Dấu ấn từ lịch sử
Ngày 18 tháng 5 năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Nhiệm vụ của khoa học và kỹ thuật vô cùng quan trọng, vì vậy mọi ngành, mọi người đều phải tham gia vào công tác khoa học – kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất hơn và xây dựng xã hội chủ nghĩa thắng lợi”[1].
Vào giữa những năm 1980, tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam chậm lại, lạm phát gia tăng phi mã, đến năm 1986 đạt mức tối đa[2]. Cùng năm đó, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã ủng hộ cải cách thị trường và khởi xướng một chương trình cải tổ toàn diện, được gọi là “Chính sách đổi mới” – “Đổi Mới”[3]. Chương trình bao gồm việc thúc đẩy công nghệ, thích ứng nhanh chóng với sự thay đổi của các xu hướng công nghệ[4]. Theo chương trình, dự kiến sẽ tận dụng các lợi thế như vị trí địa lý thuận lợi của đất nước, sự hiện diện của tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ.
Hãy xem xét những lợi thế địa lý này.
Thứ nhất, Việt Nam nằm gần các nhà sản xuất sản phẩm công nghệ chính trong khu vực như Singapore, Malaysia và Thái Lan. Do đó, bằng cách chuyển một phần sản xuất sang Việt Nam, việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng công nghệ trở nên thuận tiện.
Thứ hai, vị trí gần gũi với Trung Quốc và Ấn Độ cho phép mở rộng xuất khẩu và thu hút đầu tư từ các công ty đang tìm cách thâm nhập thị trường Trung Quốc và Ấn Độ.
Thứ ba, Việt Nam cũng có trữ lượng lớn kim loại đất hiếm, cần thiết cho việc sản xuất chất bán dẫn, v.v.[5]
Cuối cùng, yếu tố lịch sử cũng rất quan trọng: cơ cấu kinh tế có thể nhanh chóng chuyển hướng sang phát triển công nghệ nhờ việc dung hoà thế mạnh kinh tế của các địa phương sau thống nhất. Nền tảng của kinh tế thị trường đã nhanh chóng được thiết lập. Kết quả là đến giữa những năm 1990, Việt Nam đã cho thấy một trong những tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới (8 – 9,5% mỗi năm), giúp nước này trở thành quốc gia dẫn đầu tăng trưởng trong khu vực vào các năm 1995–1997[6]. Chính sách của nhà nước nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) làm nền tảng cho việc thích ứng công nghệ mới cũng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.
Chính sách phát triển công nghệ của Chính phủ
Quá trình hình thành chính sách công nghệ của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn. Vào những năm 1990, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia được thành lập để điều phối và định hướng chiến lược cho sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước. Đầu những năm 2000, chính sách hỗ trợ các công ty công nghệ bắt đầu được thực hiện. Biện pháp quan trọng nhất là giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 32% xuống 20%[7], tuy nhiên điều này không áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vào những năm 2010, Việt Nam đã đẩy nhanh việc chuyển đổi từ vai trò là trung tâm gia công sang vị thế là một trong những trung tâm đổi mới toàn cầu. Các khu công nghệ cao đã được thành lập để phát triển tinh thần kinh doanh tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Theo thời gian, một nửa số công ty khởi nghiệp của cả nước, 40% vườn ươm doanh nghiệp và 60% quỹ đầu tư mạo hiểm đã tập trung tại đây[8]. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ được tăng cường, họ được tiếp cận vốn vay đơn giản hơn, và các vườn ươm doanh nghiệp và trung tâm khởi nghiệp bắt đầu cung cấp cho họ hỗ trợ thông tin và pháp lý[9].
Thủ tướng Việt Nam Lê Minh Hưng đã gọi nhà nước là bên định hướng và kết nối chính, là người khởi xướng, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, cũng như là “người mua đầu tiên” các sản phẩm công nghệ chiến lược[10]. Tại Việt Nam, nền tảng trao đổi công nghệ đang được phát triển, và dự kiến sẽ tạo ra cơ sở dữ liệu quốc gia về “cung và cầu” công nghệ¹⁹. Điều này cho thấy sự tập trung hóa ngày càng tăng trong quản lý lĩnh vực khoa học và công nghệ của đất nước.
Các biện pháp chính mà chính phủ thực hiện trong lĩnh vực phát triển công nghệ bao gồm:
- Ưu đãi thuế cho các công ty đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, và đơn giản hóa thủ tục hải quan cho họ[11].
- Đồng tài trợ cho các sản xuất thí điểm để chuyển giao kết quả khoa học vào kinh doanh[12].
- Khuyến khích chuyển giao công nghệ bằng cách trợ cấp lãi suất cho các khoản vay được sử dụng cho các hoạt động chuyển giao công nghệ.
- Hỗ trợ có mục tiêu cho các doanh nghiệp nhận công nghệ từ các tổ chức khoa học[13].
Ngoài ra, các tổ chức nghiên cứu nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được chính phủ đề xuất các ưu đãi sau:
- Mức thuế suất ưu đãi 10% (so với mức tiêu chuẩn 20%) trong thời hạn 15 năm[14].
- Khấu trừ cho các chi phí nghiên cứu và phát triển có chứng từ hợp lệ (lên đến 150% chi phí R&D thực tế)[15].
- Các lĩnh vực ưu tiên được nhận ưu đãi bao gồm chip, AI và điện toán đám mây, phát triển phần mềm, Internet vạn vật, big data, blockchain, an ninh mạng.
- Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ[16].
- Đồng thời, các biện pháp hạn chế và kiểm soát đầu tư nước ngoài được thực hiện dựa trên đánh giá lợi ích tiềm năng đối với sự phát triển công nghệ của đất nước[17]. Cần có sự phê duyệt ở cấp chính phủ đối với một số loại hoạt động, ví dụ như các dự án phát triển cơ sở hạ tầng mạng viễn thông.
- Giảm chi phí thuê đất và tiếp tục nghiên cứu các chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ có tầm quan trọng chiến lược[18].
Quy mô hiện tại của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ý nghĩa của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Việt Nam là rất lớn: đến năm 2024, nó đạt 74% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước[19]. Trong giai đoạn 2020–2024, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng lên 20,2 tỷ USD chỉ sau Singapore ở Đông Nam Á[20]. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2025, khối lượng FDI thu hút được khoảng 18,8 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2024[21]. Tăng trưởng mạnh nhất được ghi nhận ở khu vực công nghiệp (điện tử, dệt may, chế tạo máy, hóa chất) – 63,3% tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm, mức tăng vừa phải ở năng lượng, trong khi ở khu vực dịch vụ, ngược lại, có sự giảm nhẹ, ngoại trừ dịch vụ tài chính và công nghệ thông tin. Đầu tư vào khu vực nông nghiệp hầu như không thay đổi[22].
Trong số 82 quốc gia được Việt Nam cấp giấy phép cho các dự án đầu tư trong mười tháng đầu năm 2025, Singapore đóng góp lớn nhất. Vị trí dẫn đầu của Singapore gắn liền với các dự án lớn trong lĩnh vực khu công nghiệp, bất động sản và cơ sở hạ tầng số. Nhà đầu tư quan trọng thứ hai, Hàn Quốc, đầu tư vào phát triển điện tử, chất bán dẫn, chế tạo máy và năng lượng. Nhật Bản và Trung Quốc hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, hậu cần và bất động sản. Kim ngạch thương mại giữa Nga và Việt Nam tính đến cuối năm 2025 đạt 6 tỷ USD, tăng 6% so với năm 2024[23], nhưng con số này chỉ chiếm 0,6% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam (930,05 tỷ USD vào năm 2025)[24].
Mỹ không nằm trong số các nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam theo FDI, tuy nhiên trong những năm gần đây, họ bắt đầu tích cực mở các bộ phận nghiên cứu tại nước này. Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng với Trung Quốc, Mỹ bắt đầu coi Việt Nam là một trong những đối tác thay thế cho hợp tác tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Ví dụ về các công ty công nghệ lớn nước ngoài mở trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam
| Nước xuất xứ công ty | Tên công ty | Ngành
(sản phẩm) |
Năm thành lập trung tâm/bộ phận R&D |
| Nhật Bản | Canon | Máy in, quang học, điện tử | 2001 (Canon Vietnam Co., Ltd. – cơ sở sản xuất có yếu tố R&D) |
| Nhật Bản | Renesas | Chất bán dẫn, vi mạch | 2004 (Renesas Design Viet Nam tại TP.HCM) |
| Nhật Bản | Panasonic | Điện tử gia dụng kỹ thuật số, phần mềm | 2007 (Panasonic R&D Center Vietnam Co., Ltd. tại Hà Nội) |
| Nhật Bản | Toshiba | Điện tử tiêu dùng, điện thoại di động | 2007 (Toshiba Software Development (Vietnam) Co., Ltd. tại Hà Nội) |
| Hàn Quốc | LG | Điện tử gia dụng, linh kiện ô tô, phần mềm | 2016 (Trung tâm R&D tại Hà Nội, chi nhánh tại Hải Phòng và Đà Nẵng năm 2020) |
| Singapore | Grab | Nền tảng CNTT, hậu cần, vận tải, fintech | 2017 (Trung tâm R&D tại TP.HCM) |
| Hàn Quốc | Samsung | Chất bán dẫn, điện tử, điện thoại thông minh | 2022 (Trung tâm R&D lớn nhất tại Đông Nam Á, tại Hà Nội) |
| Mỹ | Nvidia | AI, chất bán dẫn, trung tâm dữ liệu | 2024 (Trung tâm R&D AI và Trung tâm dữ liệu AI tại Hà Nội) |
| Mỹ | Qualcomm | Chất bán dẫn, 5G, AI | 2025 (Trung tâm R&D xuất sắc tại Hà Nội) |
| Mỹ | Marvell Technology | Chất bán dẫn, chip hạ tầng | 2025 (Marvell Vietnam – Phòng thí nghiệm R&D) |
| Mỹ | AMD | Chất bán dẫn, AI | 2025 (Trung tâm R&D tại TP.HCM) |
| Nhật Bản | Yamaha Robotics | Thiết bị bán dẫn, phần mềm | 2025 (Trung tâm R&D phần mềm tại TP.HCM) |
| Pháp | Dassault Systèmes | Phần mềm mô hình 3D, CAD | 2026 (Trung tâm R&D hợp tác với Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Quốc gia Việt Nam) |
Những vấn đề trong việc phát triển các giải pháp tiên tiến đặc thù
Đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng trưởng GDP của Việt Nam, tuy nhiên việc chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý nước ngoài cho các nhà sản xuất trong nước vẫn còn hạn chế. Hiện tại, Việt Nam chủ yếu tập trung vào các giai đoạn sản xuất có giá trị gia tăng thấp, cũng như giai đoạn lắp ráp cuối cùng của sản phẩm[25].
Có thể xác định một số vấn đề trong cả lĩnh vực khoa học và đổi mới sáng tạo, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng Việt Nam trở thành nhà phát triển độc lập các công nghệ tiên tiến.
Nền tảng khoa học và đào tạo nhân lực
Theo Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu, thành phần yếu nhất của hệ thống đổi mới sáng tạo Việt Nam là phát triển nguồn nhân lực và khoa học (vị trí thứ 70). Để so sánh, Nga thuộc nhóm dẫn đầu về các chỉ số này (vị trí thứ 28)[26]. Chất lượng giáo dục và khoa học có thể được đánh giá qua số lượng và vị thế của các trường đại học Việt Nam trong các bảng xếp hạng học thuật thế giới như THE, QS và ARWU. Việc không có trường đại học Việt Nam trong bảng xếp hạng ARWU cho thấy trình độ nghiên cứu khoa học được thực hiện tại các trường đại học còn yếu. Chất lượng đào tạo cũng chưa đủ cao, các chương trình giáo dục trong các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật bị đánh giá là yếu[27]. Số lượng chuyên gia được đào tạo theo chương trình thạc sĩ và tiến sĩ cũng có hạn.
Chi tiêu cho khoa học trong nước vẫn ở mức thấp ổn định: trong suốt bảy năm qua, chúng chỉ chiếm 0,42% GDP. Để so sánh, các nước láng giềng trong khu vực cũng đang phấn đấu phát triển công nghệ như Malaysia và Thái Lan chi lần lượt 1,01% và 1,16% GDP cho khoa học[28].
Nguồn tài trợ chính cho nghiên cứu và phát triển là khu vực doanh nghiệp phi Nhà nước (64,1% tổng chi tiêu). Nhà nước chỉ chiếm 26,9%[29]. Đây là cơ cấu “ngược” so với Nga, nơi hơn 65% công trình được tài trợ từ ngân sách nhà nước[30], và hỗ trợ từ khu vực doanh nghiệp chiếm chưa đến một phần ba tổng nguồn tài trợ.
Các tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học và phát triển chính ở Việt Nam cũng là các tổ chức thuộc khu vực doanh nghiệp phi Nhà nước, chiếm gần 3/4 số lượng nghiên cứu được thực hiện trong nước (73% theo số liệu năm 2024)[31]. Rất có thể, vị trí dẫn đầu của khu vực doanh nghiệp trong nghiên cứu một phần được giải thích là do sự hiện diện của các bộ phận nghiên cứu của các công ty nước ngoài. Lớn thứ hai là khu vực nhà nước, thực hiện 21,3% chương trình. Khu vực đại học đóng góp rất khiêm tốn – 5,3%. Để so sánh, ở các nước láng giềng, vai trò của các trường đại học trong việc thực hiện nghiên cứu khoa học cao hơn nhiều: họ chiếm 42,6% ở Malaysia, 13,8% ở Thái Lan và 13,5% ở Singapore[32].
Tài trợ nhà nước ở Việt Nam được phân bổ cho các tổ chức theo nguyên tắc quy mô/số lượng nhân sự, chứ không phải theo hình thức cạnh tranh và không xem xét đến thành tích trước đây[33]. Các vấn đề phát triển khoa học và công nghệ cũng liên quan đến quyền tự chủ và trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu được xác định không rõ ràng và thu nhập khiêm tốn của các nhà nghiên cứu[34]. Chi phí cho mỗi nhà nghiên cứu ở Việt Nam là 37 nghìn USD[35].
Số lượng nhà nghiên cứu toàn thời gian ở Việt Nam trên 1 triệu dân là 836,1 người vào năm 2024, trong khi ví dụ ở Nga là gần 2620 người[36]. Nước này thiếu nhân lực trình độ cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao. Các kỹ sư Việt Nam vẫn còn yếu về tiếng Anh và thiếu kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế. Tất cả những điều này đã trở thành trở ngại nghiêm trọng cho việc gia tăng đầu tư nước ngoài vào nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam[37].
Mức tài trợ nhà nước thấp ảnh hưởng đến hiệu quả của khoa học cơ bản và nghiên cứu thăm dò, điều này được phản ánh trong hoạt động công bố của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Tỷ trọng của Việt Nam trong tổng số ấn phẩm toàn cầu được lập chỉ mục trong cơ sở dữ liệu Scopus chỉ là 0,5% (theo số liệu năm 2024)[38]. Động lực cấp bằng sáng chế có vẻ lạc quan hơn: ví dụ, trong năm 2025, số đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp tăng 20,4% so với năm trước và số bằng sáng chế được cấp tăng 54,6%[39]. Tuy nhiên, bằng sáng chế chủ yếu thuộc về các công ty nước ngoài: họ nộp khoảng 70% số đơn đăng ký[40].
Các vấn đề chuyển giao công nghệ
Ở Việt Nam tồn tại một số khó khăn trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, liên quan đến các công ty nước ngoài và trong nước, cũng như các mối liên kết hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu, trường đại học và công ty.
Thứ nhất, trở ngại là mức độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thấp. Mức độ kiểm soát và tuân thủ quyền bằng sáng chế thấp hơn so với các nước phát triển. Thứ hai, có những khó khăn nhất định trong việc tiếp cận tài trợ cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Hỗ trợ của nhà nước gắn liền với các thủ tục hành chính phức tạp, đặc biệt khó khăn đối với các công ty đổi mới sáng tạo nhỏ[41]. Thứ ba, mối liên kết giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước hầu như chưa được thiết lập. Các công ty địa phương tham gia không đáng kể vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn nước ngoài[42]. Thứ tư, chỉ một số rất nhỏ các công ty Việt Nam có thể được coi là công nghệ cao: chỉ có 8% trong số họ tham gia nghiên cứu, phát triển hoặc ứng dụng công nghệ[43]. Cuối cùng, hợp tác trong lĩnh vực phát triển công nghệ giữa các tổ chức nghiên cứu thương mại và nhà nước phát triển yếu.
Các hướng hợp tác Nga – Việt tiềm năng
Hợp tác giữa Việt Nam và Nga bắt đầu hình thành từ thời kỳ Liên Xô. Việt Nam đã tiếp thu một số nguyên tắc chính của mô hình Liên Xô, bao gồm công nghiệp hóa, quản lý tập trung, vai trò mạnh mẽ của nhà nước trong giáo dục và khoa học. Những người Việt Nam từng học tại Liên Xô đã mang kinh nghiệm của họ vào các thể chế quốc gia[44]. Ngoài ra, một điểm cộng quan trọng cho việc phát triển hợp tác là sự hiện diện của cộng đồng người Việt hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tại Nga[45].
Vào tháng 6 năm 2025, Việt Nam đã gia nhập BRICS với tư cách là đối tác đối thoại. Điều này mở ra cho đất nước cơ hội đa dạng hóa quan hệ kinh tế trong bối cảnh đối đầu Mỹ – Trung. Quan hệ Nga – Việt Nam vẫn giữ trạng thái đối tác chiến lược toàn diện. Điều này cần được xem xét như là cơ sở để phát triển hợp tác khoa học và công nghệ cũng như đào tạo nhân lực, trước hết là trong các lĩnh vực kỹ thuật.
Dựa trên sự giao thoa lợi ích của Nga và Việt Nam, hợp tác có thể phát triển trong các lĩnh vực công nghệ như giải pháp công nghệ thông tin trong an ninh mạng, fintech, phát triển phần mềm cho khu vực nhà nước. Hiện tại, hợp tác trong lĩnh vực y học hạt nhân đã được thiết lập và đang phát triển[46].
Khi xác định các lĩnh vực ưu tiên và các tác nhân chính của hợp tác, điều quan trọng là phải tính đến văn hóa kinh doanh Việt Nam, dựa trên các nguyên tắc Nho giáo, bao gồm việc tuân thủ hệ thống cấp bậc nghiêm ngặt và chủ nghĩa tập thể. Các quyết định chỉ được đưa ra bởi lãnh đạo cấp cao nhất, nhân viên không hành động khi chưa có sự đồng ý của họ[47]. Có lẽ, văn hóa kinh doanh này ở một mức độ nhất định là một yếu tố kìm hãm sự phát triển của tinh thần kinh doanh đổi mới sáng tạo. Do đó, việc thiết lập hợp tác giữa các công ty công nghệ phát triển nhanh của Nga và các doanh nghiệp Việt Nam có thể là triển vọng.
Trong lĩnh vực giáo dục, hợp tác có thể được xây dựng dựa trên các lĩnh vực phù hợp với Việt Nam, trước hết là các chuyên ngành kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 5 nghìn sinh viên từ Việt Nam đang học tập tại Nga, ít hơn 7-8 lần so với số lượng của họ tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ⁷⁹. Như đã thấy từ kinh nghiệm của Liên Xô, lĩnh vực giáo dục là một nguồn lực quan trọng để gây ảnh hưởng, cũng như phát triển sự hiểu biết lẫn nhau và tin cậy. Đồng thời, có một khung pháp lý rộng rãi để mở rộng hợp tác như vậy: đã có hơn 500 thỏa thuận giữa các trường đại học và tổ chức khoa học của hai nước[48]. Các sáng kiến giáo dục có thể góp phần nâng cao trình độ của nhân lực Việt Nam, từ đó mở rộng hợp tác khoa học. Tuy nhiên, hiện tại có rất ít dự án khoa học chung⁸¹.
Rào cản cho việc phát triển hợp tác là các hạn chế trừng phạt. Cụ thể, một số trường đại học kỹ thuật hàng đầu của Nga, có tiềm năng hợp tác cao, đang bị trừng phạt. Các lệnh trừng phạt sơ cấp và thứ cấp của Mỹ và EU tạo ra nguy cơ cho các đối tác Việt Nam làm việc với Nga. Một số nhà nghiên cứu Nga cho rằng, trái với tuyên bố về đa dạng hóa chính sách đối ngoại, định hướng địa chính trị và kinh tế của Việt Nam ngày càng nghiêng về các nước phương Tây[49].
Kết luận
Nhìn chung, kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy khả năng kết hợp giữa khát vọng độc lập công nghệ với sự cởi mở trong mối quan hệ với các đối tác quốc tế, thể hiện qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với nỗ lực nội địa hóa dần dần các trung tâm nghiên cứu nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia. Những lợi thế thực tế của Việt Nam đối với Nga nằm ở việc có một thị trường đang phát triển nhanh chóng, cơ sở hạ tầng cần thiết để kinh doanh và các nguồn lực có thể dễ dàng huy động tương đối lớn. Việt Nam có thể là cửa ngõ quan trọng cho các đối tác lớn tiếp cận Đông Nam Á.
Để tìm kiếm những con đường hợp tác mới – cả trong hoạt động khoa học – công nghệ và giáo dục – việc xem xét khả năng thành lập các nhóm công tác song phương để trao đổi kinh nghiệm về tổ chức và tài trợ dự án cũng như lập kế hoạch hành động chung là phù hợp. Đã có một số kinh nghiệm vận hành của các nhóm tương tự: ví dụ, các nhóm chuyên đề tương tự hoạt động trong khuôn khổ BRICS. Một ví dụ khác có thể kể đến là Diễn đàn Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn BRICS được tổ chức vào năm 2025[50]. Một nhóm công tác về tương tác giữa các trường đại học Nga và Việt Nam có thể được thành lập như một dự án thí điểm, điều này sẽ giúp củng cố nỗ lực, xác định ưu tiên và tiết kiệm thời gian mà các trường đại học Nga có thể hợp tác với các đối tác Việt Nam.
Lược dịch: Hoàng Hải
Tác giả: Irina Dezhina là Tiến sĩ Kinh tế học, nghiên cứu viên Viện Xã hội học (Nga), thành viên RIAC (Nga).
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đứng trên lập trường của Nga, hoàn toàn không phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
Tài liệu tham khảo
[1] Цит. по: Президент Хо Ши Мин: Основатель науки и техники во Вьетнаме // Vietnam.vn. 13.05.2026. URL: https://www.vietnam.vn/ru/chu-tich-ho-chi-minh-nguoi-dat-nen-mong-cho-khoa-hoc-cong-nghe-viet-nam
[2] Current and Historical Inflation Rates in Vietnam (1980 – 2024) // iCalculator. URL: https://vn.icalculator.com/current-and-historical-inflation-rates.html
[3] Основные направления и цели социально-экономического развития на 5 лет 1986–1990 (на вьет. Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển KT – XH trong 5 năm 1986–1990) // Партийные документы (на вьет. Tư liệu – Văn kiện Đảng). URL: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trunguong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vi/phuong-huong-muc-tieu-chu-yeu-phat-trien-kt-xh-trong-5-nam-1986-1990-1492
[4] См.: Нгуен С.Т. Процесс индустриализации во Вьетнаме: сорок лет экономического обновления // Проблемы прогнозирования. 2024. № 6. С. 227-241. URL: https://ecfor.ru/publication/ekonomicheskoe-obnovlenie-vetnama-industrializatsiya-i-modernizatsiya/
[5] См.: Алифирова Е. Вьетнам к 2030 г. намерен нарастить добычу редкоземельных металлов в 470 раз // Нефтегаз.ру. 25.07.2026. URL: https://neftegaz.ru/news/Alternative-energy/788066-vetnam-k-2030-g-nameren-narastit-dobychu-redkozemelnykh-metallov-v-470-raz/
[6] Двузначный рост – уроки, извлеченные из опыта разных стран мира, и решения для Вьетнама // Vietnam.vn. 31.07.2025. URL: https://www.vietnam.vn/ru/tang-truong-hai-con-so-kinh-nghiem-tu-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-giai-phap-cho-viet-nam
[7] OECD. SME and Entrepreneurship Policy in Viet Nam. OECD Studies on SMEs and Entrepreneurship. OECD Publishing: Paris, 2021. P. 3. URL: https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2021/01/sme-and-entrepreneurship-policy-in-viet-nam_d165e94e/30c79519-en.pdf
[8] Инновационные тренды во Вьетнаме: возможности и вызовы // Вьетнам. 20.02.2025. URL: https://vietnam.vnanet.vn/russian/tin-van/инновационные-тренды-во-вьетнаме-возможности-и-вызовы-388653.html
[9] Lenain P. Unleashing Strong, Digital and Green Growth in Viet Nam. OECD Working Paper // OECD. 07.08.2023. URL: https://www.oecd-ilibrary.org/economics/unleashing-strong-digital-and-green-growth-in-viet-nam_78bcbbcd-en
[10] Ха В. Наука, технологии и инновации являются важнейшими элементами для реализации стремлений к национальному развитию // Газета «Нге Ан». 18.05.2026. URL: https://baonghean.vn/ru/khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-la-yeu-to-song-con-de-hien-thuc-hoa-khat-vong-phat-trien-dat-nuoc-10337256.html
[11] Understanding Innovation Policymakers in Vietnam // Nesta. 11.06.2020. URL: https://www.nesta.org.uk/report/understanding-innovation-policymakers-vietnam/challenges-facing-vietnamese-innovation-policymakers/
[12] Innovation in Vietnam: Momentum, Hurdles, and the Urgent Leap Forward // Vietnamnet. 09.10.2025. URL: https://vietnamnet.vn/en/innovation-in-vietnam-momentum-hurdles-and-the-urgent-leap-forward-2448895.html
[13] Государственная поддержка является частью модели «трехстороннего сотрудничества» (государство-предприятия-вузы). Она направлена на укрепление связей между образованием и наукой с одной стороны, и потребностями предприятий – с другой. В частности, предприятия получают доступ к университетским лабораториям; государство оплачивает подготовку кадров для предприятий, вовлеченных в технологическое
сотрудничество с вузами. & Xuyen N.H. Policy to Promote Technology Transfer in Vietnam. Science, Technology & Innovation Policy. 2025. Vol. 9. No. 2. URL: http://scitpp.com/article/10.11648/j.stpp.20250902.13
[14] Льготная налоговая политика для научно-технологических предприятий // Нхан Дан. 18.06.2026. URL: https://ru.nhandan.vn/l-gotnaja-nalogovaja-politika-dlja-nauchno-tehnologicheskih-predprijatii-post63473.html
[15] Льготная налоговая политика для научно-технологических предприятий // Нхан Дан. 18.06.2026. URL: https://ru.nhandan.vn/l-gotnaja-nalogovaja-politika-dlja-nauchno-tehnologicheskih-predprijatii-post63473.html
[16] Льготная налоговая политика для научно-технологических предприятий // Нхан Дан. 18.06.2026. URL: https://ru.nhandan.vn/l-gotnaja-nalogovaja-politika-dlja-nauchno-tehnologicheskih-predprijatii-post63473.html
[17] См.: Международный технологический трансфер в странах Юго-Восточной Азии / Под ред. И.Г. Дежиной, Т.Р. Гареева. М.: Типография Миттель пресс, 2025. С. 138. URL: https://back.skoltech.ru/storage/app/media/Analytical%20reports/mtt-25-block-web.pdf
[18] Đỗ Như. Proposal for full land rent waiver to drive high-tech investment // VnEconomy. 15.06.2026. URL: https://en.vneconomy.vn/proposal-for-full-land-rent-waiver-to-drive-high-tech-investment.htm
[19] Иностранные инвестиции во Вьетнам резко возросли за пять месяцев // Vietnamnet. 08.06.2025. URL: https://vietnam.vnanet.vn/russian/tin-van/иностранные-инвестиции-во-вьетнам-резко-возросли-за-пять-месяцев-399244.html
[20] См.: ASEAN Key Figures 2025. Jakarta, ASEAN Secretariat, December 2025. Pр. 54-55. URL: https://asean.org/wp-content/uploads/2025/12/AKF-2025_v3_202601151314.pdf
[21] Объем прямых иностранных инвестиций достиг своего наивысшего уровня за последние 5 лет (на вьет. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm qua) // Вьетнамская финансовая газета (на вьет. Thời báo Tài chính Việt Nam). 06.10.2025. URL: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/von-fdi-thuc-hien-cao-nhat-trong-5-nam-qua-184446-184446.htm
[22] Объем прямых иностранных инвестиций достиг своего наивысшего уровня за последние 5 лет (на вьет. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm qua) // Вьетнамская финансовая газета (на вьет. Thời báo Tài chính Việt Nam). 06.10.2025. URL: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/von-fdi-thuc-hien-cao-nhat-trong-5-nam-qua-184446-184446.htm
[23] Товарооборот России и Вьетнама вырос на 6% по итогам 2025 года // Министерство экономического развития РФ. 25.03.2026. URL: https://www.economy.gov.ru/material/news/tovarooborot_rossii_i_vetnama_vyros_na_6_po_itogam_2025_goda.html
[24] Viet Nam’s foreign trade soars to all-time high in 2025 // Government News. 06.01.2026. URL: https://en.baochinhphu.vn/viet-nams-foreign-trade-soars-to-all-time-high-in-2025-111260106092919875.htm
[25] Smith T., Hollweg C.H., Taglioni D. Vietnam at Crossroads: Engaging in the Next Generation of Global Value Chains. Directions in Development // World Bank Publications. 07.03.2017. URL: http://hdl.handle.net/10986/26215
[26] World Intellectual Property Organization. Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads // WIPO. Р. 233. URL: https://tind.wipo.int/record/58864?ln=en&v=pdf
[27] Дефицит кадров в полупроводниковой отрасли: Вьетнаму нужны 35 000 специалистов в ближайшие пять лет // Vietnam+. 09.12.2025. URL: https://ru.vietnamplus.vn/defitsit-kadrov-v-poluprovodnikovoi-otrasli-v-etnamu-nuzhni-35-000-spetsialistov-v-blizhaishie-pjat-let-post88537.vnp
[28] Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 364-367.
[29] Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 375-376.
[30] Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 373.
[31] Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 371-372.
[32] Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026.
[33] Understanding Innovation Policymakers in Vietnam // Nesta. 11.06.2020. Р. 12. URL: https://www.nesta.org.uk/report/understanding-innovation-policymakers-vietnam/challenges-facing-vietnamese-innovation-policymakers/
[34] Legal Frameworks for Science, Technology, Innovation to be Improved in 2024: MoST // Vietnam news. 26.02.2024. URL: https://vietnamnews.vn/society/1650904/legal-frameworks-for-science-technology-innovation-to-be-improved-in-2024-most.html
[35] Рассчитано по данным из: Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 363, 387. Данные по финансированию для Вьетнама доступны только за 2015 год.
[36] Индикаторы науки: 2026. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 390.
[37] Стратегические технологии: на что Вьетнам делает ставку для достижения прорыва? // Vietnamnet. 05.05.2025. URL: https://www.vietnam.vn/ru/cong-nghe-chien-luoc-viet-nam-dat-cuoc-vao-dau-de-but-pha
[38] Индикаторы науки. Статистический сборник. М.: НИУ ВШЭ, 2026. С. 398.
[39] См.: Press Release Social-Economic Situation in the Fourth Quarter and 2025 // National Statistics Office of Vietnam. URL: https://www.nso.gov.vn/en/data-and-statistics/2026/01/press-release-social-economic-situation-in-the-fourth-quarter-and-2025/
[40] Innovation in Vietnam: Momentum, Hurdles, and the Urgent Leap Forward // Vietnamnet. 09.10.2025. URL: https://vietnamnet.vn/en/innovation-in-vietnam-momentum-hurdles-and-the-urgent-leap-forward-2448895.htm
[41] См.: Янчук А.Л. Технологическое предпринимательство во Вьетнаме: предпосылки и возможности развития // Научные труды Белорусского государственного экономического университета. Выпуск 17. Минск: Колорград, 2024. С. 496-504. URL: http://edoc.bseu.by:8080/handle/edoc/104414
[42] Иностранные инвестиции во Вьетнам резко возросли за пять месяцев // Вьетнам. 08.06.2025. URL: https://vietnam.vnanet.vn/russian/tin-van/иностранные-инвестиции-во-вьетнам-резко-возросли-за-пять-месяцев-399244.html
[43] Understanding Innovation Policymakers in Vietnam // Nesta. 11.06.2020. URL: https://www.nesta.org.uk/report/understanding-innovation-policymakers-vietnam/challenges-facing-vietnamese-innovation-policymakers/
[44] См.: Хунг Н.К. Вьетнамо-российское сотрудничество и развитие научно-технологической сферы в СРВ // Вьетнамские исследования. 2014. Т.1. № 4. С.73-90. URL: https://vietnamjournal.ru/2618-9453/article/view/84334
[45] См.: Соколов Д. Золотая звезда экономического роста // Эксперт. 23.02.2026. URL: https://expert.ru/druzhim-ekonomikami/zolotaya-zvezda-ekonomicheskogo-rosta
[46] См.: Толорая Г., Пыльцина Е. Россия и Вьетнам в «новую эпоху»: итоги ХIV съезда КПВ и возможность геополитического маневра на Востоке // РСМД. 02.02.2026. URL: https://russiancouncil.ru/analytics-and-comments/analytics/rossiya-i-vetnam-v-novuyu-epokhu-itogi-khiv-sezda-kpv-i-vozmozhnostgeopoliticheskogo-manevra-na-vos
[47] См.: Васенин Д. 7 правил ведения бизнеса во Вьетнаме // Российско-ЕврАзийский бизнес-брокер. 14.03.2024. URL: https://reab.pro/ru/info/business-traditions-and-mentality/seven-rules-for-doing-business-in-vietnam
[48] Образование станет ключевым направлением партнёрства между Вьетнамом и Россией // Vietman+. 23.05.2026. URL: https://ru.vietnamplus.vn/obrazovanie-stanet-kljuchevim-napravleniem-partnerstva-mezhdu-v-etnamom-i-rossiei-post94946.vnp
[49] См.: Мазырин В.М. Экономика Вьетнама в 2023 г. – плоды развития в неолиберальной парадигме // Юго-восточная Азия: актуальные проблемы развития. 2023. № 4 (60). С. 110-123. URL: https://sea.ivran.ru/articles?artid=214736
[50] Форум стран БРИКС: новый социо-гуманитарный трек по линии науки // Аналитический центр МНИОП. URL: https://mniop.ru/forum-stran-briks-novyiy-sotsio-gumanitarnyiy-trek-po-linii-nauki.html






















