Trong xung đột Nga - Ukraine, Nga đã tiến hành các hoạt động phản gián tích cực trước hoạt động gián điệp, phá hoại toàn diện của Ukraine, nhanh chóng xoay chuyển tình thế bị động trong tác chiến tình báo giai đoạn đầu, hỗ trợ hiệu quả cho chiến trường chính diện của quân đội Nga. Việc hệ thống hóa và tổng kết các biện pháp, kinh nghiệm phản gián của Nga có thể cung cấp những tham khảo có giá trị cho việc tăng cường xây dựng và phát triển trong các lĩnh vực liên quan. Bằng các phương pháp phân tích thông tin, so sánh nhận dạng và phân tích hệ thống, bài báo nhìn nhận toàn diện các biện pháp phản gián bị động và chủ động của Nga. Trong khi tăng cường các biện pháp phản gián truyền thống, Nga đã thúc đẩy năng lực phản gián từ cả hai hướng "tấn công" và "phòng thủ", hỗ trợ mạnh mẽ cho các cuộc đấu tranh trong và ngoài chiến trường ở đa lĩnh vực. Điều này đã kiểm chứng lý thuyết chiến tranh phức hợp kiểu Nga, làm nổi bật vai trò then chốt của công nghệ thông tin mạng trong các hoạt động phản gián, cũng như tầm quan trọng ngày càng tăng của công tác phản gián trong tương lai.
Trước và sau khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ, Ukraine, với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ nguồn lực tình báo của phương Tây do Mỹ dẫn đầu, đã tích cực xây dựng mạng lưới giám sát, trinh sát và do thám đa phương tiện, toàn diện, đa chiều nhằm vào Nga, liên tục tăng cường năng lực cảnh báo chiến lược, giám sát chiến trường và trinh sát chiến thuật đối với Nga, khiến Nga rơi vào thế bị động trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, tác chiến trong và ngoài chiến trường. Đối mặt với mối đe dọa to lớn và thách thức phức tạp do khả năng tình báo mạnh mẽ của Ukraine và đặc biệt là Mỹ và phương Tây gây ra, trong khi tăng cường các biện pháp phản gián truyền thống, Nga đã nhanh chóng điều chỉnh trọng tâm công việc, tích cực thúc đẩy xây dựng năng lực phản gián trên các lĩnh vực điện từ, mạng, nhận thức, v.v., thực hiện nhiều biện pháp và triển khai theo cả hai hướng “tấn công” và “phòng thủ”. Moskva cũng đã nhanh chóng tăng cường khả năng ứng phó với các hoạt động tình báo của Mỹ, phương Tây và Ukraine, xoay chuyển tình thế bị động trong giai đoạn đầu xung đột, hỗ trợ và bảo đảm toàn diện, hiệu quả cho cuộc đấu tranh chính trị – ngoại giao giữa Nga và Mỹ – phương Tây cũng như tác chiến trên chiến trường chính diện của quân đội Nga.
Thực tiễn triển khai tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine
Phản gián được chia thành hai loại hoạt động: bị động (phòng thủ) và chủ động (tấn công). Cốt lõi của phản gián bị động (còn gọi là phản gián phòng thủ) là “phòng”, tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ vững chắc chống lại hoạt động gián điệp, phá hoại của đối phương, bảo vệ thông tin tình báo và tài nguyên then chốt của mình không bị đối phương thu thập, kiểm soát; cốt lõi của phản gián chủ động (còn gọi là phản gián tấn công) là tập trung sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thu thập thông tin về hệ thống tình báo của đối phương, vạch trần hoạt động của chúng, gây nhiễu, đánh lừa quyết định của chúng, phá hoại mạng lưới và tài nguyên của chúng. Kể từ khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ, Nga đã áp dụng nhiều biện pháp phản gián chủ động và bị động đối phó với các hoạt động tình báo của Mỹ, phương Tây và Ukraine, giúp xoay chuyển tình thế bất lợi ban đầu một cách tương đối nhanh chóng.
Phản gián bị động
Tính chất bí mật có tầm quan trọng đặc biệt trong mọi hoạt động quân sự. Các vụ rò rỉ thông tin tình báo thường xuyên xảy ra trong giai đoạn đầu xung đột Nga – Ukraine đã gây tổn thất lớn cho Nga. Để bịt các lỗ hổng rò rỉ càng nhiều càng tốt, quân đội Nga không ngừng tăng cường xây dựng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và ứng phó trong phản gián, củng cố “bức tường lửa” ngăn chặn hoạt động tình báo của Mỹ và phương Tây.
Tăng cường kiểm soát thông tin liên lạc quân đội
Trong giai đoạn đầu xung đột, hiệu quả an ninh thông tin liên lạc của Nga không được như mong đợi, liên tục xảy ra các vấn đề như hệ thống liên lạc mã hóa không hoạt động, thông tin quân sự bị Mỹ – phương Tây nghe lén, binh sĩ cấp dưới “chụp ảnh tùy tiện” gây rò rỉ, thậm chí sử dụng rộng rãi bộ đàm dân dụng và điện thoại di động; nhiều chỉ huy cấp cao thậm chí phải trực tiếp lên tuyến đầu chỉ huy do thông tin liên lạc không thông suốt, dẫn đến bị Ukraine tấn công gây thương vong. Trước tình hình này, Nga, trong khi hạn chế tối đa hoặc không sử dụng thiết bị dân dụng, đặc biệt là phương Tây, đã đẩy nhanh việc nghiên cứu, phát triển và trang bị các thiết bị liên lạc an toàn hiệu suất cao như bộ đàm mã hóa quân sự Azart – một hệ thống liên lạc kỹ thuật số mã hóa thế hệ mới R-187, một phiên bản dã chiến của phần mềm giao tiếp kiểu Messenger có tên “Loktar”, tăng cường xây dựng và sử dụng các phương tiện liên lạc hữu tuyến như cáp quang, nhằm giảm rủi ro rò rỉ thông tin, từ bỏ các phương thức liên lạc cũ dễ bị lộ.
Tăng cường kiểm soát truy cập mạng và phát hiện xâm nhập
Ngay cả trước khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ, Cục An ninh Liên bang Nga đã yêu cầu tất cả các nhà cung cấp dịch vụ Internet trong nước buộc phải cài đặt hệ thống “SORM” (Hệ thống giám sát viễn thông của FSB), qua đó giám sát tất cả các mạng xã hội Nga và các mạng xã hội nước ngoài có máy chủ đặt tại Nga. Sau khi xung đột bùng nổ, chính phủ Nga kích hoạt cơ chế ứng phó khẩn cấp, nâng cao cấp độ bảo vệ mạng quốc gia, cấm người dùng trong nước truy cập các nền tảng xã hội phương Tây như Twitter (sau là X), Facebook, đẩy mạnh xây dựng “Internet có chủ quyền – RuNet”, yêu cầu tất cả các truy cập Internet phải đi qua máy chủ và thiết bị trong nội địa Nga để tiến hành giám sát, kiểm tra, lọc và ngăn chặn xâm nhập từ bên ngoài. Ngoài ra, chính phủ Nga còn nhiều lần tiến hành thử nghiệm ngắt kết nối và thiết lập một hệ thống, có thể ngắt kết nối Internet Nga khỏi Internet toàn cầu trong trường hợp khẩn cấp nhằm bảo vệ an ninh mạng nội địa.
Nâng cao năng lực bảo mật của nhân sự liên quan
Trước nhiều vấn đề rò rỉ lộ lọt, Nga bắt đầu đào sâu giáo dục an ninh trong quân đội, tăng cường đào tạo và thẩm định an ninh cho các nhóm đối tượng trọng yếu như binh sĩ cấp dưới, lực lượng phi chính quy, phóng viên tùy tùng, đồng thời xây dựng, thực thi bắt buộc các quy trình bảo mật và kế hoạch ứng phó liên quan đến phương tiện liên lạc cá nhân, mạng xã hội, tuyên truyền báo chí,… nhằm nâng cao ý thức bảo mật và năng lực của những người tham gia hoặc liên quan đến quân sự, chiến tranh, từ đó bịt các lỗ hổng rò rỉ thông tin tình báo một cách căn bản.
Phản gián chủ động
Bên cạnh việc tạo “lá chắn”, củng cố “bức tường lửa” và tăng cường xây dựng các biện pháp phản gián phòng thủ, Nga còn chủ động tấn công, tích cực áp dụng nhiều biện pháp phản gián tấn công, không ngừng mài sắc “thanh kiếm” nhằm ngăn chặn và phản công hoạt động thu thập tình báo của Mỹ và phương Tây, giảm thiểu mối đe dọa đối với thông tin tình báo nhạy cảm của Nga.
Thứ nhất, áp dụng các biện pháp đánh lừa, nghi binh đa lĩnh vực, đa cấp độ, tạo “một mê cung” gây nhiễu hoạt động tình báo của Mỹ và phương Tây, qua đó, tác động đến quyết định của họ.
Trong lĩnh vực chính trị – ngoại giao, các quan chức cấp cao gồm cả Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao Nga cùng các bộ ngành, trong đêm trước xung đột, đã bác bỏ tuyên truyền chiến tranh của Mỹ và phương Tây về “Nga sẽ tấn công Ukraine”, liên tục khẳng định Nga “không mong muốn xảy ra xung đột” và “sẵn sàng giải quyết vấn đề thông qua đàm phán hòa bình” nhằm che giấu ý đồ thực sự, đánh lừa phán đoán chiến lược của NATO và Ukraine. Trong lĩnh vực quân sự, Nga lấy danh nghĩa diễn tập quân sự trên biển, diễn tập chung Nga – Belarus để che đậy công tác chuẩn bị chiến tranh, chuyển một lượng lớn binh lực và vũ khí trang bị đến khu vực biên giới Nga – Ukraine dưới sự giám sát chặt chẽ của Mỹ – phương Tây, và dùng những lời lẽ như “cuộc diễn tập mang tính phòng thủ, không đe dọa bất kỳ ai, sau khi kết thúc quân đội Nga sẽ rời Belarus” để đáp trả những nghi vấn từ bên ngoài. Đối với dư luận, cỗ máy tuyên truyền của Nga hoạt động hết công suất, một mặt liên tục khẳng định “Nga chuẩn bị tấn công Ukraine” là tin giả, nhấn mạnh “Nga sẽ không tấn công Ukraine, và không chấp nhận bất kỳ khả năng xảy ra chiến tranh nào”; mặt khác phối hợp nhiều góc độ với công tác chuẩn bị chiến tranh, lựa chọn trình chiếu các cảnh quay và hình ảnh quân nhân, trang bị Nga tham gia diễn tập rút khỏi Belarus, Crimea và những nơi khác.
Thứ hai, tăng cường điều tra, thẩm vấn, trinh sát đối với gián điệp và người (tổ chức) tình nghi liên quan đến Ukraine, thiết lập “chướng ngại vật” ngăn chặn thâm nhập và thu thập thông tin của Mỹ – phương Tây.
Theo báo chí đưa tin, kể từ khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ, Cục An ninh Liên bang Nga đã công khai vạch trần hành vi gián điệp của nhiều tổ chức phi chính phủ phương Tây như “Hội đồng Văn hóa Anh”, bắt giữ hàng chục nhân viên tình báo Ukraine đánh cắp bí mật chính trị – quân sự của Nga, cũng như các gián điệp Mỹ – phương Tây bao gồm phóng viên Evan Gershkovich của The Wall Street Journal, cựu lính thủy đánh bộ Mỹ Paul Whelan, đồng thời truyền thông rộng rãi qua nhiều phương tiện về việc họ bị bắt, bị xét xử và trao đổi tù nhân, tạo ra hiệu ứng răn đe đáng kể. Bên cạnh việc bắt gián điệp, cơ quan tình báo Nga còn rất coi trọng công tác tìm “nội gián” và ngăn ngừa các hoạt động dụ dỗ, lôi kéo của gián điệp. Kể từ khi xung đột bùng nổ, đã có nhiều quan chức cấp cao bị cách chức hoặc bị bắt và xét xử, trong đó có cựu Cục trưởng Cục Thông tin Tổng tham mưu Nga Vadim Shamarin. Tháng 7 năm 2022, Cục An ninh Liên bang Nga còn kịp thời phát hiện và ngăn chặn âm mưu của cơ quan tình báo Ukraine dụ dỗ một phi công Nga cướp máy bay quân sự của Nga đào thoát sang Ukraine, đồng thời thu thập được một phần thông tin về sân bay quân sự và bố trí lực lượng phòng không của Ukraine từ người của phía Ukraine.
Thứ ba, đẩy nhanh tác chiến điện tử và sử dụng các thiết bị kỹ thuật phản trinh sát, tạo “lá chắn chống lại trinh sát chiến trường của Mỹ và phương Tây”
Là một trong những biện pháp quan trọng để giành ưu thế thông tin trong chiến tranh hiện đại, tác chiến điện tử đã được triển khai xuyên suốt toàn bộ xung đột Nga – Ukraine, trong đó tiêu biểu là các biện pháp phản công chiến lược – chiến thuật đa dạng của Nga nhằm vào “Starlink” – “trung tâm thần kinh” cho công tác trinh sát, chỉ huy quyết định và bảo đảm thông tin liên lạc của quân đội Ukraine.
Về chiến lược, một biện pháp là sử dụng các hệ thống tác chiến điện tử vệ tinh hiện đại nhất để gây nhiễu hệ thống internet vệ tinh Starlink của quân đội Ukraine và các vệ tinh liên lạc khác, khiến chúng thường xuyên gặp trục trặc. Ngoài ra, Nga cũng đẩy nhanh phát triển hệ thống tác chiến điện tử “Tobol” chuyên nhằm vào Starlink; từ năm 2022, hệ thống này đã nhiều lần gây nhiễu hiệu quả các kênh thông tin liên lạc vệ tinh của Ukraine; trước cuộc tấn công vào Kharkov phía đông bắc Ukraine ngày 10/5/2024, quân Nga đã sử dụng hệ thống này để cắt đứt thành công tín hiệu Starlink của Ukraine, khiến Starlink “lần đầu tiên bị tê liệt hoàn toàn”. Được biết, Nga hiện đã lắp đặt 7 tổ hợp tác chiến điện tử cố định “Tobol” trong nước và đang phát triển phiên bản di động của hệ thống này.
Về chiến thuật, các hệ thống gây nhiễu điện tử như “Borisoglebsk-2”, “Pole-21”, “R330Zh Zhitel” trang bị cho quân tiền tuyến Nga có thể gây nhiễu tín hiệu thông tin vệ tinh di động trong phạm vi 20-30 km, khiến “thông tin Internet của Ukraine bị gián đoạn và mất hoàn toàn khả năng sử dụng UAV để theo dõi động thái của quân Nga”. Ngoài tác chiến điện tử, Nga còn rất coi trọng phát triển năng lực phản trinh sát điện từ. Theo báo cáo, quân đội Nga đã chế tạo và trang bị cho quân tiền tuyến một thiết bị phòng không UAV cỡ nhỏ; khi phát hiện UAV đối phương tiếp cận, thiết bị sẽ phát tín hiệu âm thanh hoặc rung để cảnh báo, giúp đơn vị kịp thời xử lý hoặc né tránh. Ngoài ra, Nga cũng chú trọng khai thác năng lực của các hệ thống tác chiến điện tử hiện có như “Krasukha-4”, “Paladin” để gây nhiễu làm mù các thiết bị trinh sát điện tử và thông tin di động của Mỹ – phương Tây, ngăn họ phát hiện nguồn bức xạ điện từ của Nga, hoặc tạo ra các mục tiêu giả điện từ, nhử Ukraine tiến hành tấn công điện tử, từ đó lộ vị trí, tạo điều kiện cho Nga phản trinh sát và đánh trả hỏa lực.
Thứ tư, tăng cường xây dựng và vận dụng năng lực trinh sát, giám sát, tấn công mạng cùng các biện pháp pháp lý liên quan, tạo “lưới chặn” chống lại sự thâm nhập mạng và ảnh hưởng nhận thức của Mỹ – phương Tây.
Trước và sau khi xung đột bùng nổ, Nga chủ động tấn công, lấy công làm thủ, kết hợp sử dụng các phương tiện như trinh sát tấn công, nguỵ trang, xâm nhập từ xa, cài mã độc, ẩn nấp, đánh cắp dữ liệu, điều khiển từ xa, phá hủy vật lý, v.v., xây dựng chuỗi sát thương giám sát – tấn công mạng đa tầng, tiến hành “phá hủy cứng” và “tiêu diệt mềm” đối với hệ thống thông tin của các bộ ngành then chốt Ukraine như chính phủ, quân sự, năng lượng, tài chính, truyền thông, báo chí, nhằm đối phó với các hoạt động thâm nhập mạng, tấn công phá hoại, tuyên truyền nhận thức của Mỹ – phương Tây và Ukraine. Ví dụ, khai thác lỗ hổng thực thi của các phần mềm xây dựng và hệ thống trang web khác nhau để xâm nhập các trang web của cơ quan chính phủ Ukraine; xây dựng trang web giả mạo, gửi email lừa đảo, phần mềm độc hại tới các cơ quan quan trọng Ukraine để xâm nhập diện rộng; cài đặt nhiều phần mềm xóa dữ liệu như HermeticWiper, IssacWiper, CaddyWiper để gây tê liệt sâu các cơ sở hạ tầng then chốt và dữ liệu hệ thống của Ukraine; sử dụng nhiều nền tảng dịch vụ và mạng botnet để tấn công DDoS, làm chậm hoặc sập máy chủ mạng Ukraine; sử dụng vũ khí chính xác cao để tấn công chính xác các cơ quan an ninh tình báo Ukraine, v.v. Bên cạnh các biện pháp kỹ thuật và quân sự, Nga còn áp dụng một loạt biện pháp pháp lý nhằm tăng cường ứng phó với các hoạt động tuyên truyền và ảnh hưởng nhận thức trên mạng của Mỹ – phương Tây và Ukraine. Kể từ khi xung đột bùng nổ, Nga đã 5 lần sửa đổi Luật Truyền thông Đại chúng Liên bang Nga, đồng thời bổ sung, sửa đổi một loạt các luật hành chính, hình sự, tố tụng hình sự, bổ sung hoặc chi tiết hóa các điều khoản như “tội lan truyền thông tin giả về quân đội”, “tội bôi nhọ quân đội”, “tội xúi giục trừng phạt”, tăng mức xử phạt đối với việc lạm dụng tự do báo chí và thông tin sai lệch về quân sự, nhằm kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả việc truyền tải thông tin mạng và ảnh hưởng nhận thức của Mỹ – phương Tây. Ngoài ra, Nga còn mở các trang web chuyên dụng, lợi dụng hiệu ứng lan truyền của mạng để bác bỏ các tin tức không đúng sự thật và thông tin giả mạo của Mỹ – phương Tây, nhanh chóng vô hiệu hóa ảnh hưởng nhận thức của Mỹ – phương Tây, xoa dịu nghi ngờ và hoang mang trong và ngoài nước.
Đánh giá tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine
Công tác phản gián tổng hợp của Nga trong “chiến dịch quân sự đặc biệt” không chỉ hỗ trợ và bảo đảm vững chắc cho việc xoay chuyển tình thế bất lợi trong đấu tranh chính trị – ngoại giao – quân sự giai đoạn đầu trên nhiều lĩnh vực, mà còn là một cuộc kiểm chứng sinh động đối với lý thuyết chiến tranh phức hợp kiểu Nga, đồng thời càng làm nổi bật vai trò quan trọng của công nghệ thông tin mạng trong tác chiến phản gián.
Hỗ trợ mạnh mẽ cho các cuộc đấu tranh trong và ngoài chiến trường
Về chính trị – ngoại giao, Nga đã sử dụng nhiều biện pháp thực hiện hoạt động phản gián, bảo vệ an toàn thông tin nhạy cảm, ngăn chặn rò rỉ bí mật quốc gia; đẩy mạnh điều tra phản gián, nhận diện và ngăn chặn các nguồn thông tin có thể tác động tiêu cực đến Nga; giám sát chặt chẽ tình hình dư luận trong và ngoài nước, tích cực tiến hành chiến tranh thông tin và chiến tranh mạng, tạo dựng môi trường quốc tế có lợi; triển khai hiệu quả các hoạt động thâm nhập và tác động bí mật, giành thêm không gian ngoại giao và con bài mặc cả.
Về quân sự, tăng cường bảo mật thông tin liên lạc, kiểm soát mạng và thẩm định an ninh, ngăn chặn rò rỉ tình báo và sự thâm nhập của đối phương; che giấu các hành động và bố trí, thiết lập mục tiêu giả, ngụy trang các cơ sở trọng yếu, làm suy yếu hiệu quả trinh sát tình báo của đối phương; gây nhiễu, đánh lừa và tấn công hệ thống thông tin liên lạc, dẫn đường, chỉ huy – kiểm soát và cơ sở hạ tầng mạng của đối phương, làm giảm hiệu quả trinh sát tình báo và hoạt động tác chiến của đối phương, đảm bảo các hoạt động quân sự của mình diễn ra thuận lợi.
Nhìn chung, các hoạt động phản gián của Nga được kết hợp chặt chẽ với các hoạt động chính trị, ngoại giao và quân sự, tạo thành một hệ thống chặt chẽ, hỗ trợ mạnh mẽ cho việc ra quyết định và hành động trong và ngoài chiến trường, đảm bảo thúc đẩy hiệu quả các mục tiêu chiến lược.
Thực tiễn sinh động của lý thuyết chiến tranh phức hợp kiểu Nga
Cốt lõi của lý thuyết chiến tranh phức hợp Nga là ngoài các hoạt động quân sự truyền thống, kết hợp sử dụng các phương tiện đa lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thông tin, ngoại giao, tâm lý, v.v., theo cách phi đối xứng và phi tuyến tính để đạt được mục tiêu chiến lược quốc gia. Trong xung đột Nga – Ukraine, các hoạt động phản gián của Nga thông qua đổi mới kỹ thuật, điều chỉnh chiến lược và sáng tạo phương pháp tác chiến, không chỉ bảo đảm hiệu quả cho “chiến dịch quân sự đặc biệt” – một thực tiễn mới của chiến tranh phức hợp, mà bản thân tính “phức hợp” của nó cũng không ngừng tăng cường, được coi là sự thực hành thành công của lý thuyết chiến tranh phức hợp kiểu Nga trong lĩnh vực phản gián.
Thứ nhất, nhấn mạnh sử dụng đồng bộ các biện pháp đa lĩnh vực. Công tác phản gián của Nga không còn giới hạn ở chiến trường truyền thống và hoạt động quân sự, mà thống nhất sử dụng các biện pháp chính trị, ngoại giao, kinh tế, tâm lý, thông tin, mạng, pháp lý, dư luận… để đồng thời thực hiện phủ nhận thông tin và kháng cự tình báo đối với Ukraine; đối với NATO và Mỹ – phương Tây, áp dụng nhiều hoạt động vùng xám hơn, dưới hình thức chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, chiến tranh tâm lý như lừa dối chiến lược, trinh sát mạng, tấn công mạng cường độ thấp, thao túng thông tin và tâm lý, nhằm làm suy yếu hiệu quả trinh sát tình báo và tác chiến của đối phương trong khi tránh đối đầu quân sự trực tiếp.
Thứ hai, nhấn mạnh vai trò của lực lượng phi chính quy. Nga trong “chiến dịch quân sự đặc biệt” chú trọng phát huy vai trò của các lực lượng vũ trang phi chính quy như dân quân thân Nga, lính đánh thuê, các nhóm hacker dân sự, sử dụng họ để tung tin đồn chính trị, tiến hành trinh sát và phản trinh sát chiến trường, gây nhiễu phá hoại thông tin liên lạc, thực hiện trinh sát và tấn công mạng đối với Mỹ – phương Tây và Ukraine, vừa đạt hiệu quả phản gián, vừa giảm áp lực nội – ngoại có thể phải gánh chịu.
Thứ ba, nhấn mạnh phát huy lợi thế phi đối xứng. Để bù đắp những yếu thế tương đối trong lĩnh vực điện tử, mạng, Nga một mặt phát huy tối đa ưu thế của lực lượng phản gián truyền thống như phản gián và “thao túng tường thuật”, mặt khác thông qua các biện pháp phi đối xứng như gây sức ép chính trị – ngoại giao, trừng phạt kinh tế, kiểm soát năng lượng, thâm nhập mạng, vừa làm suy yếu ý chí kháng cự và sự ủng hộ trong và ngoài nước đối với Ukraine, phá hoại ổn định kinh tế, tác động đến cấu trúc xã hội, phá hoại chỉ huy – kiểm soát, vừa mở rộng không gian cho quân Nga phản công tình báo của Mỹ – phương Tây trong các lĩnh vực điện từ, mạng.
Vai trò tiên phong và vị thế hàng đầu của phản gián mạng không ngừng được nâng cao
Do sự thâm nhập sâu rộng của hệ thống thông tin mạng trong chiến tranh hiện đại và các đặc điểm chi phí thấp, lợi nhuận cao, khó truy xuất nguồn gốc của các hoạt động mạng, không gian mạng đã trở thành chiến trường quan trọng hoặc thậm chí là mặt trận chủ yếu cho chiến tranh tình báo giữa Nga và Ukraine. Mạng vừa là phương tiện và kênh trinh sát tình báo chủ yếu của Mỹ – phương Tây và Ukraine, vừa là lựa chọn hàng đầu và biện pháp tiên phong cho hoạt động phản gián và kháng cự của Nga.
Thứ nhất, tầm quan trọng của phản gián mạng càng trở nên nổi bật. Trước khi xung đột Nga – Ukraine bùng nổ, Nga đã đối mặt với các hoạt động trinh sát, đánh cắp, tấn công mạng tiềm tàng của Mỹ – phương Tây và Ukraine, một mặt tăng cường năng lực phòng thủ cho các cơ sở hạ tầng trọng yếu, hệ thống chỉ huy quân sự và mạng chính phủ, thông qua nâng cấp tường lửa, bổ sung giao thức bảo mật, giám sát lưu lượng mạng theo thời gian thực để ngăn chặn rò rỉ thông tin nhạy cảm; mặt khác tiến hành giám sát mạng và khai thác dữ liệu quy mô lớn, thu thập và nhận dạng thông tin liên quan đến bố trí quân sự, hệ thống chỉ huy, ý đồ chiến lược của Mỹ – phương Tây và Ukraine, cung cấp hỗ trợ tình báo cho chỉ huy – quyết định và tấn công chính xác của mình. Sau khi xung đột bùng nổ, trong khi tiếp tục tiến hành phòng thủ mạng và giám sát mạng, Nga sử dụng các công cụ gián điệp mạng để thâm nhập vào hệ thống mạng của Ukraine và các nước phương Tây, thông qua tấn công DDoS, giả mạo dữ liệu, gây tê liệt mạng để tấn công cơ sở hạ tầng then chốt, hệ thống chỉ huy – kiểm soát và mạng thông tin liên lạc của Ukraine, nhằm làm suy yếu năng lực chỉ huy – kiểm soát và hiệu quả tác chiến của họ.
Thứ hai, hiệu ứng nhân lên và tăng cường của phản gián mạng càng rõ rệt. Khác với các biện pháp phản gián khác, phản gián mạng có hiệu ứng nhân lên và tăng cường rõ rệt đối với các biện pháp phản gián trong lĩnh vực vật lý như điện từ, thông tin liên lạc, ngụy trang, đặc biệt là các biện pháp phản gián trong lĩnh vực nhận thức như tuyên truyền, dư luận, lừa dối; sử dụng mạng thông tin để thực hiện các hoạt động phản gián như lừa dối chiến lược, thao túng dư luận, tác động nhận thức thường có thể đóng vai trò “bộ nhân lên”, “bộ tăng cường”. Trong xung đột Nga – Ukraine, Nga liên tục nghiên cứu và sử dụng các nền tảng, công cụ gián điệp mạng và tác chiến mạng tiên tiến, thông qua việc tung tin giả, thao túng các kênh truyền thông xã hội và mạng, thực hiện các hoạt động tác động nhận thức, nhanh chóng lan truyền lượng lớn thông tin có lợi cho mình, tác động đến dư luận quốc tế và ý chí, tinh thần của công chúng, làm suy yếu không gian ngoại giao và ý chí chiến đấu của Ukraine cũng như các đồng minh, giành thêm thời gian và không gian cho tác chiến chính diện và đấu tranh chính trị – ngoại giao của Nga.
Những gợi mở từ tác chiến phản gián của Nga
Trong giai đoạn đầu xung đột Nga – Ukraine, do chưa coi trọng đúng mức việc ứng phó với hoạt động trinh sát tình báo của Mỹ – phương Tây và Ukraine, thiết bị thông tin an toàn lạc hậu và thiếu số lượng, ý thức bảo mật của nhân sự chưa cao, thiết bị tần số điện từ có khả năng cơ động, sinh tồn và sự linh hoạt còn hạn chế, nên tác chiến phản gián của Nga từng rơi vào thế bị động. Tuy nhiên, với hàng loạt biện pháp phản gián tổng hợp được triển khai liên tục và có hiệu lực, tình thế bị động trong công tác phản gián của Nga dần được cải thiện, “lá chắn cứng” và “thanh kiếm sắc” không ngừng phát huy tác dụng, hỗ trợ mạnh mẽ cho các cuộc đấu tranh ở các lĩnh vực khác, đảm bảo thực hiện các mục tiêu chiến lược của Nga. Những kinh nghiệm và bài học từ cả hai mặt của hoạt động phản gián Nga có thể cung cấp nhiều tham khảo cho việc tăng cường xây dựng và phát triển các lĩnh vực liên quan của các nước khác.
Nắm vững tính thống nhất giữa thời bình và thời chiến của phản gián, sẵn sàng cho các xung đột quân sự có thể xảy ra trong tương lai
Công tác tình báo không có sự phân biệt thời bình hay thời chiến, luôn trong trạng thái chiến đấu; công tác phản gián với tư cách là mặt đối lập cũng vậy. Nguyên nhân tác chiến phản gián của Nga trong giai đoạn đầu tỏ ra chưa được như mong đợi, phần lớn là do nhận thức về mức độ nghiêm trọng của tình hình chưa đủ, chưa có sự chuẩn bị về tư tưởng và hành động để đối phó với hoạt động trinh sát tình báo cường độ cao, đa lĩnh vực, toàn thời gian của đối phương. Trong các xung đột quân sự có thể xảy ra trong tương lai, cần trên cơ sở thường xuyên phổ biến giáo dục an toàn thông tin cho công dân, nâng cao năng lực bảo mật an ninh cho nhân sự liên quan đến quân sự, bí mật và thông tin nhạy cảm, tăng cường quản lý an toàn thông tin liên lạc cho quân đội và các đơn vị, cá nhân liên quan, tăng cường bảo vệ an ninh cho cơ sở hạ tầng trọng yếu, hoàn thiện cơ chế giám sát dư luận và thẩm định thông tin, kịp thời điều tra, xử lý các vụ án gián điệp và đánh cắp bí mật, đồng thời làm tốt các công việc cơ bản, mang tính chiến lược như quy hoạch tổng thể xây dựng lực lượng phản gián, chuyển đổi cơ chế giữa thời bình và thời chiến, nghiên cứu phát triển công nghệ cốt lõi, đào tạo và dự trữ nhân tài chuyên môn, củng cố nền tảng để hoạt động phản gián có thể khởi động nhanh và tăng cường trong xung đột quân sự.
Nắm vững tính “phức hợp”, tính tổng thể của phản gián, đảm bảo các biện pháp hình thành hệ thống hữu cơ
Trong xung đột Nga – Ukraine, một trong những nguyên nhân quan trọng giúp công tác phản gián của Nga từng bước xoay chuyển tình thế bị động ban đầu là nhanh chóng thực hiện quan niệm chiến tranh phức hợp, kết hợp sử dụng các biện pháp đa lĩnh vực, phát huy lợi thế phi đối xứng, thành công phủ nhận thông tin và kháng cự tình báo đối với đối phương.
Trong các xung đột quân sự có thể xảy ra trong tương lai, thứ nhất, cần tăng cường thiết kế cấp cao, xây dựng cơ chế chỉ huy – phối hợp thống nhất cho phản gián, tăng cường hơn nữa khả năng điều phối, phối hợp tác chiến giữa các cơ quan, lĩnh vực phản gián khác nhau, đảm bảo ứng phó nhanh chóng và hiệu quả khi đối mặt với các mối đe dọa phản gián. Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp giữa các biện pháp phản gián khác nhau, sớm hình thành năng lực phản gián tổng hợp, tiến hành đồng thời tấn công – phòng thủ, trọng tâm bao gồm: xây dựng cơ chế thu thập và phân tích thông tin phản gián đa nguồn tích hợp, nâng cao tính toàn diện và chính xác của phân tích thông tin phản gián, cung cấp chỉ dẫn hành động chính xác hơn cho công tác phản gián; tăng cường nghiên cứu và sử dụng các công nghệ như mã hóa dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin, tăng cường an toàn truyền tải và lưu trữ dữ liệu, nâng cao khả năng tự chủ, tự kiểm soát của các hoạt động phản gián; sử dụng các công nghệ tiên tiến như AI, big data để thực hiện kiểm soát truy cập và kiểm toán chặt chẽ hơn đối với dữ liệu quan trọng, bảo vệ bí mật quốc gia và thông tin nhạy cảm không bị đánh cắp hoặc giả mạo. Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác quân – dân trong lĩnh vực phản gián, tăng cường chia sẻ nguồn lực phản gián giữa quân đội và dân sự, nâng cao hiệu quả và hiệu lực phối hợp liên ngành, liên khu vực ứng phó với các mối đe dọa tình báo.
Nắm vững tính thời đại, tính phát triển của công tác phản gián, hết sức coi trọng xây dựng năng lực phản gián trong các lĩnh vực mới nổi
Trong xung đột Nga – Ukraine, các cuộc đối đầu tình báo ở những lĩnh vực nêu trên không chỉ ảnh hưởng ở mức độ lớn đến hiệu quả tổng thể của công tác tình báo và phản gián của mỗi bên, mà còn chỉ ra hướng phát triển và lĩnh vực trọng tâm trong tương lai của công tác phản gián.
Thứ nhất, cần hết sức coi trọng xây dựng năng lực phản gián mạng. Tăng cường toàn diện xây dựng cơ sở hạ tầng an ninh mạng, xây dựng cơ chế giám sát và ứng phó mạng toàn thời gian, toàn không gian, đồng thời tăng cường nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ như an toàn thông tin, mã hóa dữ liệu, tấn công mạng, nâng cao năng lực ứng phó và phản công các hoạt động trinh sát, đánh cắp trên mạng của đối phương, hình thành năng lực phản gián không gian mạng kiêm tấn công – phòng thủ.
Thứ hai, hết sức coi trọng xây dựng năng lực phản gián trong lĩnh vực nhận thức. Một mặt, xây dựng hệ thống quản lý và phân tích thông tin trên các nền tảng truyền thông và mạng xã hội hiệu quả hơn, nhanh chóng nhận diện và kịp thời vạch trần, bác bỏ thông tin giả của đối phương; mặt khác, tăng cường xây dựng năng lực tác động nhận thức, thông qua các phương tiện truyền thông chính thống và nền tảng quốc tế tích cực truyền tải thông tin tích cực, xây dựng hình ảnh đất nước, dẫn dắt dư luận, tăng cường khả năng phát ngôn quốc tế.
Thứ ba, hết sức coi trọng xây dựng năng lực phản gián trong lĩnh vực pháp luật. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phản gián và an ninh thông tin, cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho các hoạt động phản gián; đồng thời tích cực tham gia xây dựng các quy tắc quốc tế trong lĩnh vực phản gián, thông qua hợp tác quốc tế cùng phòng ngừa và trấn áp các loại hình gián điệp, đánh cắp bí mật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đất nước.
Kết luận
Trong xung đột Nga – Ukraine, Nga đã thực hiện tác chiến phản gián bằng nhiều biện pháp từ cả hai hướng chủ động và bị động. Bên cạnh việc áp dụng trong lĩnh vực tình báo truyền thống, còn tiếp tục làm nổi bật vai trò tác chiến trong các lĩnh vực mới nổi như công nghệ thông tin. Tác chiến phản gián của Nga vừa là sự bổ sung hiệu quả cho tác chiến chính diện trên chiến trường Nga – Ukraine, vừa là sự thực hành sinh động của lý thuyết chiến tranh phức hợp kiểu Nga, đồng thời là cuộc thăm dò tiên phong về tác chiến phản gián mạng, xoay chuyển tình thế bất lợi cho Nga trong lĩnh vực tình báo giai đoạn đầu, đặt nền móng cho việc triển khai tác chiến tình báo của Nga các giai đoạn sau. Tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine đã đạt được nhiều hiệu quả nhiều mặt, đồng thời cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực chiến như tăng cường chuẩn bị phản gián trong thống nhất giữa thời bình và thời chiến, điều phối hệ thống phản gián, coi trọng phản gián trong các lĩnh vực mới nổi… Những kinh nghiệm này đáng để tham khảo và tiếp thu.
Biên dịch: Hoàng Hải
Các tác giả Tạ Xuyên Dư thuộc đơn vị 91976, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Nhâm Kiệt và Lý Ni Na thuộc Viện nghiên cứu Hải quân (Trung Quốc).
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của các tác giả, hoàn toàn không phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]























