, khi các thiết chế toàn cầu bộc lộ hạn chế về hiệu quả điều phối và ngày càng chịu tác động từ cạnh tranh nước lớn, xu thế khu vực hóa và liên kết tiểu đa phương nổi lên như một lựa chọn chiến lược của nhiều quốc gia. Các nước có xu hướng tăng cường liên kết trong phạm vi khu vực hoặc theo nhóm lợi ích tương đồng nhằm củng cố năng lực tự vệ và giảm thiểu rủi ro từ biến động hệ thống. Đối với các quốc gia vừa và nhỏ, đây không chỉ là giải pháp tình thế mà là cách thức chủ động tạo không gian an toàn, đa dạng hóa quan hệ và tránh bị cuốn vào thế đối đầu cứng giữa các cường quốc. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, phản ánh sự điều chỉnh linh hoạt của các chủ thể trước một trật tự quốc tế ngày càng cạnh tranh và thiếu ổn định.
Tác động đối với Việt Nam và một số khuyến nghị
Khi cạnh tranh chiến lược trở thành trạng thái bình thường, khi lòng tin chiến lược suy giảm và các chuẩn tắc toàn cầu bị tái định nghĩa, thì mọi quốc gia đặc biệt là những quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng và độ mở cao đều bị cuốn vào quỹ đạo tác động của quá trình đó. Việt Nam không đứng ngoài cấu trúc vận động ấy, mà nằm ngay trong tâm điểm giao thoa của nó.
Cần nhìn nhận rằng môi trường chiến lược xung quanh Việt Nam đang thay đổi. Ở tầng toàn cầu, cạnh tranh Mỹ – Trung và đối đầu Mỹ – Nga làm gia tăng phân mảnh hệ thống, kéo theo sự điều chỉnh chuỗi cung ứng, chuẩn mực công nghệ, cấu trúc tài chính và năng lượng. Ở tầng khu vực, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trở thành không gian tập trung cạnh tranh chiến lược, nơi các liên minh, đối tác và sáng kiến mới chồng lấn lên cấu trúc khu vực truyền thống. Ở tầng song phương, các nước lớn đều gia tăng tiếp cận và thiết lập khuôn khổ quan hệ sâu rộng hơn với các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ba tầng nấc ấy tương tác với nhau, tạo thành một trường lực phức hợp mà Việt Nam vừa là đối tượng chịu tác động, vừa là chủ thể có khả năng định hình ở mức độ nhất định.
Xét một cách cụ thể, các tác động này nổi bật ở hai yếu tố lớn sau:
Thứ nhất, về mặt địa chiến lược, Việt Nam nằm ở vị trí cửa ngõ của Biển Đông, nơi giao cắt các tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới. Trong bối cảnh Biển Đông trở thành một trong những không gian cạnh tranh nhạy cảm giữa các nước lớn, mọi biến động tại đây đều mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi khu vực.[10] Điều này khiến môi trường an ninh của Việt Nam gắn chặt với tương quan quyền lực giữa các cường quốc. Khi cán cân quyền lực điều chỉnh, mức độ răn đe, hiện diện quân sự và hoạt động tự do hàng hải thay đổi, thì môi trường chiến lược xung quanh Việt Nam cũng thay đổi theo. Do đó, tác động không còn là gián tiếp, mà mang tính cấu trúc. Ở chiều kinh tế, độ mở của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nhiều lần vượt GDP, tổng xuất nhập khẩu/GDP của Việt Nam lên tới khoảng 164,8% năm 2023, cao hơn đáng kể so với mức bình quân thế giới là khoảng 94,7% thể hiện sự gắn chặt với thương mại quốc tế,[11] khiến nền kinh tế phụ thuộc sâu vào ổn định của hệ thống thương mại toàn cầu. Khi các nước lớn thúc đẩy chính sách giảm phụ thuộc, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, kiểm soát công nghệ và bảo hộ có chọn lọc, Việt Nam vừa đứng trước nguy cơ đứt gãy liên kết, vừa có cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị mới. Sự vận động của quan hệ nước lớn vì thế không chỉ tác động đến an ninh, mà còn trực tiếp định hình không gian phát triển của Việt Nam trong trung và dài hạn.
Thứ hai, sự chuyển dịch cấu trúc quốc tế hiện nay đặt ra thách thức rất lớn về mô hình ứng xử chiến lược của các quốc gia tầm trung. Trong một hệ thống phân mảnh và cạnh tranh kéo dài, không gian đứng ngoài ngày càng thu hẹp, song không gian linh hoạt đa phương lại mở rộng đối với những quốc gia có bản lĩnh chiến lược và nội lực đủ mạnh. Việt Nam, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, có điều kiện để không bị cuốn vào logic đối đầu cứng nhắc. Tuy nhiên, khả năng đó không tự nhiên tồn tại, nó phụ thuộc vào năng lực dự báo, khả năng cân bằng lợi ích và mức độ tự chủ nội tại. ác động của cạnh tranh nước lớn đối với Việt Nam không chỉ nằm ở những sự kiện cụ thể, mà ở sự thay đổi của môi trường chuẩn tắc và hành vi quốc tế. Khi luật chơi được điều chỉnh, khi các chuẩn mực về thương mại, công nghệ, an ninh mạng, năng lượng xanh được tái thiết kế theo lợi ích của các cường quốc, Việt Nam buộc phải thích ứng để không bị gạt ra bên lề. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ về chính sách đối ngoại, mà cả cải cách thể chế, nâng cao năng lực công nghệ, củng cố nền tảng kinh tế và tăng cường sức mạnh quốc phòng.
Do đó, vấn đề không phải là sự vận động của quan hệ nước lớn có tác động đến Việt Nam hay không, mà là mức độ và cách thức Việt Nam chuyển hóa tác động đó thành lợi thế. Trong môi trường bất ổn có kiểm soát, cơ hội và thách thức luôn song hành, khác biệt nằm ở khả năng nhận diện sớm xu thế và chủ động điều chỉnh chiến lược. Chính trong không gian chuyển tiếp của trật tự quốc tế, những quốc gia có tầm nhìn và bản lĩnh sẽ mở rộng được không gian phát triển của mình.
Từ nền tảng nhận thức ấy, có thể thấy rằng sự vận động hiện nay, dù phức tạp và tiềm ẩn rủi ro, đồng thời cũng mở ra những cơ hội chiến lược quan trọng cho Việt Nam.
Từ góc độ lợi ích quốc gia, chính sự dịch chuyển trong quan hệ nước lớn đang mở ra những khoảng trống và không gian chiến lược mới cho Việt Nam.
Một, cơ hội mở rộng không gian chiến lược và nâng cao vị thế quốc tế. Sự điều chỉnh quan hệ giữa các nước lớn tạo ra khoảng trống và nhu cầu hợp tác mới tại các khu vực then chốt, trong đó Đông Nam Á nổi lên như một không gian cạnh tranh và hợp tác đan xen. Trong cấu trúc này, Việt Nam có điều kiện mở rộng không gian chiến lược theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Về mặt đối ngoại, các nước lớn đều có lợi ích duy trì quan hệ ổn định với Việt Nam. Mỹ coi Việt Nam là một đối tác quan trọng trong cấu trúc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Trung Quốc xem Việt Nam là láng giềng có ý nghĩa địa chính trị trực tiếp, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, EU đều đẩy mạnh hiện diện tại khu vực. Minh chứng rõ nét là việc Việt Nam liên tiếp nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn trong thời gian gần đây.[12] Điều này cho thấy Việt Nam không chọn phe, mà ngược lại, được các bên coi là một chủ thể có giá trị chiến lược độc lập. Môi trường cạnh tranh buộc các nước lớn phải tăng cường đầu tư, chuyển giao công nghệ và thiết lập chuỗi cung ứng đa dạng hóa. Việt Nam hưởng lợi trực tiếp từ xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng. Dòng vốn FDI chất lượng cao trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, năng lượng tái tạo, công nghiệp phụ trợ gia tăng mạnh những năm gần đây là bằng chứng cụ thể. Việc các tập đoàn công nghệ lớn mở rộng đầu tư tại Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Cạnh tranh nước lớn càng làm gia tăng vai trò của các quốc gia tầm trung có khả năng đóng vai trò cầu nối. Việt Nam, với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa đa dạng hóa, có điều kiện phát huy vai trò trung gian, thúc đẩy đối thoại và tham gia tích cực vào các cơ chế khu vực như ASEAN, APEC, RCEP. Khi hệ thống toàn cầu phân mảnh, các nước có khả năng duy trì quan hệ cân bằng sẽ trở nên có giá trị chiến lược cao hơn.
Cơ hội lớn nhất không chỉ nằm ở lợi ích kinh tế cụ thể, mà ở việc Việt Nam có thể từng bước nâng cao vị thế quốc tế, chuyển từ tham gia sang định hình ở một số lĩnh vực nhất định nếu tận dụng đúng thời cơ.
Hai, tranh thủ hợp tác để nâng cao năng lực nội sinh và tự chủ chiến lược. Cạnh tranh nước lớn không chỉ tạo ra khoảng trống địa chính trị, mà còn thúc đẩy các chương trình hợp tác mới về công nghệ, an ninh, năng lượng và chuyển đổi số. Nếu được khai thác hiệu quả, đây là cơ hội để Việt Nam nâng cao năng lực nội sinh.
Trong lĩnh vực công nghệ cao, các nước lớn đều có nhu cầu xây dựng đối tác tin cậy trong chuỗi cung ứng bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số. Việt Nam có lợi thế về ổn định chính trị, nguồn nhân lực trẻ và vị trí địa lý thuận lợi. Việc nhiều chương trình hợp tác đào tạo kỹ sư bán dẫn, chuyển giao công nghệ số được triển khai là minh chứng cho xu thế này.[13] Nếu tận dụng tốt, Việt Nam không chỉ là công xưởng lắp ráp, mà có thể tham gia sâu hơn vào khâu thiết kế và nghiên cứu. Cạnh tranh năng lượng và an ninh chuỗi cung ứng thúc đẩy các sáng kiến hợp tác về năng lượng sạch và hạ tầng chiến lược. Các cam kết hỗ trợ chuyển đổi năng lượng công bằng cho thấy Việt Nam có thể tranh thủ nguồn lực quốc tế để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững hơn. Về an ninh – quốc phòng, hợp tác đa dạng với nhiều đối tác giúp Việt Nam nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền mà không phụ thuộc tuyệt đối vào một nguồn duy nhất. Chính sách đa dạng hóa đối tác quốc phòng cho phép Việt Nam tăng cường huấn luyện, trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ quốc phòng hiện đại.[14]
Do đó, cơ hội ở đây không đơn thuần là nhận viện trợ hay đầu tư, mà là nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, yếu tố quyết định trong môi trường bất ổn kéo dài.
Tuy nhiên, trong quan hệ quốc tế, cơ hội và rủi ro luôn tồn tại song hành như hai mặt của một cấu trúc quyền lực đang vận động. Không gian chiến lược được mở rộng đồng thời cũng kéo theo mức độ phơi lộ cao hơn trước cạnh tranh và sức ép từ các trung tâm quyền lực. Chính vì vậy, cạnh tranh nước lớn cũng đặt Việt Nam trước sức ép cân bằng ngày càng phức tạp.
Nguy cơ thu hẹp không gian tự chủ chiến lược trong cạnh tranh địa công nghệ và an ninh hóa khu vực
Nếu cơ hội của Việt Nam nằm ở việc mở rộng quan hệ và đa dạng hóa đối tác trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, thì thách thức căn bản nhất lại chính là nguy cơ không gian tự chủ chiến lược bị thu hẹp dần theo logic cấu trúc. Đây không phải là sức ép mang tính tức thời, mà là xu hướng dài hạn gắn với việc cạnh tranh nước lớn chuyển trọng tâm sang công nghệ lõi, chuỗi cung ứng chiến lược và không gian địa an ninh then chốt như Biển Đông. Cạnh tranh Mỹ – Trung trong lĩnh vực công nghệ cao đang tạo ra quá trình phân tách hệ sinh thái ở cấp độ sâu. Từ năm 2019, Mỹ mở rộng danh sách thực thể hạn chế đối với doanh nghiệp Trung thái, tháng 10/2022 và 10/2023, Washington ban hành các gói kiểm soát xuất khẩu bán dẫn tiên tiến và chip AI, năm 2024 tiếp tục siết quy định về đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực nhạy cảm như bán dẫn, lượng tử và trí tuệ nhân tạo.[15] Ở chiều ngược lại, Trung Quốc kiểm soát xuất khẩu gallium, germanium và một số vật liệu chiến lược phục vụ sản xuất pin, bán dẫn.[16] EU triển khai EU Chips Act trị giá hơn 40 tỷ euro nhằm tăng năng lực sản xuất nội khối.[17] Những động thái này cho thấy chuỗi cung ứng công nghệ cao đã bị an ninh hóa rõ rệt. Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất thế giới. Xuất khẩu sang Mỹ vượt 110 tỷ USD mỗi năm,[18] trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và nguồn cung nguyên phụ liệu đầu vào chủ yếu. Cấu trúc hai đầu này khiến Việt Nam vừa phụ thuộc thị trường phương Tây ở đầu ra, vừa gắn chặt chuỗi cung ứng khu vực do Trung Quốc giữ vai trò trung tâm ở đầu vào. Khi hai hệ sinh thái công nghệ – thương mại có xu hướng tách rời, không gian trung lập chiến lược của Việt Nam không còn là trạng thái tự nhiên mà trở thành kết quả của những tính toán chính sách tinh vi.
Bên cạnh công nghệ, Biển Đông tiếp tục là không gian cạnh tranh chiến lược trực tiếp. Theo nhiều ước tính quốc tế, khoảng 1/3 thương mại hàng hải toàn cầu – trị giá 3.000 – 5.000 tỷ USD/năm đi qua khu vực này.[19] Những năm gần đây, tần suất hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ gia tăng, Trung Quốc duy trì và mở rộng hiện diện chấp pháp, dân quân biển, các nước như Nhật Bản, Australia, Anh, Pháp tăng cường tuần tra và tập trận. Mật độ hiện diện quân sự cao làm tăng nguy cơ va chạm ngoài ý muốn. Với Việt Nam, đây là thách thức kép để vừa bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền theo UNCLOS 1982, vừa duy trì môi trường hòa bình để bảo đảm tăng trưởng và thu hút FDI, mỗi năm đạt khoảng 36 – 39 tỷ USD giai đoạn gần đây.[20] Áp lực nhận diện lập trường gia tăng trong môi trường phân cực. Các cuộc bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc liên quan xung đột Ukraine, các sáng kiến kinh tế – an ninh mới như IPEF, các tiêu chuẩn công nghệ số hay cơ chế kiểm soát đầu tư đều có thể bị diễn giải dưới lăng kính cạnh tranh nước lớn. Trong bối cảnh truyền thông toàn cầu hóa và phân cực, chi phí chính trị của mỗi quyết định đối ngoại tăng lên đáng kể.
Khi công nghệ, chuỗi cung ứng và không gian biển bị an ninh hóa, không gian tự chủ chiến lược của Việt Nam bị thu hẹp dần qua các ràng buộc kỹ thuật, tiêu chuẩn và sức ép địa chính trị. Đây là thách thức dài hạn gắn với năng lực nội tại của nền kinh tế và bản lĩnh điều hành chính sách.
Quan trọng hơn, phân mảnh hệ thống không chỉ tạo ra rủi ro kinh tế, mà còn làm gia tăng áp lực chính trị – ngoại giao. Trong các vấn đề nhạy cảm như xung đột khu vực, trừng phạt, sáng kiến an ninh kinh tế mới, các quyết định tham gia, bỏ phiếu hay ký kết có thể bị diễn giải như sự nghiêng về một phía. Khi cạnh tranh Mỹ – Trung gia tăng tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, các sự cố ngoài ý muốn trên biển hoặc trong không gian mạng có thể nhanh chóng bị chính trị hóa. Việt Nam nằm ở trung tâm tuyến hàng hải huyết mạch, nơi mỗi năm có hàng nghìn tỷ USD thương mại đi qua Biển Đông không chỉ chịu tác động kinh tế trực tiếp nếu xảy ra gián đoạn, mà còn phải đối diện với yêu cầu xác định lập trường trong môi trường dư luận quốc tế phân cực. Đại hội XIV xác lập mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm cho giai đoạn 2026 – 2030. Đây là mục tiêu đầy khát vọng, hoàn toàn khả thi, tuy nhiên, đòi hỏi chúng ta phải khai thác sâu dư địa tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và cải cách thể chế một cách thực chất.[21]
Trong bối cảnh đó, thách thức không chỉ nằm ở việc tránh bị cuốn vào xung đột, mà sâu xa hơn là duy trì tính nhất quán của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong khi vẫn bảo đảm tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này đòi hỏi nâng cao năng lực dự báo chiến lược, đa dạng hóa thị trường đối tác, củng cố dự trữ năng lượng và tài chính, cũng như tăng cường khả năng chống chịu của doanh nghiệp trước biến động tiêu chuẩn và pháp lý quốc tế.
Trên tinh thần triển khai và cụ thể hóa các nghị quyết, đường lối đối ngoại được xác định tại Đại hội Đảng lần thứ XIV. Việt Nam cần lưu ý hai chiến lược cụ thể:
Thứ nhất, luôn chủ động định vị chiến lược trong môi trường cạnh tranh nước lớn ngày càng mang tính cấu trúc. Xu hướng nổi bật của môi trường chính trị – an ninh quốc tế hiện nay là sự chuyển dịch từ trạng thái hợp tác phụ thuộc lẫn nhau sang cạnh tranh chiến lược dài hạn giữa các trung tâm quyền lực. Môi trường quốc tế không còn là bối cảnh bên ngoài mà trở thành yếu tố tác động trực tiếp đến an ninh và phát triển của từng quốc gia. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần chuyển sang tư duy định vị chủ động trong cấu trúc đang tái định hình. Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.[22] Thay vì chỉ phản ứng trước sức ép từ cạnh tranh nước lớn, Việt Nam cần xác lập rõ lợi ích cốt lõi và không gian chiến lược của mình trong các tiến trình tái cấu trúc khu vực và toàn cầu. Điều này đặc biệt quan trọng khi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đang trở thành tâm điểm của điều chỉnh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc, còn Đông Nam Á là khu vực chịu tác động trực tiếp. Một mặt, Việt Nam cần tiếp tục kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ và không liên minh quân sự; mặt khác, phải tận dụng sự đan xen lợi ích giữa các nước lớn để mở rộng dư địa chính sách. Cần nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại, chủ động tham gia, có trách nhiệm hơn vào việc giải quyết các vấn đề chung của quốc tế và khu vực.[23] Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa vì vậy không chỉ là phương châm ngoại giao, mà là công cụ tạo thế cân bằng linh hoạt trong môi trường cạnh tranh. Việc mở rộng và nâng cấp quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực khác nhau cần được đặt trong tính toán dài hạn, bảo đảm Việt Nam không bị đặt vào thế lựa chọn nhị nguyên giữa các cực cạnh tranh.
Thứ hai, gắn chặt đối ngoại với nâng cao năng lực nội sinh và hiện đại hóa quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ – kinh tế. Một xu hướng quan trọng khác của môi trường quốc tế hiện nay là sự địa chính trị hóa kinh tế và công nghệ. Bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, năng lượng và chuỗi cung ứng chiến lược đã trở thành công cụ cạnh tranh quyền lực. Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, sàng lọc đầu tư, tái cấu trúc chuỗi cung ứng cho thấy kinh tế không còn thuần túy là lĩnh vực thị trường, mà gắn chặt với an ninh quốc gia.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần xác định rõ rằng hội nhập quốc tế không thể tách rời yêu cầu tăng cường năng lực tự cường. Đối ngoại phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì duy trì vai trò gia công ở tầng thấp. Việc tham gia vào các sáng kiến về bán dẫn, chuyển đổi số, năng lượng xanh hay kinh tế số cần được gắn với chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cải cách thể chế và nâng cao năng lực công nghiệp nội địa. Để thực hiện điều này, cần tăng cường phối hợp liên ngành giữa ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, khoa học – công nghệ và giáo dục. Ngoại giao kinh tế phải được triển khai như một bộ phận của chiến lược phát triển quốc gia, có khả năng dự báo dài hạn các xu thế dịch chuyển vốn và công nghệ. Đồng thời, Việt Nam cần tận dụng cạnh tranh giữa các nước lớn để thu hút đầu tư chất lượng cao, nhưng phải có cơ chế sàng lọc phù hợp nhằm tránh rủi ro phụ thuộc công nghệ hoặc tổn thương trước biến động địa chính trị. Năng lực thể chế, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng dự báo chiến lược sẽ quyết định khả năng “đứng vững” của quốc gia. Khi đối ngoại được đặt trong tổng thể chiến lược hiện đại hóa và tự cường, Việt Nam có thể biến cạnh tranh nước lớn từ yếu tố gây sức ép thành động lực thúc đẩy cải cách và nâng cao vị thế.
Kết luận
Suy cho cùng, xu hướng của môi trường chính trị – an ninh quốc tế dưới tác động của quan hệ nước lớn phản ánh một quy luật cổ điển nhưng luôn tái sinh trong hình thức mới, ở đâu tồn tại phân bố quyền lực không đồng đều, ở đó sẽ xuất hiện sự điều chỉnh trật tự. Các nước lớn không đơn thuần là những chủ thể tham gia hệ thống, họ là những lực cấu trúc định hình nhịp điệu vận động của hệ thống ấy. Khi tương quan quyền lực dịch chuyển, chuẩn tắc bị thử thách; khi lòng tin suy giảm, cơ chế kiềm chế được tái thiết theo cách khác. Cạnh tranh vì thế không phải ngoại lệ của hòa bình, mà là điều kiện nền của một trật tự luôn trong trạng thái chưa hoàn tất. Lịch sử cho thấy, trật tự quốc tế không bao giờ tĩnh tại; nó là sản phẩm của thỏa hiệp tạm thời giữa các trung tâm quyền lực ở mỗi thời điểm. Giai đoạn hiện nay cũng không nằm ngoài logic đó, chỉ khác ở chỗ cạnh tranh đã mở rộng sang những không gian vô hình như công nghệ, dữ liệu, chuỗi cung ứng và nhận thức. Quyền lực không chỉ đo bằng lãnh thổ hay quân sự, mà bằng khả năng thiết lập tiêu chuẩn và định nghĩa luật chơi. Có lẽ trong tương lai gần, thế giới sẽ tiếp tục duy trì trạng thái căng mà không vỡ, bất ổn nhưng có giới hạn, phân mảnh nhưng chưa đứt gãy. Và trong khoảng mờ ấy của lịch sử, điều quyết định không chỉ là ai mạnh hơn, mà là ai kiểm soát được nhịp độ thay đổi của chính mình./.
Hết
Tác giả: Trương Quốc Lượng
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
Trích dẫn tham khảo:
[1] Thái Văn Long & Thái Thanh Phong. (2022). Cạnh tranh địa-chiến lược giữa Mỹ – Trung Quốc – Nga định hình trật tự thế giới mới và những tác động đến Việt Nam. Biên phòng Việt Nam. http://bienphongvietnam.gov.vn/canh-tranh-dia-chien-luoc-giua-my-trung-quoc-nga-dinh-hinh-trat-tu-the-gioi-moi-va-nhung-tac-dong-den-viet-nam.html
[2] Minh Phương. (2023). Xung đột Nga – Ukraine đánh thức “người khổng lồ” châu Âu. Báo Dân trí. https://dantri.com.vn/the-gioi/xung-dot-nga-ukraine-danh-thuc-nguoi-khong-lo-chau-au-20231013214446617.htm
[3] Lâm Phương. (2025). Trật tự chiến lược mới đang hình thành tại khu vực Trung Đông. Tạp chí Quốc phòng toàn dân. https://m.tapchiqptd.vn/vi/quoc-phong-quan-su-nuoc-ngoai/trat-tu-chien-luoc-moi-dang-hinh-thanh-tai-khu-vuc-trung-dong-25187.html
[4] Davidson, H. (2025). Japan’s cabinet approves record defence budget amid escalating China tensions. The Guardian. https://www.theguardian.com/world/2025/dec/26/japan-defence-budget-china
[5] Bhardwaj, A. V. (2025). Asia in flux: The U.S., China and the search for a new equilibrium. Foreign Affairs Forum. https://www.faf.ae/home/2025/5/25/asia-in-flux-the-us-china-and-the-search-for-a-new-equilibrium
[6] Ditrych, O., Ekman, A., Hobhouse, C., Marangio, R., Sidło, K., & Spatafora, G. (2026). Venezuela and the world: Tracking the fallout of the US ousting of Maduro. European Union Institute for Security Studies. https://www.iss.europa.eu/publications/commentary/venezuela-and-world-tracking-fallout-us-ousting-maduro
[7] Reuters. (2025). China and ASEAN, hit by US tariffs, sign upgraded free trade pact. https://www.reuters.com/world/asia-pacific/china-asean-sign-upgraded-free-trade-pact-2025-10-28/
[8] Seah, S., Lin, J., Martinus, M., Fong, K., Pham, T. P. T., & Aridati, I. Z. (2025). The state of Southeast Asia: 2025 survey report (Print ISSN 27375102; Digital ISSN 27375110). ASEAN Studies Centre, ISEAS Yusof Ishak Institute. https://www.iseas.edu.sg/wp-content/uploads/2025/03/The-State-of-SEA-2025-1.pdf
[9] Minh Châu. (2025). Mỹ – Trung – Đông Nam Á tăng cường đối thoại an ninh: Hướng tới cân bằng chiến lược khu vực. Tạp chí Đông Nam Á – ASEAN News. https://tapchidongnama.vn/my-trung-dong-nam-a-tang-cuong-doi-thoai-an-ninh-huong-toi-can-bang-chien-luoc-khu-vuc/
[10] Ratcliffe, R. (2024). Confrontations in South China Sea surge, raising fears a miscalculation could lead to conflict. The Guardian. https://www.theguardian.com/world/article/2024/jul/12/south-china-sea-conflict-philippines-coast-guard
[11] TheGlobalEconomy.com. Vietnam Trade openness: exports plus imports as percent of GDP. https://www.theglobaleconomy.com/Vietnam/trade_openness/
[12] VietnamPlus. (2026). Vietnam’s 15 comprehensive strategic partners. https://en.vietnamplus.vn/vietnams-15-comprehensive-strategic-partners-post337074.vnp
[13] Ninh An. (2024). Việt Nam tăng tốc đào tạo nhân tài cho cuộc đua công nghiệp bán dẫn. Báo Dân trí. https://dantri.com.vn/kinh-doanh/viet-nam-tang-toc-dao-tao-nhan-tai-cho-cuoc-dua-cong-nghiep-ban-dan-20240503132838212.htm
[14] Lê Ngọc Long. (2025). Đối ngoại quốc phòng – mũi tiên phong trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Báo Quân đội Nhân dân. https://www.qdnd.vn/tien-toi-dai-hoi-xiv-cua-dang/doi-ngoai-quoc-phong-mui-tien-phong-trong-su-nghiep-bao-ve-to-quoc-tu-som-tu-xa-847173
[15] VietnamPlus. (2025). Bộ Thương mại Mỹ ban hành quy định mới mở rộng danh sách hạn chế xuất khẩu. https://www.vietnamplus.vn/bo-thuong-mai-my-ban-hanh-quy-dinh-moi-mo-rong-danh-sach-han-che-xuat-khau-post1065979.vnp#google_vignette
[16] Cefai, S. (2025). China suspends export prohibition on superhard materials to US. Fastmarkets. https://www.fastmarkets.com/insights/china-suspends-export-prohibition-on-superhard-materials-us/
[17] Hải Lê. (2022). EU tìm cách tự chủ trong sản xuất chip. Báo Quân đội Nhân dân. https://www.qdnd.vn/quoc-te/doi-song/eu-tim-cach-tu-chu-trong-san-xuat-chip-685828
[18] Báo Đầu tư. (2025). Thương mại Việt – Mỹ vượt 110 tỷ USD. https://baodautu.vn/thuong-mai-viet—my-vuot-110-ty-usd-d159622.html
[19] Martin, N. (2024). How South China Sea tensions threaten global trade. Deutsche Welle. https://www.dw.com/en/south-china-sea-tensions-pose-threat-to-international-trade/a-69926497
[20] An Nhi. (2024). Năm 2024, kỳ vọng đạt mục tiêu thu hút 39–40 tỷ USD vốn FDI. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn/nam-2024-ky-vong-dat-muc-tieu-thu-hut-39-40-ty-usd-von-fdi-30545.html
[21] Báo Chính phủ (2026), Nghị quyết Đại hội XIV: Quyết sách cho khát vọng tăng trưởng hai con số, https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-dai-hoi-xiv-quyet-sach-cho-khat-vong-tang-truong-hai-con-so-102260124180229882.htm
[22] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2026), Đại hội Đảng lần thứ XIV: Nhiều quan điểm chỉ đạo mang tính đột phá về đối ngoại, hội nhập quốc tế, Cổng Thông tin Bộ Ngoại giao Việt Nam, https://mofa.gov.vn/tin-chi-tiet/chi-tiet/dai-hoi-dang-lan-thu-xiv-nhieu-quan-diem-chi-dao-mang-tinh-dot-pha-ve-doi-ngoai-hoi-nhap-quoc-te-58380-1073.html
[23] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2026), Tlđd.





















