Tây Á đang đổ hàng tỷ đô la vào các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nội địa, nhưng các công ty nước ngoài vẫn nắm quyền kiểm soát nền tảng công nghệ và khung pháp lý – những thứ có thể biến hạ tầng số thành công cụ gây ảnh hưởng từ bên ngoài.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, hai lãnh đạo cấp cao của Microsoft Pháp đã ra điều trần trước một ủy ban của Thượng viện Pháp đang điều tra về mua sắm công và chủ quyền số. Phiên điều trần tưởng như chỉ mang tính thủ tục, cho đến khi câu hỏi then chốt được đặt ra cho Microsoft. Liệu công ty có thể đảm bảo rằng dữ liệu của công dân Pháp, dù được lưu trữ tại Pháp, sẽ không bao giờ bị chuyển giao cho một chính quyền nước ngoài mà không có sự đồng ý của chính phủ Pháp hay không?
Anton Carniaux, Giám đốc phụ trách các vấn đề pháp lý của Microsoft Pháp, đã trả lời bằng một câu ngắn gọn: “Không, tôi không thể đảm bảo điều đó.”
Câu trả lời này xuyên thủng các ngôn từ quảng bá trong nhiều năm của các tập đoàn về “vùng điện toán đám mây nội địa”, “hạ tầng đáng tin cậy” và “lưu trú dữ liệu”. Nước Pháp có thể là nơi đặt máy chủ, công dân Pháp có thể là người tạo ra dữ liệu, và các định chế Pháp có thể là bên trả tiền cho dịch vụ. Nhưng quyền quyết định tối cao vẫn có thể được thực thi ở một nơi khác.
Thượng viện Pháp đã kết luận rằng Microsoft không thể đảm bảo chủ quyền đối với dữ liệu mà hãng lưu trữ. Sự việc này phơi bày một thực tế mang tính toàn cầu mà Tây Á có thể lấy đó làm bài học: vị trí vật lý của dữ liệu không còn đồng nghĩa với vị trí chính trị của nó.
Tấm bản đồ mà những máy chủ che giấu
Địa lý học truyền thống dạy rằng quyền lực gắn liền với lãnh thổ. Dầu mỏ thuộc về quốc gia sở hữu phần đất bên dưới nó. Cảng biển chịu sự quản lý của quốc gia có bờ biển nơi cảng được xây dựng. Đường ống dẫn dầu chịu sự chi phối của các đường biên giới mà nó đi qua. Nhưng dữ liệu tuân theo một thứ địa lý khác.
Một hồ sơ y tế có thể được tạo ra tại Riyadh, lưu trữ tại Bahrain, xử lý bởi một thuật toán được huấn luyện tại Mỹ, và vận hành thông qua một công ty con ở châu Âu. Vậy quốc gia nào thực sự kiểm soát nó?
Câu trả lời thông thường là dữ liệu thuộc về cá nhân, công ty hoặc chính phủ đã tạo ra nó. Nhưng trên thực tế, quyền sở hữu không quan trọng bằng quyền kiểm soát. Quyền lực thực sự nằm trong tay những ai có khả năng truy cập, xử lý, chuyển giao, hạn chế hoặc buộc phải tiết lộ dữ liệu theo pháp luật.
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ nêu rõ nguyên tắc này. Theo Đạo luật CLOUD, các nhà cung cấp dịch vụ chịu sự tài phán của Mỹ có thể bị yêu cầu tiết lộ dữ liệu thông qua thủ tục pháp lý hợp lệ, “bất kể công ty lưu trữ dữ liệu ở đâu”.
Washington trình bày điều này như một phương thức hợp pháp để thu thập chứng cứ điện tử. Nhưng xét về địa chính trị, nó cho phép quyền tài phán của Mỹ “đi theo” quyền kiểm soát của doanh nghiệp, vươn tới cả những thông tin nằm ngoài lãnh thổ Mỹ. Giải thích của Bộ Tư pháp xác nhận rằng các nhà cung cấp có thể bị buộc phải xuất trình dữ liệu nằm trong quyền kiểm soát của họ, bất kể dữ liệu đó được lưu ở đâu.
Vì vậy, bản đồ quyền lực mới không chỉ được vẽ nên bởi biên giới, cáp quang và các trung tâm dữ liệu, mà còn bởi trụ sở tập đoàn, khóa mã hóa, nghĩa vụ pháp lý, các nhà quản trị thuật toán, và những quốc gia có khả năng buộc các bên này phải hợp tác.
Ảo tưởng về những đường biên giới số
Khắp Tây Á, các chính phủ đang đầu tư mạnh vào điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), định danh số, đô thị thông minh và các dịch vụ công dựa trên dữ liệu. Ả Rập Xê Út đặt mục tiêu trở thành một nền kinh tế dữ liệu hàng đầu, trong khi UAE, Qatar, Bahrain, Oman và Thổ Nhĩ Kỳ đang mở rộng năng lực điện toán đám mây và quản trị dữ liệu.
Năng lực hạ tầng vật lý cũng đang tập trung vào một số ít trung tâm khu vực. Một đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2025 ghi nhận 39 trung tâm dữ liệu tại UAE và 33 tại Ả Rập Xê Út. Cả hai con số này vẫn thấp hơn mức trung bình 81 của nhóm nước thu nhập cao, nhưng vượt xa phần lớn khu vực xung quanh, đưa hai quốc gia này trở thành các cửa ngõ hạ tầng điện toán mới nổi của Tây Á.
Quy mô của sự chuyển dịch này có thể đo lường được. Liên minh Viễn thông Quốc tế báo cáo rằng 70% dân số các nước Ả Rập sử dụng internet vào năm 2024, so với mức 68% trên toàn cầu. Tuy nhiên, con số trung bình khu vực che giấu một khoảng cách lên tới 82% chênh lệch giữa nền kinh tế kết nối kém nhất và kết nối tốt nhất, trong khi số thuê bao băng thông rộng cố định vẫn dưới một nửa mức trung bình toàn cầu. Vì vậy, sự mở rộng số hóa diễn ra nhanh chóng nhưng cực kỳ không đồng đều.
Sự chênh lệch giữa các nhà cung cấp lớn với phần còn lại.
Theo Synergy Research Group, Amazon, Microsoft và Google chiếm 63% tổng chi tiêu doanh nghiệp toàn cầu cho hạ tầng điện toán đám mây trong quý 3 năm 2025. Thị trường này đạt 107 tỷ đô la trong quý đó, tăng từ 68 tỷ đô la chỉ 2 năm trước. Các quốc gia đang xây dựng hệ thống số với tốc độ nhanh đang bước vào một thị trường vốn đã được định hình xoay quanh sự phụ thuộc.
Một chính phủ có thể yêu cầu dữ liệu công dân phải nằm trong biên giới quốc gia, trong khi vẫn phải dựa vào một công ty nước ngoài để vận hành nền tảng, duy trì phần mềm, cung cấp mô hình AI, hoặc kiểm soát các thang bậc quan trọng của hệ thống.
Điều này tạo ra vẻ ngoài của chủ quyền mà không nhất thiết mang lại thực chất của nó. Việc nội địa hóa dữ liệu chỉ trả lời được một câu hỏi: Thông tin được lưu trữ ở đâu? Nó không trả lời được những câu hỏi quan trọng hơn: Ai kiểm soát khóa mã hóa? Ai cập nhật phần mềm? Ai có thể ngừng cung cấp dịch vụ? Luật pháp của quốc gia nào chi phối nhà cung cấp? Ai có thể buộc tiết lộ dữ liệu? Và ai sở hữu năng lực điện toán cần thiết để khai thác giá trị chiến lược từ dữ liệu đó?
Việc giữ máy chủ trong biên giới quốc gia không đồng nghĩa với việc đặt chúng dưới sự kiểm soát của quốc gia đó.
Palestine và dữ liệu bị vũ khí hóa
Không nơi nào hệ quả của thứ địa lý mơ hồ này thể hiện rõ hơn tại Palestine bị chiếm đóng. Chiến tranh hiện đại ngày càng phụ thuộc vào việc thu thập, kết hợp và diễn giải một khối lượng thông tin khổng lồ.
Hồ sơ điện thoại, dữ liệu sinh trắc học, thông tin liên lạc bị chặn thu, lịch sử vị trí và hình ảnh trên không có thể được chuyển hóa thành tình báo quân sự thông qua điện toán đám mây và AI.
Một cuộc điều tra của hãng tin AP cho thấy mức độ sử dụng Microsoft và OpenAI của quân đội Israel đã tăng lên gần gấp 200 lần so với mức ghi nhận trong tuần trước khi “Chiến dịch Cơn lũ Al-Aqsa” nổ ra ngày 7 tháng 10 năm 2023, tính đến tháng 3 năm 2024. Lượng dữ liệu lưu trữ trên máy chủ Microsoft đã tăng gấp đôi, lên hơn 13,6 petabyte vào tháng 7 năm 2024, trong khi mức sử dụng máy chủ điện toán của Microsoft bởi quân đội tăng gần hai phần ba trong hai tháng đầu của cuộc chiến. Theo các báo cáo, nền tảng Azure được dùng để tổng hợp, phiên âm và dịch thông tin thu được qua giám sát diện rộng, một phần thông tin tình báo được đối chiếu chéo với các hệ thống xác định mục tiêu.
Tháng 9 năm 2025, Microsoft đã vô hiệu hóa một số dịch vụ đám mây và AI cung cấp cho một đơn vị quân đội Israel, sau khi một cuộc rà soát phát hiện các sản phẩm này đã được dùng để giám sát hàng loạt người Palestine. Dữ liệu liên quan được cho là đã được lưu trữ tại các cơ sở đám mây của Microsoft ở châu Âu.
Chuỗi sự việc này cho thấy rõ: thông tin được thu thập tại Palestine, xử lý bởi một đơn vị quân đội Israel, lưu trữ tại châu Âu, và cuối cùng chịu sự chi phối bởi các quyết định của một tập đoàn Mỹ. AP đã ghi nhận chi tiết về hệ thống giám sát này cũng như các biện pháp hạn chế sau đó của Microsoft.
Biện pháp hạn chế nói trên có vẻ đáng kể, nhưng giới hạn của nó cũng bộc lộ rõ không kém. Hossam Nasr, cựu nhân viên Microsoft và là thành viên tổ chức “No Azure for Apartheid”, nhận xét: “Phần lớn hợp đồng của Microsoft với quân đội Israel vẫn còn nguyên vẹn.” Vụ việc này cho thấy các tập đoàn công nghệ tư nhân giờ đây nắm giữ những vị trí từng gần như chỉ thuộc về nhà nước. Họ cung cấp năng lực được sử dụng trong các hoạt động tình báo, quyết định liệu khách hàng có được tiếp tục truy cập hay không, điều tra các cáo buộc lạm dụng, và áp đặt các biện pháp hạn chế xuyên biên giới.
Nimbus và cái bẫy chủ quyền
Bản thân Israel cũng nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược của việc kiểm soát điện toán đám mây. Dự án Nimbus, được trao cho Google và Amazon Web Services, được thiết kế nhằm cung cấp hạ tầng đám mây toàn diện cho các bộ, ngành Israel và các cơ quan công liên quan.
Dự án trị giá 1,2 tỷ đô la này đòi hỏi hạ tầng nội địa và được giới thiệu như một phương thức giữ thông tin của chính phủ bên trong lãnh thổ Israel. Nhưng các nhà cung cấp chính vẫn là những tập đoàn Mỹ, gắn chặt với hệ thống pháp lý và công nghệ của Mỹ. Quy mô của hợp đồng này đưa vấn đề chủ quyền đám mây trở thành hạ tầng chiến lược thực thụ, với chi phí lên tới hàng tỷ đô la.
Dự án Nimbus thể hiện nghịch lý cốt lõi của chủ quyền dữ liệu: một chính phủ có thể khăng khăng yêu cầu dữ liệu phải nằm trong lãnh thổ của mình, trong khi vẫn giao phó việc lưu trữ, xử lý và quản lý nền tảng cho các công ty có trụ sở ở nơi khác.
Israel đã đàm phán quyết liệt để giảm thiểu điểm yếu này. Phần lớn các quốc gia Tây Á khác không có được sức mạnh đàm phán như của Israel, mức độ hội nhập công nghệ với Washington, hay đòn bẩy đối với các tập đoàn lớn của Mỹ.
Thu thập, xử lý, cưỡng chế
Cuộc chiến giành dữ liệu, xét đến cùng, là cuộc tranh giành ba loại quyền chiến lược.
Thứ nhất là quyền thu thập. Các chính phủ, nền tảng số, nhà mạng viễn thông, ngân hàng và cơ quan an ninh tích lũy thông tin về danh tính, di chuyển, liên lạc, sức khỏe, tiêu dùng và hành vi.
Thứ hai là quyền xử lý. Dữ liệu thô chỉ có giá trị chiến lược khi một chủ thể sở hữu chip, thuật toán, nền tảng đám mây và nhân lực có kỹ năng cần thiết để xử lý nó.
Thứ ba là quyền cưỡng chế. Các chính phủ và tòa án tìm cách nắm giữ thẩm quyền buộc các nhà cung cấp phải tiết lộ, lưu giữ, gỡ bỏ hoặc hạn chế thông tin.
Mức độ tập trung kinh tế đằng sau những quyền này đang gia tăng. Cơ quan Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD) báo cáo rằng năm tập đoàn số đa quốc gia lớn nhất đã tăng thị phần doanh thu toàn ngành từ 21% năm 2017 lên 48% năm 2025; tỷ trọng tổng tài sản trong toàn ngành của họ tăng từ 17% lên 35%. Như vậy, quyền kiểm soát dữ liệu và năng lực xử lý đang tích tụ nhanh hơn tốc độ mở rộng của hạ tầng.
Một quốc gia chỉ kiểm soát quyền thứ nhất là một nhà cung cấp nguyên liệu thô kỹ thuật số. Một quốc gia kiểm soát cả việc thu thập và xử lý có thể trở thành một cường quốc số. Một chủ thể có khả năng thực thi cả ba quyền sẽ sở hữu điều gì đó gần với chủ quyền số thực sự.
Cựu Chủ tịch Research in Motion, Jim Balsillie, đã khái quát sự chuyển đổi này trước Liên Hợp Quốc: “Của cải và quyền lực bắt nguồn từ việc sở hữu tài sản trí tuệ có giá trị và kiểm soát dữ liệu cùng các cỗ máy AI có giá trị.”
Trong thế kỷ 20, giá trị chiến lược không chỉ nằm ở việc khai thác dầu mỏ, mà còn ở việc tinh chế, vận chuyển, định giá và tài trợ cho nó. Trong thế kỷ 21, sự phân biệt tương tự cũng áp dụng cho dữ liệu.
Giá trị đang bị đặt cược ngày càng lớn. UNCTAD dự báo thị trường AI toàn cầu sẽ tăng từ 189 tỷ đô la năm 2023 lên 4,8 nghìn tỷ đô la vào năm 2033 – gấp 25 lần. Những khu vực chỉ cung cấp dữ liệu nhưng thiếu hạ tầng điện toán và tài sản trí tuệ cần thiết để xử lý nó có nguy cơ chỉ thu về một phần rất nhỏ trong giá trị đó.
Tây Á có thể là nơi tạo ra nguyên liệu thô, nhưng quyền lực quyết định lại nằm ở các “nhà máy lọc dữ liệu”: những nền tảng đám mây, mô hình AI và hệ thống điện toán có khả năng chuyển hóa thông tin thành lợi nhuận, tình báo và đòn bẩy địa chính trị.
Vượt ra ngoài chủ nghĩa thực dân số
Giải pháp không phải là cô lập kỹ thuật số. Không một quốc gia Tây Á nào có thể tự mình tái tạo mọi tầng lớp của hệ thống công nghệ toàn cầu. Việc thay thế sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp Mỹ bằng sự lệ thuộc hoàn toàn vào các nền tảng Trung Quốc hay nước ngoài khác chỉ đơn thuần dịch chuyển trọng tâm phụ thuộc từ bên ngoài này sang bên ngoài khác.
Nhưng khu vực này cần đảm bảo rằng việc thoát khỏi sự phụ thuộc vào dầu mỏ không đồng nghĩa với việc chuyển từ sự phụ thuộc kiểu cũ sang chủ nghĩa thực dân số – một hệ thống trong đó xã hội Tây Á tạo ra dữ liệu, còn các nền tảng nước ngoài sở hữu hạ tầng, khai thác giá trị và nắm giữ quyền truy cập. Điều khu vực này cần là quyền tự chủ công nghệ được phân tán.
Việc mua sắm dịch vụ đám mây cần được coi là một quyết định an ninh quốc gia, chứ không phải một giao dịch mua sắm Công nghệ thông tin thông thường. Các hợp đồng cần xác định rõ ai kiểm soát khóa mã hóa, cách xử lý các yêu cầu pháp lý từ nước ngoài, và liệu dữ liệu cùng ứng dụng có thể được chuyển sang một nhà cung cấp khác hay không.
Dữ liệu quan trọng về y tế, quốc phòng, sinh trắc học, tư pháp và dân số cần được bảo vệ ở mức cao hơn so với thông tin thương mại thông thường. Các chính phủ cũng cần đầu tư vào năng lực điện toán đám mây khu vực có khả năng liên thông, các tiêu chuẩn mở, kiểm toán độc lập, và năng lực duy trì các dịch vụ thiết yếu trong trường hợp một nhà cung cấp nước ngoài rút quyền truy cập.
Trên hết, chủ quyền dữ liệu cần được mở rộng vượt ra ngoài việc lưu trữ, bao trùm toàn bộ chuỗi: thu thập, phân loại, xử lý, truy cập, chia sẻ và xóa bỏ.
Vùng lãnh thổ mà các quốc gia không nhìn thấy
Trong hơn một thế kỷ, tầm quan trọng địa chính trị của Tây Á được vẽ nên bởi các mỏ dầu, đường ống, cảng biển, eo biển và căn cứ quân sự. Những cấu trúc đó vẫn giữ vai trò trung tâm, nhưng một tấm bản đồ chiến lược khác giờ đây đang dần che mờ chúng. Tấm bản đồ đó bao gồm các cơ sở dữ liệu, hợp đồng đám mây, thẩm quyền pháp lý, hệ thống định danh, mô hình AI và những quyền cấp phép vô hình.
Quyền kiểm soát dữ liệu trao cho các quốc gia và tập đoàn khả năng vẽ bản đồ xã hội, diễn giải hành vi, dự đoán các biến động chính trị và kinh tế, và biến tri thức đó thành hành động.
Các quốc gia Tây Á đang nhanh chóng xây dựng hạ tầng số mà nền kinh tế và các định chế công của họ sẽ phụ thuộc vào. Nhưng phần lớn thẩm quyền chi phối những hệ thống này vẫn nằm ngoài khu vực. Trong thế kỷ 21, quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ ngày càng phụ thuộc vào quyền kiểm soát dữ liệu – thứ khiến con người, định chế và tài nguyên của một quốc gia trở nên hữu hình./.
Biên dịch: Hoàng Hải
Tác giả TS. Kamran Yeganegi là nhà nghiên cứu Iran chuyên về ngoại giao năng lượng, địa chính trị và quản trị trí tuệ nhân tạo.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]























