Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Lĩnh vực

Quan điểm của châu Âu về cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran

20/03/2026
in Lĩnh vực
A A
0
Quan điểm của châu Âu về cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran
0
SHARES
31
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Chiến sự giữa liên minh Mỹ – Israel và Iran bùng nổ vào tháng 3/2026 đã tạo ra một sự đứt gãy nghiêm trọng đối với cấu trúc an ninh khu vực Trung Đông, đồng thời gia tăng các yếu tố bất định trong quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh đó, Liên minh châu Âu (EU) phải đối mặt với một thế lưỡng nan bởi vừa gắn bó chặt chẽ với Mỹ, vừa theo đuổi mục tiêu tự chủ chiến lược. Sự đan xen giữa các lợi ích và ràng buộc này đã trở thành một bài toán chính sách phức tạp đối với EU. Do vậy, việc phân tích quan điểm và mức độ can dự của EU cùng một số quốc gia châu Âu đối với cuộc chiến không chỉ góp phần làm rõ cách tiếp cận của châu Âu mà còn giúp nhận diện những tính toán chiến lược của khu vực này trong quá trình thích ứng với những biến động của trật tự thế giới đương đại.

Động thái can thiệp của EU và một số nước châu Âu

Mục đích, ý định

Trước hết, về mục đích can thiệp của EU và các quốc gia châu Âu trọng tâm hướng tới việc ngăn chặn sự sụp đổ của cấu trúc an ninh khu vực Trung Đông. Trong nhiều năm qua, EU đã đóng vai trò quan trọng trong các nỗ lực ngoại giao liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran mà đáng chú ý nhất là góp phần xây dựng Kế hoạch Hành động Toàn diện chung (JCPOA). Vì vậy, một cuộc chiến tranh quy mô lớn giữa Iran với liên minh Mỹ – Israel có nguy cơ làm phá vỡ hoàn toàn các khuôn khổ ngoại giao đã được xây dựng đồng thời kích hoạt một hiệu ứng “domino” xung đột tại khu vực được coi như cửa ngõ phía Nam của châu Âu. Những lo ngại này đã được nhiều quan chức châu Âu công khai đề cập. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đưa ra cảnh báo rằng một cuộc đối đầu trực tiếp giữa Iran và Israel có thể dẫn tới một cuộc chiến khu vực với những hậu quả không thể kiểm soát, đồng thời kêu gọi các bên quay trở lại các cơ chế đối thoại ngoại giao[1]. Nếu Iran bị đẩy vào tình thế bị cô lập, xung đột có thể lan rộng sang các quốc gia lân cận đẩy Trung Đông lặp lại một giai đoạn hỗn loạn từ đó làm gia tăng các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đối với châu Âu.

Bên cạnh các tính toán an ninh, một mục tiêu khác của EU và các nước châu Âu khi can thiệp vào cuộc chiến là nhằm bảo vệ lợi ích về năng lượng và kinh tế. Trung Đông vẫn giữ vai trò then chốt đối với thị trường năng lượng toàn cầu thông qua tuyến vận tải chiến lược tại eo biển Hormuz với khoảng 20% lượng dầu mỏ giao dịch toàn cầu được vận chuyển mỗi ngày. Theo các cảnh báo của Goldman Sachs nếu tuyến hàng hải này bị gián đoạn kéo dài, giá dầu có thể nhanh chóng vượt ngưỡng 100 USD/thùng và gây ra cú sốc đối với nhiều nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng trong khối EU[2]. Những lo ngại này có căn cứ bởi EU vẫn đang trong quá trình phục hồi sau cuộc khủng hoảng năng lượng do xung đột Nga – Ukraine gây ra. Tính từ sau năm 2022, giá khí đốt tại châu Âu đã từng tăng gấp nhiều lần buộc EU phải chi hàng trăm tỷ euro cho các gói hỗ trợ năng lượng. Do đó, việc tránh một cú sốc năng lượng mới trở thành ưu tiên hàng đầu đối với giới hoạch định chính sách châu Âu. Đồng thời, sự ổn định của các tuyến hàng hải tại Vịnh Ba Tư và Đông Địa Trung Hải cũng có ý nghĩa sống còn đối với chuỗi cung ứng thương mại giữa châu Âu và châu Á.

Ngoài yếu tố kinh tế, châu Âu cũng đặc biệt quan tâm đến nguy cơ bùng phát một làn sóng di cư mới từ Trung Đông nếu xung đột lan rộng. Bài học từ cuộc khủng hoảng tị nạn năm 2015 cho thấy những biến động lớn tại khu vực Trung Đông có thể nhanh chóng kéo theo dòng người tị nạn lớn tràn vào châu Âu. Theo số liệu của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR), chỉ riêng trong giai đoạn 2015–2016 đã có hơn 1,3 triệu người tị nạn và di cư đến châu Âu, phần lớn xuất phát từ Syria, Afghanistan và Iraq[3]. Làn sóng di cư này đã gây ra áp lực lớn đối với hệ thống tiếp nhận của nhiều quốc gia EU, đồng thời làm gia tăng các tranh cãi chính trị nội bộ và góp phần thúc đẩy sự trỗi dậy của các đảng phái dân túy tại châu Âu.

Song song với đó, EU cũng tranh thủ tình hình để tìm cách duy trì vai trò một cực “quyền lực mềm”. Với nỗ lực xây dựng hình ảnh của một bên trung gian thúc đẩy đối thoại và giải quyết xung đột thông qua các công cụ ngoại giao và pháp lý. Giữa lúc chính quyền Tổng thống Donald Trump theo đuổi cách tiếp cận cứng rắn hơn đối với Iran, nhiều nhà lãnh đạo châu Âu lại mong muốn giữ một khoảng cách nhất định với các hành động quân sự của Mỹ.

Mức độ can thiệp

Xét về mức độ can thiệp, phản ứng của EU và một số quốc gia châu Âu đối với cuộc chiến không hoàn toàn thống nhất mà thể hiện sự phân hóa đáng kể giữa các quốc gia. Nhìn chung, sự can dự của châu Âu chủ yếu tập trung vào ba chiều cạnh: ngoại giao, quân sự và kinh tế.

Trước hết, ở mức độ can thiệp ngoại giao, các nước châu Âu thể hiện những quan điểm khác nhau về cách tiếp cận đối với cuộc chiến. Những quốc gia có quan hệ an ninh chặt chẽ với Mỹ như Anh có xu hướng thể hiện lập trường cứng rắn hơn khi nhấn mạnh sự cần thiết phải kiềm chế Iran. Thủ tướng Anh Keir Starmer tuyên bố rằng Israel có quyền tự vệ trước các mối đe dọa tên lửa và máy bay không người lái từ Iran và các lực lượng ủy nhiệm[4]. Tuy nhiên, ngay cả trong nhóm quốc gia có lập trường tương đối cứng rắn này, sự ủng hộ chủ yếu mang tính chính trị và ngoại giao thay vì tham gia trực tiếp vào các chiến dịch tấn công quân sự. Ngược lại, nhóm quốc gia chủ chốt của EU như Pháp, Đức và Ý lựa chọn cách tiếp cận thận trọng hơn khi kêu gọi kiềm chế leo thang và thúc đẩy giải pháp ngoại giao. Thủ tướng Đức Friedrich Merz cảnh báo một cuộc đối đầu trực tiếp giữa Israel và Iran có thể kéo toàn bộ khu vực Trung Đông vào một cuộc chiến quy mô lớn với hậu quả khó lường[5]. Điều đó cho thấy các nước châu Âu vẫn thận trọng trong việc tránh bị cuốn vào một cuộc chiến tranh khu vực có khả năng kéo dài và khó kiểm soát.

Ở mức độ can thiệp quân sự, châu Âu nhìn chung chỉ tham gia ở mức độ phòng vệ thay vì tham gia vào các chiến dịch tấn công nhằm vào Iran. Lực lượng quân sự châu Âu trong khu vực Trung Đông chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ căn cứ quân sự, bảo đảm an ninh hàng hải và hỗ trợ phòng thủ cho các đồng minh. Có thể kể đến sự góp mặt của lực lượng không quân Anh triển khai tại căn cứ RAF Akrotiri ở Cyprus đã tham gia các hoạt động phòng không nhằm đánh chặn máy bay không người lái và tên lửa bay qua khu vực Đông Địa Trung Hải. Ngoài Anh, một số quốc gia châu Âu khác cũng duy trì sự hiện diện quân sự hạn chế như Pháp hiện duy trì khoảng 700 binh sĩ tại Lebanon trong khuôn khổ lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. Những hoạt động này cho thấy châu Âu sẵn sàng tham gia vào các nhiệm vụ phòng vệ và bảo vệ lợi ích chiến lược của mình nhưng vẫn tránh vượt qua “lằn ranh đỏ”.

Ngoài các biện pháp can thiệp răn đe cứng, châu Âu cũng sử dụng các công cụ kinh tế và trừng phạt nhằm gây sức ép đối với Iran. Trong đó biện pháp mở rộng các lệnh trừng phạt đối với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) với cáo buộc lực lượng này là “tổ chức khủng bố” đóng vai trò hỗ trợ các nhóm vũ trang thân Iran tại Trung Đông[6]. Theo các quyết định của Hội đồng châu Âu (EC), EU đã áp đặt các biện pháp trừng phạt bao gồm đóng băng tài sản và hạn chế đi lại đối với nhiều cá nhân và tổ chức liên quan đến lực lượng này. Tuy nhiên, khác với cách tiếp cận cứng rắn của Mỹ, EU nhìn chung vẫn phản đối việc mở rộng trừng phạt ở mức độ có thể gây ra sự sụp đổ hoàn toàn của nền kinh tế Iran. Quan điểm này được người Đại diện cấp cao phụ trách chính sách đối ngoại của EU bà Kaja Kallas cho biết mục tiêu của các biện pháp trừng phạt là gây áp lực nhằm thay đổi hành vi, chứ không phải đẩy một quốc gia vào tình trạng sụp đổ kinh tế và hỗn loạn[7].

Phương án, cơ chế, biện pháp can thiệp

Về phương án và cơ chế can thiệp, một số quốc gia châu Âu đã triển khai các lực lượng quân sự nhằm bảo vệ lợi ích của mình và ổn định các tuyến hàng hải chiến lược. Ngay sau khi cuộc chiến bùng nổ, Pháp đã sớm điều động nhóm tác chiến tàu sân bay Charles de Gaulle (R91) cùng các tàu khu trục hộ tống tới khu vực Đông Địa Trung Hải. Nhóm tác chiến này thường bao gồm từ 8 đến 10 tàu chiến cùng khoảng 3.000 quân nhân và hơn 30 máy bay chiến đấu Rafale M[8]. Sát cánh cùng với Pháp, nhiều quốc gia châu Âu cũng tăng cường sự hiện diện hải quân tại khu vực nhằm bảo vệ hoạt động thương mại quốc tế. Hãng tin Ansa (Ý) đưa tin, Ý sẽ đảm nhận quyền chỉ huy chiến dịch an ninh hàng hải Aspides của EU với sự tham gia của tàu Rizzo trong việc hộ tống an toàn cho các tàu thương mại từ châu Âu qua eo biển Hozmur. Hiện các nước như Bỉ, Đức, Hy Lạp, Hà Lan và Thụy Điển cũng tham gia hoạt động này[9].

Song hành với việc triển khai lực lượng, EU cũng xem xét kích hoạt các cơ chế an ninh nội bộ. Một trong những cơ chế quan trọng được nhắc tới là viện dẫn đến Điều 5 của Hiệp ước phòng thủ chung NATO quy định rằng nếu một quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang thì các thành viên khác có nghĩa vụ hỗ trợ bằng mọi phương tiện có thể[10]. Những cuộc thảo luận trong EU đã đề cập đến khả năng sử dụng cơ chế này sau khi căn cứ quân sự của Pháp tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và của Anh tại Cyprus trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công được cho là đòn trả đũa từ Iran[11]. Mặc dù chưa được chính thức kích hoạt, song việc thảo luận về khả năng sử dụng nó cho thấy quyết tâm của châu Âu trong việc bảo vệ an ninh cho các quốc gia thành viên.

Bên cạnh các biện pháp an ninh, can thiệp ngoại giao tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong cách tiếp cận của châu Âu. EU sử dụng các diễn đàn quốc tế để kêu gọi ngừng bắn, giảm leo thang và thúc đẩy đối thoại giữa các bên liên quan. Ngày 5/3, ngoại trưởng các nước EU và vùng Vịnh đã có cuộc họp khẩn kêu gọi Iran lập tức chấm dứt các cuộc tấn công trên khắp khu vực[12]. Chủ tịch Ủy ban châu Âu bà Ursula von der Leyen, nhấn mạnh ưu tiên của EU là ngăn chặn sự lan rộng của xung đột và bảo vệ ổn định khu vực thông qua các công cụ ngoại giao và hợp tác quốc tế[13].

Tác động của việc châu Âu can thiệp

Ảnh hưởng tới cán cân lực lượng, xu hướng xung đột

Trước hết, quan điểm can thiệp mang tính hạn chế của EU đã ảnh hưởng đáng kể tới cán cân lực lượng và xu hướng phát triển của xung đột. Lập trường thận trọng của các cường quốc châu Âu như Pháp, Đức và Anh đã góp phần giới hạn phạm vi liên minh quân sự do Mỹ dẫn đầu. Tổng thống Emmanuel Macron trước đó nhận định chiến dịch quân sự nhằm vào Iran diễn ra ngoài khuôn khổ luật pháp quốc tế[14]. Thủ tướng Anh Keir Starmer cho rằng Anh sẽ luôn phải hành động trên cơ sở luật pháp và một kế hoạch thấu đáo[15]. Lập trường này có ý nghĩa quan trọng về pháp lý bởi nó làm suy giảm mức độ chính danh của chiến dịch quân sự do Mỹ và Israel khởi xướng. Trong bối cảnh Hiến chương Liên Hợp Quốc dù đang bị suy yếu những vẫn là nền tảng quan trọng của trật tự quốc tế, việc thiếu sự ủng hộ rõ ràng từ các cường quốc châu Âu khiến Mỹ và Israel phải đối mặt với áp lực ngoại giao và pháp lý lớn hơn trên trường quốc tế.

Theo phân tích của Giáo sư Charles Kupchan tại Đại học Georgetown, các cuộc không kích của liên minh Mỹ – Israel chủ yếu nhằm các cơ sở liên quan tới chương trình hạt nhân và hệ thống tên lửa tầm trung của Iran, thay vì mở rộng sang các mục tiêu mang tính thay đổi chế độ[16]. Điều này cho thấy quy mô và mục tiêu của chiến dịch đã được kiềm chế đáng kể so với các kịch bản leo thang toàn diện. Điều này khiến khiến Mỹ khó có thể huy động được một liên minh quân sự rộng lớn tương tự như trong cách nước này can thiệp và Iraq trước đây.

Bên cạnh yếu tố pháp lý, lập trường của châu Âu cũng góp phần làm giảm tính chất leo thang của cuộc chiến. Lập trường này cho thấy các đồng minh châu Âu cố gắng duy trì sự cân bằng giữa việc ủng hộ an ninh của Israel với việc tránh bị cuốn vào một cuộc chiến tranh toàn diện với Iran. Trong thực tế, nhiều hoạt động quân sự của châu Âu chỉ giới hạn ở phòng thủ. Điều này có thể thấy ở việc Anh triển khai lực lượng Không quân tới các căn cứ tại Cyprus và Qatar nhưng chỉ giới hạn trong các nhiệm vụ phòng vệ như đánh chặn tên lửa và máy bay không người lái của Iran nhằm bảo vệ các đồng minh Arab.

Nhìn tổng thể, cách tiếp cận thận trọng của các nước châu Âu đã giúp ngăn chặn kịch bản một cuộc chiến tranh quy mô lớn có thể gây ra sự tàn phá nghiêm trọng đối với khu vực Trung Đông. Nếu Pháp, Đức và Anh tham gia trực tiếp vào các chiến dịch tấn công quy mô lớn, liên minh quân sự do Mỹ dẫn đầu sẽ có ưu thế áp đảo hơn nhiều cả về lực lượng hải – không quân lẫn hậu cần chiến lược. Tuy nhiên, việc châu Âu lựa chọn vai trò phòng vệ và kiểm soát leo thang đã góp phần giữ cho cuộc chiến mang tính giới hạn hơn về quy mô ít nhất trong giai đoạn đầu.

Tác động tới cạnh tranh chiến lược Đông – Tây

Bên cạnh tác động đối với diễn biến quân sự trên chiến trường, quan điểm của EU và một số quốc gia châu Âu cũng tạo ra ảnh hưởng đáng kể đến cục diện cạnh tranh nước lớn giữa các trung tâm quyền lực. Sự khác biệt trong cách tiếp cận đối với cuộc chiến giữa Mỹ, Israel và Iran không chỉ phản ánh những bất đồng về phương thức sử dụng vũ lực, mà còn làm nổi bật những rạn nứt tiềm ẩn trong quan hệ liên minh xuyên Đại Tây Dương. Khi các quốc gia phương Tây không thể duy trì một lập trường thống nhất đối với việc sử dụng sức mạnh quân sự, uy tín của khái niệm “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” cũng phần nào bị suy giảm. Khi các quốc gia phương Tây không duy trì được một lập trường thống nhất đối với việc sử dụng vũ lực, nhiều quốc gia bắt đầu đặt câu hỏi về tính nhất quán của các chuẩn tắc quốc tế do phương Tây đề xướng. Điều này tạo ra khoảng trống để các quốc gia ngoài phương Tây khai thác nhằm gia tăng ảnh hưởng trong hệ thống quốc tế.

Đối với Nga cuộc khủng hoảng tại Trung Đông mang lại một số lợi thế nhất định. Khi Mỹ và châu Âu phải phân tán nguồn lực sang khu vực Trung Đông, mức độ tập trung của phương Tây đối với cuộc chiến tại Ukraine có xu hướng giảm xuống. Theo phân tích của hãng tin ABC News chiến sự tại Trung Đông và việc Iran đóng cửa eo biển Hozmur đã tạo thuận lợi cho Nga từ việc xuất khẩu năng lượng. Giá dầu thô Urals của Nga đã tăng lên 72 USD/thùng, cao hơn mức 40 USD vào tháng 12 năm ngoái. Phát biểu trên truyền hình Nga, Tổng thống Vladimir Putin đã tận dụng cơ hội để quảng bá Nga như một nhà cung cấp dầu mỏ và đưa ra lời mời đối với EU[17]. Sự gia tăng này mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách của Nga. Theo số liệu từ Bộ Tài chính Nga, doanh thu từ dầu khí vẫn chiếm khoảng 30–35% ngân sách liên bang. Vì vậy, việc giá năng lượng tăng cao đã góp phần củng cố năng lực tài chính của Nga trong việc duy trì các hoạt động quân sự[18].

Tương tự, Trung Quốc cũng tìm cách tận dụng những bất đồng giữa Mỹ và châu Âu để gia tăng ảnh hưởng. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc bà Mao Ninh đã lên án chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel là hành động can thiệp bất hợp pháp, đồng thời kêu gọi giải quyết tranh chấp thông qua các cơ chế ngoại giao và đa phương[19]. Lập trường đó phần nào tương đồng với cách tiếp cận thận trọng của một số quốc gia châu Âu, qua đó giúp Trung Quốc củng cố hình ảnh như một tác nhân ủng hộ chủ nghĩa đa phương và ổn định quốc tế. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang phát triển ngày càng hoài nghi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của phương Tây, việc phương Tây thể hiện sự thiếu thống nhất trong xử lý các cuộc khủng hoảng an ninh tại Trung Đông và Đông Âu có thể tạo điều kiện để Trung Quốc gia tăng sức hấp dẫn ngoại giao và mở rộng quan hệ với các nước thuộc “phương Nam toàn cầu”.

Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng cũng thúc đẩy xu hướng tái định hình vai trò chiến lược của châu Âu trong cấu trúc quyền lực quốc tế. Trong nhiều năm qua, EU đã nghiêm túc theo đuổi năng lực “tự chủ chiến lược” nhằm giảm sự phụ thuộc vào chiếc ô an ninh của Mỹ. Những khác biệt trong cách tiếp cận đối với Iran càng làm nổi bật nhu cầu của châu Âu trong việc tăng cường năng lực quốc phòng và khả năng hành động độc lập để bảo vệ lợi ích của mình. Tuy nhiên, xu hướng này cũng tiềm ẩn những hệ quả phức tạp đối với quan hệ giữa Mỹ và châu Âu. Nếu EU tiếp tục theo đuổi một đường lối an ninh độc lập hơn, Mỹ có thể coi đó là dấu hiệu của sự suy giảm cam kết đối với liên minh truyền thống. Trong kịch bản xấu hơn, Mỹ có thể sử dụng các công cụ kinh tế như thuế quan hoặc trừng phạt để gây áp lực đối với EU, từ đó làm gia tăng sự phân hóa trong nội bộ phương Tây.

Cuộc chiến Mỹ – Israel với Iran cũng có thể dẫn đến sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược của Mỹ trên phạm vi toàn cầu. Hơn một thập niên qua, chính quyền các đời Tổng thống Mỹ từ Barack Obama đến Joe Biden và Donald Trump đã đều nhấn mạnh chiến lược “xoay trục” sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc bị cuốn vào một cuộc khủng hoảng quân sự lớn tại Trung Đông có thể khiến Mỹ phải phân tán nguồn lực quân sự và ngoại giao, từ đó làm giảm mức độ tập trung vào các khu vực chiến lược khác. Đồng thời, việc dành nhiều nguồn lực cho Trung Đông cũng có thể làm suy giảm khả năng hỗ trợ của Mỹ đối với Ukraine trong cuộc chiến với Nga.

Hàm ý với Việt Nam

Phản ứng của EU và một số quốc gia châu Âu trước cuộc chiến giữa liên minh Mỹ – Israel và Iran đã cung cấp những kinh nghiệm đáng chú ý về cách thức cân bằng lợi ích chiến lược trong bối cảnh khủng hoảng quốc tế. Đối với Việt Nam, việc phân tích những kinh nghiệm này có ý nghĩa thiết thực trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại và chiến lược phát triển trong giai đoạn tới.

Thứ nhất, bài học về phân định lợi ích quốc gia và quan hệ đối tác. Nhìn từ sự khác biệt trong quan điểm nội bộ phương Tây phản ánh một thực tế quan trọng của quan hệ quốc tế đương đại rằng ngay cả trong các liên minh lâu đời thì sự đồng thuận cũng không phải lúc nào cũng tuyệt đối. Các quốc gia vẫn tìm cách duy trì không gian riêng để giảm thiểu rủi ro khi môi trường quốc tế biến động. Đối với Việt Nam, vấn đề này đặt trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc gay gắt hiện nay, việc kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế trở thành yếu tố then chốt để bảo vệ lợi ích quốc gia. Việt Nam cần duy trì thế cân bằng chiến lược thông qua việc mở rộng quan hệ với nhiều đối tác khác nhau. Chính sách này không chỉ giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác mà còn hạn chế nguy cơ bị cuốn vào các liên kết đối đầu giữa các cường quốc.

Thứ hai, tăng cường sử dụng luật pháp quốc tế như công cụ bảo vệ lợi ích quốc gia. Thực tiễn cho thấy các chuẩn tắc và cơ chế của Liên Hợp Quốc không chỉ là khuôn khổ điều chỉnh hành vi giữa các quốc gia, mà còn là động lực quan trọng đối với các quốc gia tầm trung trong việc củng cố lập trường của mình trước các tranh chấp quốc tế. Đối với Việt Nam, bài học này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc viện dẫn các nguyên tắc pháp lý trong chính sách đối ngoại. Việt Nam cần tiếp tục kiên trì lập trường tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và phản đối việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Việc tích cực thúc đẩy các nguyên tắc này trong các diễn đàn đa phương như ASEAN hay Liên Hợp Quốc vừa góp phần củng cố hình ảnh thượng tôn công pháp quốc tế, vừa đặt ra đòn bẩy pháp lý thuận lợi cho việc bảo vệ lợi ích quốc gia.

Thứ ba, chủ động quản trị rủi ro về an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng. Tuyến vận tải qua eo biển Hormuz một khi gặp sự cố sẽ đẩy giá dầu tăng mạnh, kéo theo những hệ lụy đối với lạm phát, tăng trưởng kinh tế và ổn định tài chính toàn cầu. Trước nguy cơ đó, nhiều quốc gia châu Âu đã thúc đẩy các chính sách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, mở rộng dự trữ và triển khai các cơ chế bảo hiểm hàng hải để bảo vệ hoạt động vận tải thương mại. Những diễn biến này nhấn mạnh vào thực tế Việt Nam phải chủ động hơn trong ứng phó rủi ro an ninh năng lượng. Là một nền kinh tế đang phát triển với nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, Việt Nam cần xây dựng các kịch bản dự phòng trong trường hợp thị trường năng lượng quốc tế biến động mạnh. Công tác này bao gồm việc tăng cường dự trữ chiến lược, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu đồng thời thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời.

Thứ tư, nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống logistics và thương mại. Bất ổn an ninh tại Trung Đông không chỉ ảnh hưởng đến thị trường năng lượng mà còn tác động trực tiếp đến hệ thống thương mại toàn cầu. Với những nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 930 tỷ USD, những biến động này có thể tạo ra áp lực đáng kể đối với hoạt động thương mại và sản xuất trong nước[20]. Do đó, Việt Nam cần tăng cường năng lực thích ứng của hệ thống logistics quốc gia. Điều này bao gồm việc phát triển hạ tầng cảng biển, nâng cao năng lực vận tải đa phương thức và mở rộng các tuyến vận tải liên vận Á – Âu. Đồng thời, doanh nghiệp Việt Nam cần tích cực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nguồn cung nguyên liệu, qua đó giảm thiểu rủi ro khi các tuyến thương mại toàn cầu bị gián đoạn bởi khủng hoảng địa chính trị.

Thứ năm, tăng cường năng lực ứng phó với biến động tài chính toàn cầu. Sự leo thang của các cuộc xung đột địa chính trị thông thường kéo theo những biến động mạnh trên thị trường tài chính quốc tế. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế phụ thuộc đáng kể vào thương mại quốc tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài, các biến động này có thể tác động trực tiếp tới tỷ giá, lãi suất và dòng vốn đầu tư quốc tế. Do đó, cần theo dõi sát diễn biến cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, trong đó có quan hệ kinh tế giữa Mỹ và châu Âu, cũng như những biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Trên cơ sở đó, việc xây dựng các kịch bản chính sách linh hoạt và chủ động nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và duy trì môi trường đầu tư ổn định sẽ trở thành yêu cầu then chốt, giúp Việt Nam duy trì đà tăng trưởng khi hệ cục diện thế giới ngày càng phức tạp và khó dự báo.

Sau cùng, tận dụng “khoảng trống chiến lược” để nâng cao vai trò khu vực. Trong bối cảnh Mỹ và phương Tây phải phân bổ đáng kể nguồn lực cho các điểm nóng tại Trung Đông và châu Âu, mức độ chú ý của họ đối với Đông Nam Á trong ngắn hạn có thể giảm xuống. Sự dịch chuyển ưu tiên chiến lược này vừa tạo ra thách thức, vừa tạo điều kiện để các quốc gia Đông Nam Á chủ động hơn trong việc định hình môi trường chiến lược của mình. Đối với Việt Nam, đây là thời điểm thuận lợi để tăng cường vai trò điều phối và thúc đẩy hợp tác khu vực trong khuôn khổ ASEAN. Thông qua việc chủ động đề xuất các sáng kiến hợp tác về an ninh khu vực, kết nối kinh tế, quản trị khủng hoảng và xây dựng lòng tin chiến lược. Việt Nam không chỉ góp phần củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực, mà còn nâng cao vị thế chiến lược của mình trong hệ thống quốc tế.

Tác giả: Phạm Quang Hiền

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]

Tài liệu tham khảo:

[1] Reuters Staff (2026), “France’s Macron calls for urgent UN Security Council meeting on Iran”, Reuters, https://www.reuters.com/world/europe/frances-macron-calls-urgent-meeting-un-security-council-iran-2026-02-28/

[2] Jasper Jolly (2026), “Oil prices could surge if Iran war disrupts supply, Goldman Sachs warns”, The Guardian, https://www.theguardian.com/business/2026/mar/08/oil-prices-supply-disruption-iran-war-goldman-sachs

[3] United Nations High Commissioner for Refugees – UNHCR (2017), “Guidelines on International Protection No. 12: Claims for refugee status related to situations of armed conflict and violence”, UNHCR, https://data.unhcr.org/fr/documents/download/52764

[4] Keir Starmer (2026), “Prime Minister’s statement on Iran, 28 February 2026”, Government of the United Kingdom, https://www.gov.uk/government/speeches/pm-statement-on-iran-28-february-2026

[5] Al Jazeera Staff (2026), “German chancellor concerned US and Israel have no exit plan for Iran war”, Al Jazeera, https://www.aljazeera.com/video/newsfeed/2026/3/10/german-chancellor-concerned-us-israel-have-no-exit-plan-for-iran-war

[6] Nguyễn Tiến (2026), “EU coi Vệ binh Cách mạng Iran là tổ chức khủng bố, Tehran phản ứng mạnh”, Vietnamnet, https://vietnamnet.vn/eu-coi-ve-binh-cach-mang-iran-la-to-chuc-khung-bo-tehran-phan-ung-manh-2486420.html

[7] Reuters Staff (2026), “EU nations call for maximum restraint and respect for international law in Iran conflict”, Reuters, https://www.reuters.com/world/middle-east/eu-nations-call-maximum-restraint-respect-international-law-iran-conflict-2026-03-01/

[8] Thanh Hà (2026), “Pháp tăng cường hiện diện quân sự tại Trung Đông”, Báo Nhân Dân, https://nhandan.vn/phap-tang-cuong-hien-dien-quan-su-tai-trung-dong-post946125.html

[9] Minh Tuấn (2026), “Xung đột tại Trung Đông: Italy, Anh và Đức nhất trí hợp tác tại eo biển Hormuz”, Báo Quân đội Nhân dân, https://www.qdnd.vn/quoc-te/tin-tuc/xung-dot-tai-trung-dong-italy-anh-va-duc-nhat-tri-hop-tac-tai-eo-bien-hormuz-1029712

[10] North Atlantic Treaty Organization – NATO (2024), “Collective defence and Article 5”, NATO, https://www.nato.int/en/what-we-do/introduction-to-nato/collective-defence-and-article-5

[11] Al Jazeera Staff (2026), “Amid Middle East crisis, Europe fumbles towards mutual defence”, Al Jazeera, https://www.aljazeera.com/news/2026/3/4/amid-middle-east-crisis-europe-fumbles-towards-mutual-defence

[12] Tuổi Trẻ Online (2026), “Các nước châu Âu vội vã kêu gọi Iran ngừng bắn bừa bãi”, Báo Tuổi Trẻ, https://tuoitre.vn/cac-nuoc-chau-au-vung-vinh-keu-goi-iran-ngung-ban-bua-bai-2026030522574858.htm

[13] VOV News (2026), “EU khẳng định giải pháp lâu dài duy nhất ở Iran là giải pháp ngoại giao”, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), https://vov.vn/the-gioi/eu-khang-dinh-giai-phap-lau-dai-duy-nhat-o-iran-la-giai-phap-ngoai-giao-post1272468.vov

[14] Báo Tin Tức (2026), “Toàn cảnh chiến sự Iran ngày thứ năm: Israel mở rộng không kích Liban, Tehran không ngừng đáp trả”, Thông tấn xã Việt Nam, https://baotintuc.vn/the-gioi/toan-canh-chien-su-iran-ngay-thu-nam-israel-mo-rong-khong-kich-liban-tehran-khong-ngung-dap-tra-20260305085038822.htm

[15] Nguyễn Hồng (2026), “Châu Âu dè dặt với cuộc chiến của Mỹ tại Iran”, VnExpress, https://vnexpress.net/chau-au-e-de-voi-cuoc-chien-cua-my-tai-iran-5046812.html

[16] Charles A. Kupchan (2024), “Trump Should Defang Iran’s Government, Not Destroy It”, Council on Foreign Relations (CFR), https://www.cfr.org/articles/trump-should-defang-irans-government-not-destroy-it

[17] Andrew Greene (2026), “Middle East war oil crisis could help Russia”, ABC News Australia, https://www.abc.net.au/news/2026-03-09/middle-east-war-oil-crisis-could-help-russia/106417484

[18] Associated Press (2026), “Rising energy prices from the Iran war could help Russia pay for fighting in Ukraine”, U.S. News & World Report, https://www.usnews.com/news/us/articles/2026-03-04/rising-energy-prices-from-the-iran-war-could-help-russia-pay-for-fighting-in-ukraine

[19] Mao Ning (2026), “Foreign Ministry Spokesperson’s Regular Press Conference”, Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China, https://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/xw/fyrbt/202603/t20260302_11867202.html

[20] VOV News (2026), “Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 930 tỷ USD, xuất siêu hơn 20 tỷ USD”, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), https://vov.vn/kinh-te/kim-ngach-xuat-nhap-khau-nam-2025-dat-930-ty-usd-xuat-sieu-hon-20-ty-usd-post1258998.vov

Tags: Chiến tranh Israel - IranEUIranIsraelkhủng hoảng năng lượngMỹ
ShareTweetShare
Bài trước

Ngoại trưởng Vương Nghị thăm Việt Nam: Tìm kiếm sự hòa giải trong cạnh tranh Mỹ – Trung

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/09/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Quan điểm của châu Âu về cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran

Quan điểm của châu Âu về cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran

20/03/2026
Ngoại trưởng Vương Nghị thăm Việt Nam: Tìm kiếm sự hòa giải trong cạnh tranh Mỹ – Trung

Ngoại trưởng Vương Nghị thăm Việt Nam: Tìm kiếm sự hòa giải trong cạnh tranh Mỹ – Trung

18/03/2026
Thổ Nhĩ Kỳ: Tổng thống Erdogan vấp nhưng chưa ngã

Liệu Thổ Nhĩ Kỳ có thể duy trì chính sách “láng giềng được kiểm soát”?

17/03/2026
Cục diện Trung Đông năm 2025: xung đột và cạnh tranh quyền lực

Quá trình tập hợp lực lượng đang thay đổi ở Trung Đông

15/03/2026
Chiến thuật tác chiến của Mỹ và Israel sử dụng trong cuộc tấn công Iran

Chiến thuật tác chiến của Mỹ và Israel sử dụng trong cuộc tấn công Iran

12/03/2026
Thế lưỡng nan của Donald Trump trong cuộc chiến với Iran hiện nay

Thế lưỡng nan của Donald Trump trong cuộc chiến với Iran hiện nay

10/03/2026
Khả năng Mỹ đổ bộ đường bộ vào Iran: Tính toán quân sự, động cơ chính trị và thông điệp chiến lược toàn cầu

Khả năng Mỹ đổ bộ đường bộ vào Iran: Tính toán quân sự, động cơ chính trị và thông điệp chiến lược toàn cầu

08/03/2026
Can thiệp quân sự quy mô không còn là công cụ khả thi của Mỹ tại Trung Đông?

Can thiệp quân sự quy mô không còn là công cụ khả thi của Mỹ tại Trung Đông?

07/03/2026

Tin Mới

Quan điểm của châu Âu về cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran

Quan điểm của châu Âu về cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran

20/03/2026
31
Ngoại trưởng Vương Nghị thăm Việt Nam: Tìm kiếm sự hòa giải trong cạnh tranh Mỹ – Trung

Ngoại trưởng Vương Nghị thăm Việt Nam: Tìm kiếm sự hòa giải trong cạnh tranh Mỹ – Trung

18/03/2026
445
Thổ Nhĩ Kỳ: Tổng thống Erdogan vấp nhưng chưa ngã

Liệu Thổ Nhĩ Kỳ có thể duy trì chính sách “láng giềng được kiểm soát”?

17/03/2026
109
Cục diện Trung Đông năm 2025: xung đột và cạnh tranh quyền lực

Quá trình tập hợp lực lượng đang thay đổi ở Trung Đông

15/03/2026
244

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Bầu cử tổng thống mỹ
  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Podcasts
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.