Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Khu vực Châu Á

Nhìn lại thực tiễn chính sách của Trung Quốc tại tiểu vùng sông Mekong trong năm 2025

03/01/2026
in Châu Á, Chính trị
A A
0
Nhận thức và cách ứng phó của Mỹ đối với “Con đường Tơ lụa  Kỹ thuật số” của Trung Quốc tại Đông Nam Á

What Does India's Digital Transformation Mean for Online Businesses?

0
SHARES
70
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Tầm quan trọng của khu vực tiểu vùng Mekong với chiến lược của Trung Quốc

Trung Quốc nhìn nhận khu vực tiểu vùng sông Mekong như một cấu phần chiến lược then chốt trong tư duy đối ngoại láng giềng trước và trong nỗ lực mở rộng ảnh hưởng địa kinh tế xuống Đông Nam Á lục địa.

Đánh giá này không chỉ xuất phát từ vị trí địa lý của Mekong như một hành lang kết nối trực tiếp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây với Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, mà còn phản ánh nhận thức ngày càng rõ rệt của Bắc Kinh rằng kiểm soát hoặc chí ít là điều phối dòng chảy hạ nguồn là điều thiết yếu để duy trì ảnh hưởng chính trị và kinh tế lâu dài trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gia tăng. Trong diễn ngôn chính thức, Trung Quốc liên tục mô tả quan hệ Lan Thương – Mekong như một cộng đồng cùng chung vận mệnh và coi cơ chế hợp tác trong khuôn khổ Hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC) là một mô hình mẫu cho hợp tác khu vực theo triết lý cùng thắng mà Trung Quốc vốn đang xây dựng giống như một đặc trưng của nước này. Tuy nhiên, đằng sau những tuyên bố này là một cấu trúc chiến lược tinh vi, kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu kiểm soát nguồn nước, mở rộng cơ sở hạ tầng kết nối, định hình chuẩn mực khu vực và củng cố vai trò lãnh đạo thể chế của Trung Quốc đối với tiểu vùng.

Về phương diện diễn ngôn và lý luận chính sách, Trung Quốc xây dựng hình ảnh Mekong như một không gian phát triển chung, một khu vực được cho là có lợi ích liên kết chặt chẽ với sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc. Trong các phát biểu chính thức Trung Quốc liên tục nhấn mạnh vai trò và tương lai rộng mở của LMC với khu vực, định hướng sang phát triển xanh, đổi mới công nghệ và tăng cường kết nối kinh tế – xã hội. Diễn ngôn này đóng vai trò quan trọng trong việc làm mềm hóa lo ngại của các quốc gia hạ nguồn về tác động của hệ thống đập thượng nguồn, đồng thời đặt Trung Quốc vào vị thế đối tác phát triển, thay vì người gây rủi ro đối với an ninh nguồn nước. Các học giả tại Trung Quốc cũng lan toả lập luận rằng Mekong là vùng thí nghiệm cho mô hình ngoại giao đầu tư của Bắc Kinh kết hợp ODA, tín dụng ưu đãi, và đầu tư hạ tầng để tạo ra mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau, từ đó giảm thiểu ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài và định hình chuẩn mực hợp tác mang sắc thái Trung Quốc. Nhấn mạnh này nhằm tạo khung diễn giải thuận lợi, theo đó mọi chỉ trích về ảnh hưởng môi trường hoặc tính bất đối xứng quyền lực được chuyển hướng thành vấn đề nhận thức sai lệch, cần được xử lý thông qua hợp tác tin cậy.

Có thể thấy rõ sự thống nhất trong quan niệm chiến lược rằng Mekong là vành đai an ninh mềm của Trung Quốc, nơi Bắc Kinh có thể gia tăng ảnh hưởng mà không tạo ra xung đột trực diện với các cường quốc khác. Trung Quốc liên tục khẳng định rằng hợp tác Mekong phải trở thành cột trụ mang tính mô hình của ngoại giao láng giềng Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẵn sàng đóng vai trò lãnh đạo có trách nhiệm trong quản trị vùng hạ lưu. Trung Quốc cũng coi Mekong là khu vực nơi Trung Quốc có thể áp dụng chiến lược ổn định vùng lân cận giúp giảm rủi ro an ninh biên giới, mở rộng thị trường cho sản phẩm công nghệ và năng lượng của Trung Quốc, và tạo hành lang kết nối trực tiếp từ Tây Nam Trung Quốc đến Vịnh Thái Lan và Ấn Độ Dương. Theo đó, sự hiện diện kinh tế và hạ tầng tại Mekong không chỉ có ý nghĩa thương mại mà là đòn bẩy an ninh địa chính trị nhằm giảm ảnh hưởng của Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ trong khu vực.

Xét trên phương diện chính sách và hành động triển khai, Trung Quốc theo đuổi chiến lược thể chế hoá sâu rộng khuôn khổ hợp tác LMC nhằm thiết lập một không gian ra quyết định mà Bắc Kinh có thể chi phối. Trung Quốc đề xuất nâng cấp cấu trúc vận hành của LMC, đưa ra chương trình hành động dài hạn và nhấn mạnh nhu cầu xây dựng các cơ chế thường trực về quản trị nguồn nước, giảm lũ và hợp tác an ninh phi truyền thống[1]. Việc thúc đẩy thể chế hoá không đơn thuần là quản lý kỹ thuật, mà mang tính chất chiến lược thông qua việc trở thành nhà cung cấp dữ liệu thuỷ văn, chuyên gia vận hành đập và chủ thể cung cấp nguồn vốn hạ tầng, Trung Quốc tạo ra cơ chế phụ thuộc về thông tin, năng lượng và hạ tầng của các nước hạ nguồn. Ở cấp thực thi, Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư vào các hành lang giao thông xuyên biên giới, các trung tâm logistics và dự án thủy điện trong đó nổi bật là sự tham gia vào dự án kênh đào Funan Techo tại Campuchia, một công trình được dự báo có thể thay đổi luồng vận tải khu vực và tác động lớn đến dòng chảy Mekong. Các dự án như vậy củng cố vị thế Trung Quốc không chỉ về kinh tế mà còn về chiến lược, vì chúng mở ra mạng lưới phụ thuộc hạ tầng mà qua đó Bắc Kinh có thể tác động mạnh đến chính sách của các nước Mekong.

Ở khía cạnh an ninh nguồn nước, tính đến nay Trung Quốc đã duy trì hệ thống 12 đập chính và khoảng 95 đập nhánh trên dòng chính Lancang và nhiều chục đập trên các phụ lưu một mạng lưới có khả năng điều tiết đáng kể dòng chảy theo mùa, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, thủy sản và an ninh sinh kế của gần 70 triệu dân hạ lưu[2]. Việc chia sẻ dữ liệu thuỷ văn được Bắc Kinh mô tả như biểu hiện của trách nhiệm lớn hơn nhưng thực chất mang tính chọn lọc và thường gắn với yêu cầu mở rộng hợp tác trong khuôn khổ LMC. Điều này đồng nghĩa rằng Trung Quốc nắm lợi thế cấu trúc trong bất kỳ thương lượng nào về an ninh nguồn nước, khi họ kiểm soát cả năng lực điều tiết lẫn luồng thông tin kỹ thuật. Bằng cách chuyển vai trò quốc gia thượng nguồn thành đối tác chuyên môn hoá quản trị nguồn nước, Trung Quốc tìm cách tái định nghĩa tính chính danh của sự hiện diện của mình trong tiểu vùng.

Trung Quốc đã xây dựng một quy trình học thuật mạnh mẽ nhằm định hướng chiến lược của mình như một chuẩn mực nhận thức trong khu vực, trong đó Mekong được mô tả như một phòng thí nghiệm thể chế cho mô hình hợp tác do Trung Quốc dẫn dắt, trong đó các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình vận hành và phương thức điều phối được thiết kế theo lợi ích của Bắc Kinh. Điều này lý giải vì sao Trung Quốc đặt trọng tâm vào tăng cường chia sẻ dữ liệu, tổ chức diễn đàn khoa học, triển khai dự án nông nghiệp công nghệ cao, và thúc đẩy các quỹ hợp tác nhỏ quy mô khoảng vài chục triệu USD nhưng có hiệu quả chính trị lớn. Những biện pháp này giống như ngoại giao vi mô nhằm tận dụng các gói hỗ trợ nhỏ nhưng tập trung đúng nhu cầu để tạo ra sự ủng hộ chính trị bền vững hơn từ phía các chính phủ hạ nguồn.

Vị trí của tiểu vùng Mekong trong chiến lược của Trung Quốc có thể được hiểu như sự kết hợp đồng thời của ba lớp là lớp diễn ngôn nhằm xây dựng tính chính danh và giảm lo ngại, lớp chính sách – thể chế nhằm thiết lập cấu trúc phụ thuộc và lớp hành động thực địa nhằm củng cố sự hiện diện vật chất của Trung Quốc tại khu vực. Nhấn mạnh cốt lõi của Bắc Kinh là đưa Mekong trở thành vùng ổn định hoá chiến lược, nơi xung đột tiềm tàng được kiểm soát bằng phát triển kinh tế và phụ thuộc lẫn nhau, hơn là bằng biện pháp quân sự hay ép buộc trực tiếp.

Đối với Trung Quốc, kiểm soát không gian Mekong nghĩa là kiểm soát cửa ngõ kết nối sang Đông Nam Á, đảm bảo an ninh năng lượng cho Vân Nam, mở rộng sức mạnh kinh tế công nghệ, và tạo ra một không gian địa chính trị mà họ có thể điều tiết theo hướng có lợi cho mình trong một trật tự khu vực đang phân hoá.

Trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, sự gia tăng can dự của Trung Quốc tại Mekong vừa mang lại lợi ích phát triển cho các nước hạ nguồn, vừa đặt ra những thách thức về cân bằng chiến lược, minh bạch dữ liệu thuỷ văn và an ninh môi trường. Việc nắm giữ năng lực điều tiết nguồn nước, khả năng cung cấp vốn hạ tầng và chủ động định hình khung thể chế hợp tác mang lại cho Bắc Kinh lợi thế dài hạn.

Tuy nhiên, chính sự bất đối xứng này cũng tạo ra căng thẳng cấu trúc, một mặt, các nước hạ nguồn buộc phải tận dụng nguồn vốn và năng lực kỹ thuật của Trung Quốc, mặt khác, họ phải đối diện với nguy cơ lệ thuộc chiến lược, suy giảm tính tự chủ trong hoạch định chính sách nước, năng lượng và nông nghiệp. Vì vậy, câu chuyện Mekong không chỉ là vấn đề hợp tác phát triển, mà là một trường hợp điển hình cho thấy cách Trung Quốc kết hợp sức mạnh cứng, sức mạnh mềm và sức mạnh thể chế để tái cấu trúc không gian khu vực theo hướng phù hợp với lợi ích chiến lược của mình.

Hoạt động can dự của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mekong năm 2025

Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn mới trong chiến lược can dự của Trung Quốc đối với tiểu vùng sông Mekong, khi Bắc Kinh triển khai đồng thời cả ba trục tiếp cận chính trị – ngoại giao, kinh tế và an ninh theo hướng thể chế hóa sâu, bao phủ rộng và gắn chặt lợi ích của các nước hạ lưu vào các cấu trúc hợp tác do Trung Quốc dẫn dắt. Thay vì chỉ đóng vai trò một đối tác phát triển lớn, Trung Quốc đã thể hiện rõ mục tiêu chiến lược biến hợp tác Lan Thương – Mekong thành một không gian ảnh hưởng mềm, cứng và thể chế nằm trong quỹ đạo phát triển của mình, vừa như một hành lang chiến lược bảo vệ vùng Tây Nam Trung Quốc, vừa như một nền tảng cạnh tranh ảnh hưởng với các cường quốc khác tại Đông Nam Á. Tham vọng này được minh định trong chuỗi tuyên bố ngoại giao của các nhà lãnh đạo Trung Quốc năm 2025, đặc biệt qua phát biểu của Ngoại trưởng Vương Nghị tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao LMC ngày 15/8/2025, nơi ông công bố định hướng LMC 2.0 với bốn trụ cột bao trùm từ phối hợp chính sách cấp cao, tích hợp kinh tế, quản trị khu vực đến giao lưu nhân dân. Ông đã nêu rằng “LMC đã biến hạt giống thành cây cổ thụ; LMC đã trở thành cơ chế hợp tác năng động và đầy triển vọng nhất trong khu vực”[3].

Điều này phản ánh tính toán sâu xa của Bắc Kinh nhằm xây dựng một cơ chế mang tính bán thể chế để vừa khóa chặt lợi ích của các nước Mekong vào cấu trúc hợp tác do Trung Quốc kiểm soát, vừa giảm thiểu tác động của can thiệp chiến lược từ các cường quốc bên ngoài.

Trên bình diện chính trị – ngoại giao

Trung Quốc sử dụng kết hợp ngoại giao cấp nhà nước, ngoại giao nhân dân và đối thoại chính sách để củng cố nền tảng nhận thức chung giữa các nước Mekong rằng Trung Quốc là đối tác không thể thay thế trong phát triển. Hơn 90 hoạt động trong khuôn khổ Tuần lễ Hợp tác Lan Thương – Mekong 2025, được tổ chức đồng thời ở nhiều cấp độ từ bộ ngành trung ương, chính quyền tỉnh, học giả, thanh niên đến doanh nghiệp thể hiện cách Bắc Kinh thúc đẩy ngoại giao mềm một cách có hệ thống[4]. Việc huy động mạng lưới rộng như vậy giúp Trung Quốc lan tỏa câu chuyện rằng hợp tác Mekong là một thành tựu chung, rằng Trung Quốc không chỉ đóng góp vật chất mà còn chia sẻ tri thức, công nghệ, văn hóa và mô hình quản trị. Những nỗ lực này cũng tạo ra hiệu ứng chuẩn hóa cảm nhận, đưa quan điểm của Trung Quốc trở thành diễn ngôn chủ đạo trong nhiều cuộc thảo luận về tương lai tiểu vùng. Bên cạnh đó, năm 2025 Trung Quốc chủ trì phiên tham vấn chiến lược của Mekong Institute (MI) để hoạch định định hướng giai đoạn 2026 – 2030 mở ra cơ hội để Bắc Kinh lồng ghép các ưu tiên phát triển của mình, đồng thời tăng ảnh hưởng học thuật, chính sách trong tiểu vùng[5].

Trung Quốc còn sử dụng mạnh cơ chế đối thoại chiến lược cấp cao để định hình cấu trúc an ninh khu vực. Tại các hội nghị LMC năm 2025, Bắc Kinh nhấn mạnh mở rộng hợp tác giữa các cơ quan biên phòng, cơ quan lập pháp, các đảng chính trị và bộ tư pháp của các nước hạ lưu. Khi các cơ quan này bước vào các cơ chế trao đổi thường xuyên do Trung Quốc thiết kế, Bắc Kinh không chỉ tăng ảnh hưởng về mặt quy chuẩn mà còn tạo ra sự phụ thuộc vào thông tin, nguồn lực và quy trình hợp tác. Bắc Kinh luôn nhấn mạnh việc thúc đẩy hợp tác pháp lý và hành pháp, củng cố khuôn khổ trao đổi giữa các cơ quan quản lý biên giới và thành lập các trung tâm phối hợp về an ninh, môi trường và nguồn nước tất cả đều nằm trong hướng thiết kế thể chế dài hạn của Trung Quốc. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang chuyển hóa hợp tác Mekong từ hợp tác phát triển sang hợp tác quản trị, từ hỗ trợ kỹ thuật sang định hình luật chơi.

Trong bối cảnh đó, các động thái ngoại giao song phương năm 2025 của Bắc Kinh đóng vai trò trụ cột củng cố ảnh hưởng. Đáng chú ý là chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch Tập Cận Bình ngày 17/04/2025, trong đó Trung Quốc cam kết đầu tư lớn, bao gồm thúc đẩy dự án kênh đào Funan Techo một công trình mang ý nghĩa kinh tế nhưng cũng tạo ra những hệ lụy địa chiến lược quan trọng đối với dòng chảy Mekong và cán cân ảnh hưởng khu vực[6]. Song song đó, chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập từ ngày 14 đến ngày 15/04/2025 cũng cho thấy Bắc Kinh chủ động củng cố quan hệ với một nước hạ lưu Mekong quan trọng, đồng thời duy trì đối thoại trực tiếp về quản trị nguồn nước, hợp tác kinh tế và kết nối hạ tầng[7]. Qua đó, Trung Quốc triển khai cách tiếp cận đa chiều, tăng cường cam kết tài chính để đổi lấy không gian ảnh hưởng, đồng thời tận dụng quan hệ mật thiết với Campuchia và Lào để tạo sự đồng thuận khu vực có lợi cho Trung Quốc trong các thể chế Mekong.

Ở bình diện kinh tế

Năm 2025 chứng kiến mức độ can dự sâu của Trung Quốc vào tiểu vùng khi Bắc Kinh duy trì vai trò là đối tác thương mại lớn nhất của năm quốc gia Mekong, với tổng giá trị thương mại đạt khoảng 437 tỷ USD, tăng 125% so với thời điểm hình thành LMC[8]. Con số này cho thấy cấu trúc thương mại khu vực ngày càng nghiêng về Trung Quốc, tạo ra sự phụ thuộc sâu về thị trường, công nghệ và vốn. Hạ tầng tiếp tục là lĩnh vực mà Trung Quốc phát huy lợi thế vượt trội, trong đó nổi bật có hành lang kinh tế Lan Thương – Mekong, đường sắt Trung Quốc – Lào, cao tốc Phnom Penh – Sihanoukville và một loạt dự án năng lượng công nghiệp trở thành mắt xích trong chiến lược chuỗi cung ứng mở rộng của Trung Quốc ở Tiểu vùng Nam Á và Đông Nam Á. Các dự án này không chỉ mở rộng kết nối vật chất mà còn tạo ra dòng chảy lợi ích giúp Trung Quốc duy trì ảnh hưởng lâu dài. Việc các tuyến đường sắt, cao tốc, logistics xuyên biên giới gắn chặt vào mạng lưới thương mại với Trung Quốc khiến các nước Mekong ngày càng phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc, cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu.

Một xu hướng đáng chú ý là Trung Quốc gia tăng sử dụng các dự án nhỏ nhưng đẹp, các dự án quy mô nhỏ nhưng giàu tính biểu tượng và tác động trực tiếp đến đời sống người dân, như chương trình thị thực Mekong, các dự án đào tạo nghề, sáng kiến môi trường, hay chương trình “Sweet Spring Action” cung cấp nước sạch và các dịch vụ xã hội. Các chương trình này nhắm vào tầng lớp dân cư dễ chịu ảnh hưởng, qua đó tăng cường tính chính danh xã hội của Trung Quốc trong khu vực, đồng thời giúp củng cố hình ảnh đối tác đáng tin cậy và gần gũi. Các dự án công nghệ, như vệ tinh Lancang – Mekong “Fudan No.1”[9], không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn cho thấy Trung Quốc muốn dẫn dắt quá trình hiện đại hóa công nghệ của khu vực, từng bước đưa các nước Mekong vào hệ sinh thái công nghệ gắn với Trung Quốc.

Một phần quan trọng khác trong chiến lược kinh tế là Quỹ Đặc biệt Hợp tác Lan Thương  – Mekong thành lập năm 2016, công cụ tài chính cho phép Trung Quốc vừa hỗ trợ phát triển vừa điều hướng ưu tiên chính sách của các nước nhận viện trợ. Ngày 16/7/2025, chính phủ Lào và Trung Quốc ký thỏa thuận hợp tác sử dụng vốn từ LMC Special Fund để tài trợ 10 dự án phát triển, tổng trị giá khoảng 2.82 triệu USD, bao gồm các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp, quản lý nguồn nước, y tế, giảm nghèo[10]. Cùng năm 2025, tại Campuchia có ký kết quỹ cho 11 dự án thuộc LMC Special Fund, tổng khoảng 2.5 triệu USD, trải rộng các lĩnh vực du lịch, y tế, nông nghiệp, bảo tồn văn hóa, đào tạo nghề, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển kỹ năng, báo chí/công nghệ thông tin[11]. Với Myanmar tháng 8/2025 có lễ ký 14 dự án mới thuộc LMC Special Fund, hỗ trợ nhiều lĩnh vực về nông nghiệp, môi trường, giáo dục, văn hóa, phòng chống thiên tai[12]. Theo báo cáo của LMC năm 2025, tổng cộng có gần 1000 dự án do quỹ tài trợ đã được triển khai trong các nước thành viên, giúp cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn, nước sạch, nông nghiệp bền vững, giáo dục, y tế, phát triển cộng đồng thể hiện quy mô và phạm vi rất rộng của quỹ.

Những khoản tài trợ nhỏ nhưng hiệu quả này giúp Bắc Kinh duy trì ảnh hưởng chi phí thấp nhưng hiệu quả cao, bởi các dự án thường hướng vào lĩnh vực các nước Mekong đang thiếu nguồn lực, qua đó tăng mức độ gắn kết chính sách. Các quỹ đặc biệt này là công cụ chiến lược quan trọng giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng tại tiểu vùng Mekong theo hướng mềm hơn so với các dự án hạ tầng lớn. Về mặt tích cực, quỹ hỗ trợ nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, mức tài trợ mỗi dự án tương đối nhỏ, hiệu quả triển khai phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận của nước nhận, đồng thời tạo ra một dạng ràng buộc lợi ích thật sự khéo léo và tinh tế, giúp Trung Quốc củng cố vị thế khu vực mà không cần dựa hoàn toàn vào sức mạnh cứng. Đây là ví dụ điển hình về cách ngoại giao tài chính có thể vừa phát triển vừa đồng thời mở rộng ảnh hưởng chính trị.

Trong lĩnh vực an ninh

Năm 2025 chứng kiến sự gia tăng đáng kể của Trung Quốc trong hợp tác thực thi pháp luật xuyên biên giới. Dù không triển khai lực lượng quân sự trực tiếp, Trung Quốc vẫn tạo được dấu ấn an ninh sâu sắc thông qua các cuộc tuần tra chung, trao đổi tình báo và xây dựng các cơ chế hợp tác chống tội phạm. Theo các tuyên bố ngoại giao Trung Quốc, hơn 150 cuộc tuần tra chung trên sông Mekong giữa Trung Quốc – Lào – Myanmar – Thái Lan đã được tiến hành, qua đó giúp Trung Quốc củng cố quyền tiếp cận an ninh trong khu vực mà không vấp phải phản ứng mạnh từ các nước do những hoạt động này được gắn nhãn hợp tác an ninh phi truyền thống[13]. Việc thành lập các trung tâm hợp tác về an ninh, pháp luật và quản trị nguồn nước cho thấy Bắc Kinh đang dần thể chế hóa vai trò an ninh của mình theo hướng dẫn dắt bằng thể chế thay vì dẫn dắt bằng sức mạnh cứng, qua đó giảm thiểu chi phí chiến lược nhưng gia tăng tác động dài hạn.

Thêm vào đó, việc thể chế hóa hợp tác không chỉ qua tuần tra định kỳ mà còn qua các buổi họp trao đổi thông tin, lập kế hoạch phối hợp tiếp theo và đào tạo chung biến Mekong thành một không gian an ninh mà Trung Quốc không chỉ tham gia tạm thời, mà có quyền can dự lâu dài bằng việc kiểm soát an ninh đường thủy, theo dõi lưu vực, nắm thông tin thực địa. Khi đã hiện diện như vậy, Bắc Kinh có lợi thế về dữ liệu, thông tin, sự hiểu biết địa lý thứ mà các nước hạ lưu rất khó có được nếu không tham gia mạng lưới này. Trong bối cảnh Trung Quốc nắm quyền kiểm soát phần thượng nguồn sông với các đập, thủy điện, điều tiết dòng chảy, sự hiện diện liên tục trong an ninh lưu vực tạo ra một tam giác ràng buộc từ nước → an ninh → thể chế. Nghĩa là, khi Trung Quốc vừa giữ vai trò quyết định về quản trị nguồn nước, vừa đóng vai trò giám sát thực thi pháp luật vùng sông thông qua các cơ chế LMC, thì các nước hạ lưu sẽ buộc phải tính đến ảnh hưởng đa chiều không chỉ môi trường hay phát triển  mà cả an ninh, hợp tác, phụ thuộc thể chế.

Tất cả những diễn biến trên cần được nhìn trong một bức tranh rộng hơn, nơi Trung Quốc muốn tận dụng tiểu vùng Mekong như một không gian chiến lược nhằm bảo vệ chiều sâu an ninh của mình ở Tây Nam, đồng thời kiểm soát một trong những nguồn nước xuyên biên giới quan trọng bậc nhất châu Á. Với việc nắm giữ phần thượng nguồn và hệ thống đập lớn nhất trên Lan Thương, Trung Quốc có lợi thế đáng kể trong quản trị nước. Dù luôn nhấn mạnh quản trị nước mang tính hợp tác và minh bạch, Trung Quốc vẫn giữ vai trò quyết định trong việc chia sẻ dữ liệu thủy văn. Điều này tạo ra mối ràng buộc chiến lược khi các nước hạ lưu cần Trung Quốc không chỉ như một đối tác phát triển mà còn như nguồn bảo đảm an ninh nguồn nước.

Nhận định chung

Tuy nhiên, sự can dự sâu của Trung Quốc vào khu vực tiểu vùng Mekong cũng tạo ra những đối nghịch. Việc Trung Quốc tập trung vào hạ tầng quy mô lớn, khai thác tài nguyên và phát triển năng lượng làm gia tăng lo ngại về tác động môi trường, trong khi các dự án đầu tư đậm dấu ấn Trung Quốc thường đi kèm rủi ro nợ công hoặc sự lệ thuộc về công nghệ. Cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc và các cường quốc bên ngoài như Mỹ, Nhật, EU trong khu vực cũng làm tăng độ phức tạp của cấu trúc chính trị – an ninh Mekong. Khi Trung Quốc thúc đẩy một cộng đồng Lan Thương – Mekong có tương lai chung, các nước Mekong vừa thấy cơ hội phát triển, vừa chịu áp lực chiến lược phải cân bằng. Đối với các quốc gia như Việt Nam, sự gia tăng can dự của Trung Quốc mở ra cả cơ hội hợp tác kinh tế – công nghệ, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro về môi trường, tự chủ chiến lược và an ninh nguồn nước.

Năm 2025 khẳng định Mekong không chỉ là một khu vực hợp tác phát triển mà đang trở thành một không gian chiến lược nơi Trung Quốc nỗ lực kết hợp sức mạnh thể chế, kinh tế và an ninh để định hình trật tự khu vực theo mô hình có lợi cho mình. Chiến lược này vừa mềm dẻo vừa bền bỉ, sử dụng đồng thời nhiều tầng tiếp cận từ thể chế hóa hợp tác, mở rộng đầu tư hạ tầng, tăng cường ngoại giao nhân dân đến hợp tác an ninh phi truyền thống. Điều đó khiến tiểu vùng Mekong ngày càng gắn chặt với Trung Quốc, nhưng cũng đặt ra thách thức dài hạn đối với cân bằng quyền lực và tự chủ chiến lược của các nước hạ nguồn.

Dự báo sự can dự của Trung Quốc đối với khu vực trong thời gian tới

Trong bối cảnh hợp tác Mekong – Lan Thương đã bước sang thập kỷ thứ hai vào năm 2025, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục và thậm chí mở rộng can dự vào khu vực tiểu vùng Mekong theo các trục chiến lược chính về ngoại giao – chính trị, kinh tế và an ninh. Sự gia tăng can dự này không chỉ là hệ quả tất yếu của các cơ chế hợp tác đã được thiết lập, mà còn phản ánh tham vọng lâu dài của Bắc Kinh trong việc định hình tiểu vùng Mekong như một bộ phận chiến lược trong mạng lưới ảnh hưởng toàn cầu của mình.

Về mặt chính trị – ngoại giao, Trung Quốc sẽ tiếp tục sử dụng LMC như một công cụ thể chế hóa ảnh hưởng chiến lược. Đề xuất hướng tới LMC 2.0 chính là nhằm tăng cường kết nối chiến lược cấp cao, thúc đẩy cơ chế thường trực, ví dụ thành lập Ban Thư ký quốc tế LMC và nâng cao hợp tác quản trị về nguồn nước, an ninh phi truyền thống và khung pháp lý khu vực. Việc này cho thấy Trung Quốc không xem LMC là một cơ chế mềm chỉ phục vụ phát triển kinh tế, mà là thể chế hóa chiến lược dài hạn, qua đó can thiệp sâu vào cấu trúc ra quyết định khu vực. Sáu quốc gia thành viên nhất trí chia sẻ thông tin thuỷ văn, phối hợp ứng phó lũ hạn, xây dựng nền tảng chia sẻ kỹ thuật theo chuẩn khu vực. Đây là cơ sở để Trung Quốc tiếp tục kiểm soát thông tin nguồn nước, một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng.

Trong tương lai gần, Trung Quốc rất có thể điều chỉnh ưu tiên ngoại giao LMC để khuyến khích các đối tác Mekong tham gia sâu hơn vào các sáng kiến xanh và công nghệ cao do Bắc Kinh dẫn dắt. Theo kế hoạch định hướng, Trung Quốc muốn thúc đẩy hợp tác đổi mới công nghệ, xây dựng mạng lưới công nghiệp năng lượng và kết nối con người. Những sáng kiến nhỏ nhưng biểu tượng như visa LMC, chương trình “Suối ngọt Lan Thương – Mekong” và các dự án xanh, sẽ tiếp tục được sử dụng để tạo hình ảnh thiện cảm và lòng tin từ phía người dân Mekong, như một biểu tượng công nghệ thuần túy, gắn kết thế hệ trẻ Mekong với Trung Quốc, thể hiện một chiến lược lâu dài, tinh tế và có hệ thống trong việc xây dựng ảnh hưởng xã hội – văn hóa tại khu vực.

Trong thập niên tới, Trung Quốc rất có khả năng triển khai thêm các cơ chế đa phương mới trong LMC, ví dụ thành lập trung tâm hòa giải pháp lý, pháp luật và an ninh, đẩy mạnh đối thoại cấp cao hơn nữa giữa các cơ quan lập pháp, tư pháp và cảnh sát các nước Mekong. Những trung tâm hợp tác như vậy sẽ giúp Trung Quốc định hình luật chơi khu vực theo lợi ích của mình, tạo cơ chế bền vững cho ảnh hưởng chính trị.

Trên khía cạnh kinh tế, xu hướng can dự của Trung Quốc vào Mekong trong năm 2025 cùng các cam kết hiện tại cho thấy Bắc Kinh sẽ tiếp tục khai thác tiềm năng kinh tế của tiểu vùng như một trung tâm kết nối hạ tầng quan trọng. Trung Quốc sẽ tiếp tục dùng dòng thương mại này như công cụ ảnh hưởng mở rộng mạng lưới công nghiệp, logistic, kết nối năng lượng và cung cấp vốn. Một trong những trọng tâm dự báo là hạ tầng kết nối. Trung Quốc có thể đẩy mạnh phát triển hành lang kinh tế, xây dựng thêm các đoạn đường sắt, cao tốc, cảng sông hoặc kênh đào chiến lược. Các dự án đã và đang phát triển giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực sẽ tiếp tục phát triển, nhiều khả năng sẽ được mở rộng hơn nữa về quy mô và mức đầu tư. Những dự án này không chỉ giảm chi phí vận tải mà còn mở ra tuyến đường thương mại mới, tăng cường khả năng tiếp cận Trung Quốc đến vịnh Thái Lan, đồng thời gia tăng vị thế chiến lược của Bắc Kinh trong lưu vực Mekong.

Bắc Kinh cũng được dự báo sẽ tiếp tục sử dụng các công cụ tài chính để điều hướng phát triển khu vực theo hướng thân Trung Quốc, nhìn rộng hơn thì đó giống như những món nợ ràng buộc, thắt chặt sự phối hợp thỏa thuận song phương. Thỏa thuận về Quỹ Hợp tác LMC sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng hỗ trợ các dự án năng lượng xanh, nước sạch, nâng cao năng lực sản xuất và phát triển con người, đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các định chế quốc tế như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á nơi Trung Quốc là trụ cột. Nhờ vậy, Trung Quốc sẽ tiếp tục dẫn dắt các dự án chi phí thấp, ảnh hưởng cao nhằm củng cố tầm ảnh hưởng địa kinh tế. Ngoài ra, Trung Quốc có thể mở rộng hợp tác công nghệ và chuyển giao tri thức, tận dụng thế mạnh công nghệ số và xanh. Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ thúc đẩy các sáng kiến hành lang đổi mới Mekong, hỗ trợ sáng kiến công nghệ số, năng lượng sạch, và giáo dục khoa học kỹ thuật cho các quốc gia Mekong. Điều này không chỉ giúp các nước Mekong phát triển bền vững mà còn đưa họ vào hệ sinh thái công nghệ gắn chặt với Trung Quốc, tạo ra sự phụ thuộc chiến lược về tri thức và hạ tầng kỹ thuật.

Về an ninh và quốc phòng, dự báo Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng can dự không phải qua triển khai quân sự truyền thống, mà thông qua các cơ chế an ninh phi truyền thống và hợp tác thực thi luật pháp. Trung Quốc đã và đang dần từng bước làm sâu sắc hóa hoạt động tuần tra chung, hợp tác cảnh sát và cơ quan thực thi pháp luật giữa các quốc gia Mekong, đặc biệt về tội phạm xuyên biên giới như lừa đảo trực tuyến, cờ bạc, buôn người. Trong tương lai, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục củng cố trung tâm này, mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời thúc đẩy cơ chế chia sẻ tình báo, đào tạo lực lượng an ninh và thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, Trung Quốc có thể phát triển các cơ chế an ninh mềm hơn như bảo vệ công dân ở nước ngoài một nội dung đã được nhắc tới trong tuyên bố chung LMC nhằm tạo niềm tin và kết nối chính trị sâu hơn với các quốc gia Mekong. Việc này cũng cho phép Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng an ninh mà không cần triển khai lực lượng quân sự quy mô lớn, vừa giảm chi phí, vừa tránh gây phản ứng mạnh mẽ từ các nước khác hoặc cộng đồng quốc tế.

Một điểm thú vị cần dự báo là Trung Quốc có thể sử dụng hợp tác an ninh phi truyền thống Mekong như một phần của chiến lược xây dựng trật tự an ninh khu vực theo mô hình Trung Quốc. Khi các rủi ro an ninh như biến đổi khí hậu, thiên tai, tội phạm xuyên biên giới ngày càng lớn, Trung Quốc có thể cam kết vai trò dẫn dắt trong quản trị rủi ro khu vực chia sẻ công nghệ dự báo lũ, hỗ trợ xây dựng cấu trúc chuẩn cảnh báo thiên tai, hỗ trợ cứu trợ khẩn cấp. Việc này không chỉ gia tăng uy tín mà còn kết nối mạnh mẽ các quốc gia Mekong vào các mạng an ninh quản trị do Trung Quốc dẫn dắt.

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, thực tế hơn thì luôn có những giới hạn và khó khăn nhất định cần phải làm rõ, ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chủ quyền, lãnh thổ và đời sống con người của các quốc gia. Về ngoại giao, mặc dù Trung Quốc có thể tiếp tục kiên trì với LMC, nhưng việc mở rộng ảnh hưởng thông qua thể chế hóa có thể vấp phải phản kháng nếu các nước Mekong cảm thấy mất cân bằng quyền lực hoặc lệ thuộc quá sâu. Sự phụ thuộc kinh tế và an ninh vào Trung Quốc có thể khiến các nước này bị tổn thương nếu Bắc Kinh quyết định rút lui một phần hoặc điều chỉnh ưu tiên đặc biệt nếu có áp lực từ các cường quốc khác hoặc khủng hoảng nội bộ Trung Quốc. Về kinh tế, mặc dù Trung Quốc có lợi thế về vốn và công nghệ, việc mở rộng hạ tầng, đặc biệt các dự án lớn như kênh đào Funan Techo, có thể gây ra phản ứng môi trường lớn, đặc biệt đối với các quốc gia như Việt Nam, nơi tác động tới lưu lượng sông, trầm tích và lũ lụt có thể ảnh hưởng sâu. Ngoài ra, các khoản đầu tư của Trung Quốc có thể dẫn tới tình trạng bẫy nợ nếu các nước Mekong vay lớn để xây hạ tầng theo mô hình Trung Quốc, họ có thể bị ràng buộc tài chính lâu dài. Đây là rủi ro chiến lược nếu Trung Quốc sử dụng các khoản vay để đặt điều kiện chính sách hoặc cấu trúc hợp tác thuận lợi cho quyền kiểm soát về lâu dài. Về an ninh, dù hợp tác phi truyền thống có lợi thế về chi phí và tính linh hoạt, nó cũng phụ thuộc rất lớn vào mức độ tin cậy chính trị giữa các quốc gia Mekong và Trung Quốc. Nếu niềm tin sụt hoặc nếu các quốc gia Mekong đánh giá lại lợi ích cân bằng giữa Trung Quốc và các đối tác khác như Mỹ, Nhật, Ấn … Trung Quốc có thể gặp khó khăn trong duy trì vai trò chủ đạo an ninh. Hơn nữa, việc Trung Quốc nắm vai trò lớn trong an ninh khu vực có thể vấp phải lo ngại về chủ quyền nếu được nhìn nhận như là một “an ninh ủy nhiệm”.

Nhìn về tương lai, có thể thấy Trung Quốc sẽ tiếp tục đẩy mạnh can dự vào tiểu vùng Mekong theo chiến lược đa chiều, thể chế hóa và lâu dài. Ngoại giao sẽ tiếp tục được sử dụng để nâng cao vai trò lãnh đạo LMC, trong khi kinh tế sẽ là công cụ trung tâm để liên kết mạng lưới hạ tầng, thương mại và tài chính Mekong với Trung Quốc. An ninh phi truyền thống sẽ là cách tiếp cận ưu tiên để Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng an ninh mà không cần triển khai quân sự truyền thống, bằng cách khởi tạo cơ chế hợp tác thực thi pháp luật, chia sẻ thông tin và đối thoại an ninh khu vực.

Nếu Trung Quốc thành công trong việc vận hành những chiến lược này, tiểu vùng Mekong nhiều khả năng sẽ càng trở nên gắn chặt về lợi ích với Trung Quốc cả về thương mại, công nghệ lẫn an ninh. Nhưng nếu các quốc gia Mekong không chủ động đa phương hóa đối tác hoặc đặt điều kiện mạnh mẽ hơn cho hợp tác, họ có thể mất một phần tự chủ chiến lược khi lệ thuộc ngày càng sâu vào mô hình hợp tác do Trung Quốc dẫn dắt. Vì vậy, các nước Mekong trong đó có Việt Nam nên cảnh giác nhưng cũng tận dụng cơ hội vừa hợp tác để phát triển, vừa đảm bảo rằng quan hệ với Trung Quốc không trở thành mối liên kết đơn chiều mà là quan hệ cân bằng chiến lược.

Tác động đối với khu vực và Việt Nam

Tác động của sự can dự này đối với khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng mang tính vừa tích cực, vừa tạo ra các thách thức nghiêm trọng đối với tự chủ chiến lược, an ninh nguồn nước và cân bằng quyền lực.

Trước hết, về tác động khu vực, sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua cơ chế Hợp tác Mekong – Lancang đã làm thay đổi cán cân quyền lực nội khối. Các khoản tín dụng ưu đãi, viện trợ và Quỹ hợp tác LMC được Trung Quốc phân bổ hằng năm tạo sức hút đối với các nước như Lào, Campuchia và Myanmar những quốc gia đang chịu áp lực nợ hoặc cần tài chính cho hạ tầng. Lào đang nợ Trung Quốc hơn 12,2 tỷ USD, tương đương 65% GDP, trong đó phần lớn liên quan đến dự án đường sắt Lào – Trung[14]. Điều này tạo ra sự phụ thuộc cấu trúc và làm gia tăng không gian để Bắc Kinh định hình chính sách đối ngoại của những quốc gia này theo hướng phù hợp lợi ích Trung Quốc.

Thứ hai, trên phương diện an ninh nguồn nước, Trung Quốc tác động rõ rệt đến dòng chính sông Mekong. Với 12 đập thủy điện lớn trên thượng nguồn Lan Thương, trong đó có các đập lớn như Tiểu Oản thủy trữ 15 tỷ m³ và Nỗ Trát Độ đến 21 tỷ m³, Trung Quốc hiện chiếm 85 % dung tích trữ của toàn bộ hệ thống hồ chứa phía Bắc, tức vùng thượng nguồn[15]. Việc vận hành các con đập này đã được ghi nhận gây ra dao động dòng chảy bất thường. Nhiều giai đoạn nước về hạ lưu thấp hơn mức tự nhiên dù lượng mưa tại thượng nguồn cao hàm ý rằng Trung Quốc đã điều tiết theo nhu cầu phát điện. Điều này tạo áp lực đáng kể đối với Campuchia, với hệ sinh thái hồ Tonle Sap và đồng bằng sông Cửu Long, nơi 65% phù sa phụ thuộc vào dòng chính.

Thứ ba, về cạnh tranh chiến lược, sự nổi lên của LMC đã làm suy yếu phần nào vai trò của các cơ chế do phương Tây và Nhật Bản dẫn dắt, như Mekong – Nhật Bản, Mekong – Mỹ (MUSP). LMC cung cấp tài chính nhanh hơn, ít điều kiện, phù hợp với nhu cầu phát triển hạ tầng của nhiều quốc gia, tạo ra lợi thế về thể chế cho Trung Quốc. Điều này dẫn đến tình trạng chia rẽ mềm trong ASEAN, khi Campuchia và Lào thường ủng hộ quan điểm của Trung Quốc tại các diễn đàn khu vực, trong khi Việt Nam và Thái Lan muốn duy trì cân bằng chiến lược. Sự can dự an ninh của Trung Quốc cũng thay đổi tương quan kiểm soát trong tiểu vùng. Việc Bắc Kinh thiết lập Trung tâm hợp tác thực thi pháp luật LMC và tiến hành hàng trăm chiến dịch trấn áp tội phạm xuyên biên giới với Myanmar, Thái Lan, Lào đã biến Trung Quốc thành nhà cung cấp an ninh phi truyền thống chủ đạo trong khu vực. Điều này có tính hai mặt góp phần giảm tội phạm xuyên biên giới, nhưng đồng thời khiến tiểu vùng phụ thuộc hơn vào năng lực tình báo và cảnh sát Trung Quốc, mở rộng không gian can thiệp của Bắc Kinh vào các vấn đề nội bộ.

Đối với Việt Nam, tác động của sự can dự này mang tính sâu sắc và dài hạn, nhất là trên ba phương diện là an ninh nguồn nước, kinh tế và môi trường chiến lược.

Thứ nhất, Việt Nam chịu tác động trực tiếp và nghiêm trọng nhất về an ninh nguồn nước và sinh thái Mekong. Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, 70% trái cây và 90% gạo xuất khẩu, phụ thuộc hoàn toàn vào dòng chảy tự nhiên và lượng phù sa của Mekong[16]. Khi Trung Quốc điều tiết nước tại thượng nguồn, kết hợp với hơn 60 đập thủy điện mà Lào đang và sẽ xây dựng trên dòng chính và dòng nhánh, dòng chảy về Việt Nam giảm mạnh, làm tăng xâm nhập mặn và giảm phù sa. Báo cáo năm 2024 cho thấy lượng phù sa về Việt Nam đã giảm trên 70% so với mức năm 2000, xâm nhập mặn mùa 2023 – 2024 diễn ra sớm hơn từ 1 đến 1,5 tháng[17]. Xu hướng này được dự báo sẽ nghiêm trọng hơn nếu Trung Quốc mở rộng vận hành các đập để phục vụ nhu cầu điện năng nội địa. Tình trạng điều tiết không minh bạch dù Trung Quốc đã chia sẻ dữ liệu thủy văn theo khuôn khổ LMC vẫn không đáp ứng được yêu cầu dự báo của Việt Nam vì dữ liệu chỉ được chia sẻ theo thời gian thực, không chia sẻ plan vận hành.

Thứ hai, về kinh tế, Việt Nam vừa hưởng lợi, vừa chịu rủi ro từ sự can dự sâu của Trung Quốc. Lợi ích nằm ở việc kết nối giao thương tốt hơn khi Trung Quốc thúc đẩy phát triển mạng lưới hạ tầng tiểu vùng. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với cạnh tranh gay gắt hơn từ việc Campuchia và Lào tiếp tục thu hút vốn Trung Quốc vào hạ tầng logistics và công nghiệp. Ví dụ, kênh đào Funan Techo một dự án trị giá 1,7 tỷ USD do Trung Quốc tài trợ sẽ giúp Campuchia giảm 30 – 35% chi phí vận tải và mở lối ra biển không qua Việt Nam[18]. Điều này có thể làm giảm vai trò trung chuyển truyền thống của Việt Nam đối với hàng hóa Campuchia, ảnh hưởng đến doanh thu dịch vụ cảng biển tại TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Bên cạnh đó, mạng lưới công nghiệp do Trung Quốc dẫn dắt qua Lào, Thái Lan và Myanmar có khả năng khiến Việt Nam mất lợi thế trong chuỗi cung ứng khu vực nếu không nâng cấp mạnh năng lực logistics và thể chế.

Thứ ba, về môi trường chiến lược, sự mở rộng can dự an ninh của Trung Quốc có thể tạo áp lực lên không gian hành động của Việt Nam. Việc Trung Quốc giữ vai trò trung tâm trong các chiến dịch an ninh chung LMC có thể dẫn đến xu hướng các nước Mekong ngày càng dựa vào Trung Quốc để bảo đảm an ninh phi truyền thống. Điều này làm giảm khả năng các nước phối hợp cân bằng với các đối tác ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản những đối tác quan trọng trong chính sách đa dạng hóa của Việt Nam. Ngoài ra, sự thể chế hóa LMC theo hướng Trung Quốc chi phối có thể khiến các vấn đề Mekong ngày càng tách khỏi cơ chế ASEAN, từ đó làm suy yếu vai trò chung của ASEAN trên các vấn đề chiến lược, bao gồm cả Biển Đông, một lợi ích sống còn của Việt Nam. Bên cạnh đó, kéo theo sự mở rộng ảnh hưởng xã hội và nhận thức của Trung Quốc trong khu vực. Các chương trình học bổng, viện Khổng Tử, các sáng kiến y tế Mekong, hợp tác thanh niên, vệ tinh Fudan No.1 đều gia tăng trực tiếp niềm tin xã hội đối với Trung Quốc. Việt Nam quốc gia có tỷ lệ dân số trẻ lớn cần chú ý nguy cơ chuyển biến môi trường nhận thức nếu không có chiến lược đối trọng bằng giáo dục, ngoại giao công chúng và tăng cường hợp tác học thuật với các đối tác đa dạng hơn.

Từ góc độ chiến lược lâu dài, Việt Nam phải đối diện với hai thách thức lớn. Một là nguy cơ mất đối xứng quyền lực trong đàm phán liên quan đến nước và môi trường. Khi Trung Quốc kiểm soát phần lớn lượng nước và phù sa, Việt Nam khó có lợi thế khi yêu cầu minh bạch dữ liệu hoặc điều chỉnh vận hành đập. Hai là nguy cơ thu hẹp không gian ngoại giao khi Campuchia và Lào nghiêng mạnh về phía Trung Quốc, khiến các cơ chế tiểu vùng không còn mang tính cân bằng. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ngày càng gay gắt, một tiểu vùng thiếu cân bằng sẽ không thể đóng vai trò đệm chiến lược, buộc Việt Nam phải gánh thêm áp lực địa chính trị.

Tuy vậy, sự can dự của Trung Quốc cũng mở ra cơ hội nhất định cho Việt Nam. Việt Nam có thể tận dụng các dự án LMC để tăng đầu tư vào hạ tầng xanh, chuyển đổi năng lượng và công nghệ số các lĩnh vực mà Trung Quốc có lợi thế. Đồng thời, Việt Nam có thể tranh thủ hợp tác về ứng phó lũ lụt, cảnh báo thiên tai, chia sẻ dữ liệu thủy văn, vốn là những ưu tiên chung của cả sáu nước. Quan trọng hơn, Việt Nam có thể nâng vị thế trong các cơ chế đối trọng như MUSP, Mekong – Nhật Bản và hợp tác Ấn Độ – Mekong để đa phương hóa nguồn lực và đảm bảo cân bằng chiến lược.

Sự can dự mạnh của Trung Quốc vào tiểu vùng Mekong là xu thế không thể đảo ngược, mang lại cả cơ hội phát triển và thách thức chiến lược.

Với Việt Nam, tác động sâu nhất đến từ an ninh nguồn nước và môi trường chiến lược, đòi hỏi cách tiếp cận chủ động hơn, nâng cấp năng lực nghiên cứu thủy văn sinh thái, xây dựng thể chế điều tiết nước, tăng hợp tác đa phương, và quan trọng nhất là duy trì thế cân bằng mềm giữa các cường quốc, để bảo đảm lợi ích sống còn của quốc gia ở đồng bằng sông Cửu Long và toàn bộ cấu trúc an ninh quốc gia.

Khuyến nghị với Việt Nam

Trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh ảnh hưởng tại Tiểu vùng sông Mekong, Việt Nam cần một bộ giải pháp vừa thực tiễn vừa mang tính chiến lược, kết hợp giữa ngoại giao nước, an ninh quốc phòng, hoạch định phát triển, kinh tế hạ tầng và ngoại giao đa phương. Những khuyến nghị dưới đây nhằm giúp Việt Nam chủ động ứng phó, giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi ích trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực gia tăng và thách thức nguồn nước ngày càng cấp bách.

Trước hết, Việt Nam cần coi an ninh nguồn nước ngang hàng với an ninh quốc phòng, coi đây là một trụ cột chiến lược trong bảo đảm phát triển bền vững và an ninh quốc gia. Dòng sông Mekong, với nguồn gốc từ Trung Quốc, đóng vai trò sống còn đối với Đồng bằng sông Cửu Long nơi chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản và đóng góp đáng kể vào GDP cả nước. Trong bối cảnh Trung Quốc kiểm soát các công trình thủy điện lớn việc chủ động bảo vệ quyền lợi hạ lưu trở thành yêu cầu tất yếu. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải tăng cường năng lực giám sát dòng chảy, xây dựng hệ thống quan trắc hiện đại tại các trạm biên giới, kết nối dữ liệu vệ tinh và tích hợp với các mô hình thủy văn  thủy lực tiên tiến. Khi có cơ sở dữ liệu độc lập, minh bạch và dự báo khoa học, Việt Nam sẽ giảm phụ thuộc vào thông tin từ Trung Quốc vốn thường không đầy đủ hoặc mang tính thời điểm. Đồng thời, Việt Nam cần thúc đẩy mở rộng cơ chế chia sẻ dữ liệu theo hướng bắt buộc, đồng thời vận động Trung Quốc nâng cấp cơ chế chia sẻ từ dữ liệu thời gian thực sang kế hoạch điều tiết nước theo mùa, tạo cơ sở dự báo hạn mặn, quản lý hồ chứa và hoạch định các biện pháp bảo vệ sinh kế. Bên cạnh hạ tầng kỹ thuật, Việt Nam cũng cần phát triển năng lực phân tích độc lập và dự báo liên ngành, kết hợp dữ liệu thủy văn với biến đổi khí hậu và các kịch bản mực nước biển dâng, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng. Chỉ khi có sự kết hợp đồng bộ giữa khoa học, công nghệ, cơ chế hợp tác đa phương và chính sách quốc gia, Việt Nam mới thực sự chủ động, bảo vệ hạ lưu, duy trì sinh kế và phát triển bền vững cho Đồng bằng sông Cửu Long trong dài hạn.

Thứ hai, Việt Nam cần đẩy mạnh ngoại giao nước mang tính thiết chế, thay vì chỉ dựa vào tiếp xúc song phương, nhằm nâng cao vị thế trong quản trị nguồn nước Mekong. Là thành viên tích cực của Ủy hội sông Mekong (MRC), Việt Nam có thể đề xuất cải thiện cơ chế Chương trình Ngăn ngừa Phổ biến Vũ khí Hóa học tại châu Á, đảm bảo các dự án thủy lợi, thủy điện hoặc phát triển hạ tầng của Lào và Campuchia phải trải qua quá trình tham vấn khoa học và minh bạch hơn, từ khâu đánh giá tác động đến giai đoạn vận hành. Điều này không chỉ bảo vệ lợi ích hạ lưu mà còn củng cố cơ sở pháp lý và chính sách cho Việt Nam trong hợp tác tiểu vùng. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chủ động khai thác các cơ chế tiểu vùng do đối tác ngoài khu vực dẫn dắt, như Mekong – Mỹ (MUSP), Mekong – Nhật Bản, Mekong – Hàn Quốc, nhằm tạo ra đối trọng với LMC do Trung Quốc chi phối. Thay vì coi đây là cạnh tranh, Việt Nam nên tích hợp các sáng kiến này thành mạng lưới bổ sung lẫn nhau, giúp nâng cao dư địa đàm phán, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật, và đồng thời gia tăng tiếng nói chung trong vấn đề chia sẻ nước. Việc kết hợp khéo léo các cơ chế đa phương sẽ giúp Việt Nam chủ động hơn, giảm áp lực từ thượng nguồn, đồng thời tối ưu hóa lợi ích từ các quan hệ đối tác chiến lược trong quản lý nguồn nước Mekong.

Thứ ba, Việt Nam phải xây dựng năng lực chống tổn thương cho Đồng bằng sông Cửu Long khu vực chịu tác động trực tiếp nhất từ việc điều tiết nước của Trung Quốc. Điều này bao gồm các giải pháp nâng cấp hạ tầng thủy lợi, đổi mới mô hình nông nghiệp và chuyển đổi sinh kế. Cần ưu tiên mô hình nông nghiệp thích ứng mặn –  ngọt linh hoạt, phát triển các giống lúa, trái cây và thủy sản chịu mặn, đồng thời hỗ trợ người dân chuyển nghề sang các lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp nhẹ hoặc kinh tế xanh. Chính phủ cần đẩy mạnh các dự án liên kết vùng, như đê biển Tây, các hệ thống cống kiểm soát mặn quy mô lớn, hay các tuyến cao tốc kết nối vùng để giảm chi phí logistics và tạo động lực phát triển kinh tế. Việc huy động nguồn lực từ các quỹ khí hậu quốc tế như GCF và JICA sẽ giúp Việt Nam có thêm nguồn lực để xây dựng hệ thống thích ứng dài hạn.

Thứ tư, Việt Nam cần có chiến lược kinh tế toàn diện đối với sự mở rộng của Trung Quốc trong tiểu vùng. Trước các dự án hạ tầng lớn hoặc mạng lưới giao thông xuyên biên giới, Việt Nam phải đối mặt với rủi ro giảm vai trò trung chuyển. Vì vậy, khuyến nghị đặt ra là đầu tư mạnh hơn vào hệ thống cảng biển nước sâu, nâng cấp logistics vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển cảng Trần Đề và tăng cường kết nối đường sắt với TP. Hồ Chí Minh và Tây Nguyên. Việt Nam cũng cần thiết lập các khu hợp tác kinh tế biên giới với Campuchia và Lào, nhằm duy trì vai trò trung tâm của Việt Nam trong chuỗi cung ứng tiểu vùng. Đồng thời, tăng cường tiêu chuẩn quản trị, cải thiện môi trường đầu tư sẽ giúp Việt Nam không bị cạnh tranh bởi các khu công nghiệp do Trung Quốc tài trợ tại Lào và Campuchia.

Thứ năm, về mặt an ninh quốc phòng, Việt Nam phải theo đuổi chính sách đa dạng hóa quan hệ an ninh phi truyền thống để giảm rủi ro phụ thuộc vào bất kỳ nước lớn nào. Việc Trung Quốc triển khai các chiến dịch an ninh LMC cho thấy xu hướng trở thành nhà cung cấp an ninh trong tiểu vùng, do đó Việt Nam cần tăng cường hợp tác thực thi pháp luật, chống tội phạm xuyên biên giới và chống buôn người với Mỹ, Nhật Bản, EU, Australia và các tổ chức khu vực. Đồng thời, Việt Nam phải chủ động xây dựng năng lực an ninh biên giới tự chủ thông qua tăng cường giám sát công nghệ cao, chia sẻ thông tin tình báo với ASEAN và phát triển lực lượng chấp pháp mạnh ở khu vực biên giới với Lào và Campuchia.

Thứ sáu, Việt Nam cần chú trọng ngoại giao xã hội – nhận thức. Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng mềm thông qua học bổng, viện Khổng Tử, hợp tác thanh niên và truyền thông. Để đối phó, Việt Nam cần mở rộng hợp tác học thuật với Nhật Bản, Hàn Quốc, EU; tăng chương trình trao đổi sinh viên với Mỹ và hỗ trợ các trường đại học trong nước xây dựng trung tâm nghiên cứu Mekong độc lập, nhằm nâng cao chất lượng tư vấn chính sách và giảm phụ thuộc vào nguồn tri thức từ phía Trung Quốc. Ngoài ra, cần củng cố truyền thông đối ngoại để phổ biến thông tin chính xác về thách thức nguồn nước, từ đó nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo đồng thuận xã hội cho các chính sách an ninh nguồn nước. Việt Nam cần đẩy mạnh quy hoạch tổng thể quốc gia gắn với chiến lược Mekong. Quy hoạch 2021 – 2030 cần được cập nhật để tính đến các rủi ro mới từ việc Trung Quốc tăng điều tiết nước và các nước thượng nguồn mở rộng thủy điện. Các kịch bản biến đổi khí hậu và kịch bản thiếu nước phải được tích hợp vào quy hoạch ngành nông nghiệp, năng lượng, đô thị và công nghiệp. Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng Luật Tài nguyên nước và ban hành các nghị định hướng dẫn nhằm thể chế hóa “an ninh nguồn nước” như một trụ cột phát triển bền vững.

Việc Việt Nam kiên trì theo đuổi chiến lược cân bằng. Trong môi trường cạnh tranh Mỹ – Trung là điều kiện tiên quyết, Việt Nam không thể nghiêng hẳn về bất kỳ bên nào mà cần duy trì thế trung lập tích cực hợp tác kinh tế với Trung Quốc, tăng cường an ninh với Mỹ và đồng minh, và củng cố ASEAN như nền tảng cho sự ổn định khu vực. Cách tiếp cận này cho phép Việt Nam tránh bị cuốn vào cạnh tranh chiến lược nhưng vẫn bảo vệ được lợi ích cốt lõi về an ninh nước và chủ quyền.

Để ứng phó với sự can dự ngày càng mạnh của Trung Quốc tại tiểu vùng Mekong, Việt Nam cần một bộ giải pháp tổng hợp, kết hợp giữa sức mạnh nội tại và hợp tác quốc tế, giữa chính sách đối ngoại và phát triển bền vững trong nước. Chỉ bằng cách nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, Việt Nam mới có thể bảo đảm lợi ích quốc gia, bảo vệ đồng bằng sông Cửu Long và duy trì vị thế quan trọng trong cấu trúc khu vực đang thay đổi nhanh chóng.

Kết luận

Chiến lược can dự của Trung Quốc tại tiểu vùng sông Mekong năm 2025 giống như một ván cờ nhiều lớp vừa cài đặt đèn xanh về kinh tế, vừa đặt cọc về an ninh, đồng thời thiết lập các thể chế hợp tác dài hơi để đảm bảo Bắc Kinh giữ vai trò dẫn dắt mà không cần bày quân. Từ các kênh ngoại giao song phương, đầu tư hạ tầng, quỹ phát triển đến các sáng kiến biểu tượng như tuần tra chung, dự án xanh hay chương trình, Trung Quốc đang kết hợp tinh tế quyền lực mềm, sức mạnh pháp luật và kiểm soát nguồn nước để tạo ra ảnh hưởng lâu dài, gần như vô hình nhưng rất thực tế. Với Việt Nam, điều này vừa là lời nhắc về tầm quan trọng của chủ động trong quản trị nước, hợp tác đa phương và chiến lược kinh tế, vừa mở ra cơ hội để phát triển các giải pháp kết nối thông minh, vừa bảo vệ lợi ích địa phương, vừa giữ vai trò chủ động trên bàn cờ Mekong./.

Tác giả: Trương Quốc Lượng

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]

Tài liệu tham khảo

[1] Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China. (2025). Wang Yi: The next decade of Lancang-Mekong Cooperation holds promising prospects. https://www.mfa.gov.cn/mfa_eng/wjbzhd/202508/t20250817_11691366.html

[2] Hoang Thi Ha. (2025). China’s Statecraft through the Lancang-Mekong Cooperation: Building a Sino-Centric Regional Order. NBR – Mapping China’s Strategic Space. https://strategicspace.nbr.org/chinas-statecraft-through-the-lancang-mekong-cooperation-building-a-sino-centric-regional-order/

[3]  Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China. (2025). Wang Yi: Lancang‑Mekong Cooperation Has Delivered Fruitful Results in the Past Decade. https://www.fmprc.gov.cn/eng/gjhdq_665435/2675_665437/2787_663568/2789_663572/202508/t20250816_11691220.html

[4] Lancang‑Mekong Cooperation. (2025). LMC Week 2025. China.org.cn. http://www.lmcchina.org/node_1016500.html

[5] Mekong Institute. (2025). China hosts national consultation on MI’s new Strategic Plan. https://mekonginstitute.org/china-hosts-national-consultation-on-mis-new-strategic-plan/

[6] Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China. (2025). Xi Jinping Meets with President of the Cambodian People’s Party and President of the Senate Samdech Techo Hun Sen. https://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/xw/zyxw/202504/t20250418_11596882.html

[7] VietnamPlus. (2025). Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc. https://www.vietnamplus.vn/toan-van-tuyen-bo-chung-viet-nam-trung-quoc-post1029902.vnp

[8] Science and Technology Daily. (2025). Lancang‑Mekong Cooperation expands regional ties. https://www.stdaily.com/web/English/2025-04/24/content_327453.html

[9] Fudan University. (2024). Fudan No.1 Lancang‑Mekong Future Satellite launched. https://www.fudan.edu.cn/en/2024/0925/c344a142283/page.htm

[10] State Council of the People’s Republic of China. (2025). China, Laos sign cooperation agreement for 2025 LMC Special Fund. https://english.www.gov.cn/english.www.gov.cn/news/202507/16/content_WS68775e68c6d0868f4e8f4371.html

[11] Fresh News. (2025). The Mekong‑Lancang Cooperation Special Fund 2025 to Support Eleven Projects Proposed by Cambodia: Foreign Ministry. https://en.freshnewsasia.com/index.php/en/localnews/63904-2025-09-18-02-06-18.html

[12] Embassy of the People’s Republic of China in Myanmar. (2025). China and Myanmar Sign an Agreement of Cooperation on Projects of Lancang-Mekong Cooperation (LMC) Special Fund (2025). https://mm.china-embassy.gov.cn/eng/sgxw/202508/t20250808_11686983.htm

[13] Lancang–Mekong Cooperation. (2025). 159th joint patrol of Mekong River begins. http://www.lmcchina.org/eng/2025-11/26/content_43288160.html

[14] Mahtani, S. (2023). China’s promise of prosperity brought Laos debt — and distress. The Washington Post. https://www.washingtonpost.com/world/interactive/2023/laos-debt-china-belt-road/

[15] Vu, D. T., Dang, T. D., Galelli, S., & Hossain, F. (2022). Satellite observations reveal 13 years of reservoir filling strategies, operating rules, and hydrological alterations in the Upper Mekong River basin. Hydrology and Earth System Sciences, 26, 2345–2364. https://hess.copernicus.org/articles/26/2345/2022/

[16] Tạp chí Tài nguyên & Môi trường. (2023). Biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long. https://nnmt.net.vn/tai-nguyen-nuoc-luu-vuc-song-cuu-long-truoc-bien-doi-khi-hau#

[17] Feng, Y., et al. (2024). Severe decline in extent and seasonality of the Mekong plume. Journal of Hydrology. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0022169424014227

[18] Tin tức Thông tấn xã Việt Nam. (2024). Campuchia khởi công dự án kênh đào Funan Techo. https://baotintuc.vn/the-gioi/campuchia-khoi-cong-du-an-kenh-dao-funan-techo-20240805144953566.htm

Tags: Mê Kông - Lan ThươngTiểu vùng sông MekongTrung Quốc
ShareTweetShare
Bài trước

Quan hệ Nga – Mỹ năm 2025, dự báo năm 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/09/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Nhìn nhận về quan hệ Nga – Triều hiện nay: Vị thế của một tiểu cường sở hữu vũ khí hạt nhân

Nhìn nhận về quan hệ Nga – Triều hiện nay: Vị thế của một tiểu cường sở hữu vũ khí hạt nhân

1
Nhận thức và cách ứng phó của Mỹ đối với “Con đường Tơ lụa  Kỹ thuật số” của Trung Quốc tại Đông Nam Á

Nhìn lại thực tiễn chính sách của Trung Quốc tại tiểu vùng sông Mekong trong năm 2025

03/01/2026
Cuộc gặp Thượng Đỉnh Mỹ – Nga và xu hướng xung đột Nga – Ukraine

Quan hệ Nga – Mỹ năm 2025, dự báo năm 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/01/2026
Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần đầu)

Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần cuối)

30/12/2025
Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần đầu)

Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần đầu)

29/12/2025
Những biến số mới về an ninh trong xung đột Thái Lan – Campuchia và những vấn đề đặt ra với Việt Nam

Những biến số mới về an ninh trong xung đột Thái Lan – Campuchia và những vấn đề đặt ra với Việt Nam

27/12/2025
Chính sách Đông Nam Á của Nga trong bối cảnh thích ứng với chính sách Đông Nam Á của Mỹ thời Trump 2.0

Chính sách Đông Nam Á của Nga trong bối cảnh thích ứng với chính sách Đông Nam Á của Mỹ thời Trump 2.0

25/12/2025
Điều chỉnh chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc trong bối cảnh thích ứng với những điều chỉnh chính sách Đông Nam Á của Trump 2.0

Điều chỉnh chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc trong bối cảnh thích ứng với những điều chỉnh chính sách Đông Nam Á của Trump 2.0

23/12/2025
Chính sách của EU đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Tình hình triển khai năm 2025 và một số dự báo năm 2026

Chính sách của EU đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Tình hình triển khai năm 2025 và một số dự báo năm 2026

21/12/2025

Tin Mới

Nhận thức và cách ứng phó của Mỹ đối với “Con đường Tơ lụa  Kỹ thuật số” của Trung Quốc tại Đông Nam Á

Nhìn lại thực tiễn chính sách của Trung Quốc tại tiểu vùng sông Mekong trong năm 2025

03/01/2026
70
Cuộc gặp Thượng Đỉnh Mỹ – Nga và xu hướng xung đột Nga – Ukraine

Quan hệ Nga – Mỹ năm 2025, dự báo năm 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/01/2026
259
Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần đầu)

Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần cuối)

30/12/2025
213
Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần đầu)

Cục diện thế giới và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2025, dự báo 2026 và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (Phần đầu)

29/12/2025
364

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Bầu cử tổng thống mỹ
  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Podcasts
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.