Tình hình can thiệp và hỗ trợ từ bên ngoài
Hỗ trợ đối với liên minh Mỹ – Israel
Sự hỗ trợ dành cho liên minh Mỹ – Israel phản ánh sự phân hóa trong cách tiếp cận của các nước phương Tây.
Vương quốc Anh là đồng minh quân sự chủ chốt và có mức độ can dự sâu nhất trong liên minh Mỹ – Israel, đóng vai trò là trung tâm hậu cần chiến lược và lực lượng tác chiến tiền phương của phương Tây. London cho phép Không quân Mỹ (USAF) sử dụng mạng lưới căn cứ quân sự toàn cầu của Anh, với giá trị thay thế hạ tầng ước tính khoảng 15,6 tỷ USD (11,4 tỷ bảng Anh) và hơn 22 cơ sở quân sự phụ trợ, trong đó nổi bật là RAF Fairford tại Anh và Diego Garcia ở Ấn Độ Dương. Các căn cứ này được sử dụng để triển khai oanh tạc cơ chiến lược B-1 Lancer, B-52H, máy bay tiếp dầu cùng các lực lượng bảo đảm kỹ thuật phục vụ các chiến dịch không kích nhằm vào hệ thống tên lửa, cơ sở hạt nhân và trung tâm chỉ huy của Iran. Đặc biệt, Diego Garcia, với vị trí cách khu vực tác chiến khoảng 2.600 – 3.500 dặm, cho phép các máy bay ném bom chiến lược như B-52H và B-2 Spirit tiến hành các nhiệm vụ tấn công tầm xa mà không phụ thuộc vào quyền sử dụng không phận của các quốc gia vùng Vịnh. Hiệu quả chiến lược của căn cứ này từng được chứng minh trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc (1991), khi các phi đội xuất phát từ Diego Garcia thực hiện hơn 800 phi vụ oanh tạc, tạo ưu thế hỏa lực quyết định cho liên quân. Trong khi đó, RAF Fairford, với đường băng dài 3.048 m cùng hệ thống kho nhiên liệu đạt chuẩn NATO, trở thành mắt xích hậu cần quan trọng, bảo đảm luồng tiếp vận liên tục cho các biên đội máy bay tiếp dầu KC-135 và KC-46 di chuyển từ lục địa Mỹ qua châu Âu đến Trung Đông. Việc khai thác đồng thời hai căn cứ chiến lược này giúp Mỹ mở rộng đáng kể bán kính tác chiến, duy trì cường độ không kích cao và bảo đảm tính liên tục của chiến dịch ngay từ giai đoạn mở màn.
Mức độ can dự của Anh không chỉ dừng lại ở hỗ trợ hậu cần mà còn mở rộng sang tham chiến trực tiếp. Từ căn cứ RAF Akrotiri trên đảo Síp, các tiêm kích Eurofighter Typhoon của Không quân Hoàng gia Anh (RAF) phối hợp cùng lực lượng Mỹ thực hiện nhiệm vụ đánh chặn tên lửa đạn đạo và UAV của Iran, trở thành lực lượng châu Âu duy nhất trực tiếp tham gia hoạt động quân sự trong cuộc xung đột. Trong các đợt tập kích quy mô lớn của Iran, các phi đội Typhoon đã bắn hạ nhiều UAV tự sát Shahed-136 trước khi chúng tiếp cận không phận Israel, góp phần duy trì hiệu quả của mạng lưới phòng không liên quân. Sự can dự quân sự trực tiếp này khiến Tehran tuyên bố “bất kỳ căn cứ nào của Anh được Mỹ sử dụng để tấn công Iran sẽ trở thành mục tiêu hợp pháp”, đồng thời mở rộng phạm vi trả đũa đối với các lợi ích của London trong khu vực. Trên thực địa, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã tiến hành các đợt tập kích bằng UAV và tên lửa hành trình nhằm vào các cơ sở hỗ trợ hậu cần của Anh tại Bahrain, nơi triển khai khoảng 300 binh sĩ Anh, đồng thời gây hư hại một số hạng mục tại căn cứ RAF Akrotiri trên đảo Síp. Điều này cho thấy vai trò của Anh đã vượt xa tư cách một quốc gia hỗ trợ hậu cần, trở thành một tác nhân quân sự trực tiếp, qua đó làm gia tăng nguy cơ quốc tế hóa và mở rộng phạm vi của cuộc chiến Trung Đông năm 2026.
Trái ngược với mức độ can dự sâu của Vương quốc Anh, đa số các quốc gia Liên minh châu Âu (EU) lựa chọn cách tiếp cận thận trọng, giới hạn vai trò ở các hoạt động hậu cần, phòng thủ và bảo đảm an ninh, đồng thời tránh tham gia trực tiếp vào các chiến dịch tấn công nhằm vào Iran. Cách tiếp cận này phản ánh nỗ lực cân bằng giữa nghĩa vụ đồng minh trong khuôn khổ NATO với yêu cầu hạn chế nguy cơ leo thang thành một cuộc chiến khu vực toàn diện.
Đức đóng vai trò là trung tâm hậu cần chiến lược của liên minh. Berlin cho phép quân đội Mỹ sử dụng Căn cứ Không quân Ramstein – sở chỉ huy của Không quân Mỹ tại châu Âu làm đầu mối trung chuyển lực lượng, vận tải quân sự và bảo đảm hậu cần cho chiến trường Trung Đông. Thông qua Ramstein, hơn 11.000 tấn hàng hóa quân sự, trang thiết bị và vật tư y tế được điều phối phục vụ các chiến dịch của Mỹ trong khu vực. Tuy nhiên, Chính phủ Đức đồng thời áp đặt giới hạn pháp lý nghiêm ngặt khi không cho phép sử dụng căn cứ này để tiếp nhiên liệu hoặc xuất phát các phi đội thực hiện nhiệm vụ không kích trực tiếp nhằm vào Iran, qua đó thể hiện rõ chủ trương hỗ trợ phòng thủ nhưng không tham gia chiến tranh tấn công. Pháp cũng duy trì lập trường tương tự. Paris cho phép máy bay quân sự Mỹ hạ cánh và bảo đảm hậu cần tại một số căn cứ, tiêu biểu như Istres-Le Tubé, song quy định rõ rằng các phương tiện này chỉ được sử dụng cho nhiệm vụ hỗ trợ phòng thủ, vận tải và tiếp vận, không được xuất phát từ lãnh thổ Pháp để tiến hành các cuộc không kích chủ động vào Iran. Chính sách này phản ánh quan điểm nhất quán của Paris trong việc ủng hộ đồng minh nhưng vẫn giữ khoảng cách đối với các hoạt động quân sự có nguy cơ làm mở rộng xung đột.
Đối với Ý, Rome từ chối hoặc chưa chấp thuận yêu cầu cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ chiến lược như Sigonella và Aviano để tiến hành các chiến dịch tấn công. Thay vào đó, Ý tập trung hỗ trợ năng lực phòng thủ của các quốc gia Vùng Vịnh thông qua việc cung cấp và chia sẻ dữ liệu từ các hệ thống phòng không hiện đại như SAMP/T, góp phần bảo vệ các mỏ dầu, nhà máy lọc dầu và cơ sở hạ tầng năng lượng trọng yếu trước các đợt tập kích bằng tên lửa đạn đạo và UAV của Iran. Cách tiếp cận này cho thấy Rome ưu tiên bảo đảm an ninh năng lượng và ổn định khu vực hơn là tham gia trực tiếp vào các hoạt động quân sự. Trong khi đó, Síp – quốc gia thành viên EU nằm gần khu vực giao tranh nhất, chỉ cách bờ biển Trung Đông chưa đầy 200 km trở thành điểm nóng an ninh mới do sự hiện diện của căn cứ RAF Akrotiri của Anh. Chính phủ Síp nhiều lần khẳng định lập trường trung lập, đồng thời phản đối việc Anh sử dụng căn cứ này để tiến hành các cuộc tấn công chủ động nhằm vào Iran vì lo ngại đảo quốc sẽ trở thành mục tiêu trả đũa. Trước nguy cơ đó, Pháp và Hy Lạp đã triển khai bổ sung các khẩu đội phòng không tầm xa Aster-30, lực lượng hải quân và bảo vệ bờ biển tới Síp nhằm thiết lập một ô phòng không bảo vệ đảo quốc trước nguy cơ bị tấn công bằng UAV Shahed hoặc tên lửa lạc hướng từ các mặt trận Lebanon và Đông Địa Trung Hải.
Sự khác biệt trong mức độ can dự cho thấy phương Tây không hoàn toàn thống nhất về cách thức ứng phó với cuộc chiến Trung Đông năm 2026. Nếu Anh chấp nhận vai trò tiền tuyến trong chiến dịch quân sự của Mỹ thì đa số các nước EU lại ưu tiên giảm thiểu nguy cơ leo thang, giới hạn sự tham gia ở các hoạt động hậu cần, phòng thủ và bảo vệ an ninh khu vực. Điều này phản ánh sự cân bằng giữa cam kết đồng minh với Mỹ và lợi ích chiến lược của châu Âu trong việc tránh mở rộng xung đột thành một cuộc chiến khu vực quy mô lớn.
Hỗ trợ đối với Iran
Liên minh Mỹ – Israel dựa trên ưu thế quân sự trực tiếp, Iran lựa chọn phát huy mạng lưới chiến tranh bất đối xứng, kết hợp giữa sự hậu thuẫn chiến lược của các cường quốc và hoạt động của các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực nhằm phân tán sức ép quân sự của đối phương. Mô hình này giúp Tehran duy trì năng lực kháng cự, mở rộng không gian tác chiến và giảm thiểu nguy cơ đối đầu trực diện với sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ và Israel.
Ở cấp độ chiến lược, Nga và Trung Quốc đóng vai trò là hai đối tác quan trọng, cung cấp cho Iran lá chắn về chính trị, kinh tế và công nghệ nhưng đều tránh tham chiến trực tiếp nhằm hạn chế nguy cơ đối đầu quân sự với phương Tây. Nga tập trung hỗ trợ trong lĩnh vực tình báo và tác chiến điện tử thông qua việc chia sẻ dữ liệu ảnh vệ tinh theo thời gian thực, thông tin trinh sát điện tử và dữ liệu mục tiêu, đồng thời cung cấp các hệ thống tác chiến điện tử hiện đại. Sự xuất hiện của các tổ hợp tác chiến điện tử tiên tiến do Nga sản xuất như Murmansk-BN có khả năng gây nhiễu tín hiệu radar và liên lạc vệ tinh ở khoảng cách lên tới 5.000 km và Krasukha-4 tại các điểm nóng của Iran đã vô hiệu hóa thành công nhiều thiết bị định vị GPS của vũ khí dẫn đường phương Tây. Những hỗ trợ này giúp Iran nâng cao khả năng phát hiện sớm trước từ 30 đến 45 phút hướng tiếp cận của các biên đội oanh tạc cơ Mỹ, cải thiện đáng kể độ chính xác của tên lửa đạn đạo (như dòng Khaibar Shekan hay Fattah) và UAV khi tập kích các căn cứ quân sự, sở chỉ huy và lực lượng cơ động của Mỹ tại Vùng Vịnh, qua đó phần nào bù đắp khoảng cách về năng lực chỉ huy trinh sát so với liên quân Mỹ – Israel. Những hỗ trợ này giúp Iran nâng cao khả năng phát hiện sớm hướng tiếp cận của các biên đội oanh tạc cơ Mỹ, cải thiện đáng kể độ chính xác của tên lửa đạn đạo và UAV khi tập kích các căn cứ quân sự, sở chỉ huy và lực lượng cơ động của Mỹ tại Vùng Vịnh, qua đó phần nào bù đắp khoảng cách về năng lực chỉ huy – trinh sát so với liên quân Mỹ – Israel.
Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục duy trì lập trường chính thức kêu gọi kiềm chế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, Bắc Kinh vẫn duy trì quan hệ hợp tác kinh tế với Tehran thông qua việc tiếp tục nhập khẩu dầu mỏ của Iran bất chấp các biện pháp phong tỏa hàng hải của Mỹ, đồng thời cung cấp các linh kiện điện tử, công nghệ lưỡng dụng, hệ thống thông tin liên lạc, giải pháp phát triển UAV, tác chiến điện tử và công nghệ chống gây nhiễu. Các báo cáo theo dõi dòng chảy năng lượng cho thấy Trung Quốc tiếp tục hấp thụ hơn 60% đến 70% lượng dầu thô xuất khẩu của Iran thông qua “đội tàu ma” hoán đổi quốc tịch trên biển, mang lại nguồn doanh thu ổn định hàng tỷ USD giúp Tehran duy trì ngân sách quốc phòng. Bên cạnh đó, các linh kiện điện tử lưỡng dụng, vi mạch xử lý tín hiệu và các module định vị thương mại xuất xứ từ Trung Quốc đại lục chiếm hầu hết thành phần công nghệ được tìm thấy trong các mảnh vỡ của UAV tự sát dòng Shahed-136 và tên lửa hành trình Paveh. Những hỗ trợ này góp phần duy trì năng lực sản xuất tên lửa, UAV và tăng cường khả năng đối phó với ưu thế chỉ huy, kiểm soát, trinh sát và tác chiến điện tử của liên quân Mỹ – Israel. Những hỗ trợ này góp phần duy trì năng lực sản xuất tên lửa, UAV và tăng cường khả năng đối phó với ưu thế chỉ huy, kiểm soát, trinh sát và tác chiến điện tử của liên quân Mỹ – Israel.
Bên cạnh sự hậu thuẫn từ Nga và Trung Quốc, Trục kháng cự tiếp tục là trụ cột trong chiến lược tác chiến bất đối xứng của Iran. Hezbollah tại Liban, các lực lượng dân quân Shiite tại Iraq và Syria, cùng lực lượng Houthi tại Yemen đồng loạt triển khai các đợt tập kích bằng UAV, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo nhằm vào lãnh thổ Israel cũng như các căn cứ quân sự của Mỹ trên khắp Trung Đông. Trong đó, lực lượng Houthi giữ vai trò đặc biệt quan trọng khi phối hợp với Hải quân Iran gây sức ép đồng thời trên hai tuyến hàng hải chiến lược là Biển Đỏ và Eo biển Hormuz, tạo thành thế gọng kìm đối với các tuyến vận tải năng lượng và thương mại quốc tế. Việc các lực lượng ủy nhiệm cùng lúc mở nhiều mặt trận đã buộc Mỹ và Israel phải phân tán nguồn lực quân sự, qua đó nâng cao hiệu quả của chiến lược tiêu hao và kéo dài xung đột mà Tehran theo đuổi.
Sự hỗ trợ dành cho Iran không thể hiện ở việc hình thành một liên minh quân sự chính thức mà chủ yếu dựa trên mô hình hậu thuẫn gián tiếp, tác chiến ủy nhiệm. Sự kết hợp giữa nguồn hỗ trợ về tình báo, công nghệ và kinh tế từ Nga, Trung Quốc với mạng lưới lực lượng ủy nhiệm trong khu vực đã tạo cho Tehran khả năng duy trì chiến tranh dài hạn, chuyển hóa bất lợi về sức mạnh quân sự thành lợi thế trong chiến lược tiêu hao, đồng thời làm gia tăng đáng kể chi phí quân sự, kinh tế và chính trị mà Mỹ – Israel phải gánh chịu trong suốt cuộc xung đột.
Các quốc gia vùng Vịnh
Các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh trở thành nhóm quốc gia chịu tác động trực tiếp và sâu sắc nhất từ cuộc chiến Trung Đông năm 2026. Do vừa là nơi đặt nhiều căn cứ quân sự trọng yếu của Mỹ, vừa nằm trong tầm bắn của tên lửa và UAV Iran, các nước này ban đầu lựa chọn chiến lược cân bằng, vừa duy trì quan hệ đồng minh an ninh với Washington, vừa tránh các hành động có thể khiến Tehran coi là bên tham chiến trực tiếp. Tuy nhiên, khi các cuộc tập kích của Iran ngày càng gia tăng về tần suất và mức độ sát thương, lập trường của một số quốc gia vùng Vịnh đã chuyển từ phòng thủ sang can dự quân sự ở các mức độ khác nhau.
Đáng chú ý nhất là Bahrain và Kuwait, hai quốc gia liên tục trở thành mục tiêu của các đợt tập kích bằng tên lửa đạn đạo và UAV từ Iran do đều là nơi triển khai lực lượng quân sự Mỹ. Bahrain hiện là nơi đặt Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hải quân Mỹ (NAVCENT) và Hạm đội 5 với hơn 8.500 binh sĩ, trong khi Kuwait đón tiếp khoảng 13.500 quân nhân Mỹ trú đóng chủ yếu tại trại Camp Arifjan và căn cứ không quân Ali Al Salem. Sau khi hứng chịu liên tiếp các đợt oanh tạc bằng UAV gây tổn thất lớn cho hạ tầng hậu cần của phương Tây, hai nước này đã bí mật điều động máy bay chiến đấu (các phi đội tiêm kích F-16 Block 52 của Bahrain và F/A-18C Hornet của Kuwait) tiến hành các cuộc không kích nhằm vào các kho chứa UAV và trận địa tên lửa nằm sâu trong lãnh thổ Iran. Việc này đánh dấu bước chuyển đáng kể từ vị thế nước chủ nhà của các căn cứ Mỹ sang vai trò tác nhân quân sự trực tiếp tấn công Iran trong cuộc xung đột. Trong khi đó, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Qatar lựa chọn hình thức hỗ trợ gián tiếp nhưng có ý nghĩa chiến lược. UAE sử dụng năng lực của hệ thống radar cảnh giới tầm xa phối hợp cung cấp thông tin tình báo mục tiêu và kết nối chia sẻ dữ liệu với mạng lưới phòng không của liên minh Mỹ – Israel. Cùng với đó, hệ thống radar cảnh báo sớm băng tần X (AN/TPY-2) và trạm thông tin liên lạc tối tân tại Căn cứ Không quân Al Udeid (Qatar) trung tâm chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) điều phối hơn 10.000 quân liên tục được kích hoạt ở mức cao nhất. Sự phối hợp này đồng bộ các tổ hợp tên lửa Patriot PAC-3 và THAAD của cả Mỹ lẫn các nước vùng Vịnh để phát hiện, theo dõi và đánh chặn các đợt tập kích tầm xa của Iran, bảo vệ hiệu quả các căn cứ quân sự cũng như các cơ sở hạ tầng năng lượng trọng yếu chống lại chiến thuật bão hoà UAV/tên lửa.
Trái với xu hướng gia tăng can dự quân sự của một số nước Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC), Oman và Pakistan tiếp tục duy trì vai trò là bên trung gian hòa giải truyền thống. Tận dụng vị thế trung lập chiến lược đặc biệt (Oman kiểm soát một nửa Eo biển Hormuz và Pakistan có chung đường biên giới đất liền dài hơn 900 km với Iran), Muscat và Islamabad tích cực thúc đẩy các kênh đối thoại bí mật giữa Washington và Tehran nhằm tìm kiếm cơ sở cho một lệnh ngừng bắn và giảm nguy cơ xung đột lan rộng. Những nỗ lực ngoại giao con thoi này đã góp phần tạo tiền đề cho các vòng đàm phán cấp cao trực tiếp tại thủ đô của Oman, trực tiếp dẫn đến việc ký kết Bản ghi nhớ Muscat, thiết lập một cơ chế đường dây nóng khẩn cấp nhằm ngăn chặn các tính toán sai lầm có thể dẫn đến việc phong tỏa hoàn toàn tuyến hàng hải quốc tế, nơi lưu thông khoảng 20% sản lượng dầu mỏ thế giới.
Phản ứng của các quốc gia vùng Vịnh cho thấy sự đa dạng trong chiến lược ứng phó trước cuộc chiến. Nếu Bahrain và Kuwait từng bước chuyển sang can dự quân sự trực tiếp, UAE và Qatar chủ yếu hỗ trợ về tình báo và phòng thủ, thì Oman và Pakistan lại tập trung vào vai trò trung gian ngoại giao. Sự phân hóa này phản ánh nỗ lực của các quốc gia trong khu vực nhằm cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, duy trì quan hệ đồng minh với Mỹ và tránh để cuộc xung đột leo thang thành một cuộc chiến khu vực toàn diện.
Đánh giá kết quả đạt được đến nay của các bên
Đối với liên minh Mỹ – Israel
Xét trên phương diện quân sự, liên minh Mỹ – Israel đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu của giai đoạn mở màn. Chiến dịch tập kích phủ đầu đã loại bỏ thành công Lãnh tụ tối cao Ali Khamenei cùng một bộ phận quan trọng trong hệ thống chỉ huy cấp cao của Iran, đồng thời gây thiệt hại nghiêm trọng đối với cơ sở hạ tầng hạt nhân tại Natanz, Fordow và nhiều căn cứ quân sự trọng yếu của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Cùng với ưu thế tuyệt đối trên không và trên biển, Mỹ và Israel duy trì khả năng kiểm soát thực tế các tuyến hàng hải xung quanh Iran, qua đó tạo sức ép liên tục đối với năng lực hậu cần và xuất khẩu năng lượng của Tehran. Tuy nhiên, những thành công về mặt tác chiến không chuyển hóa thành một thắng lợi chiến lược hoàn chỉnh. Thứ nhất, mục tiêu làm suy sụp hoàn toàn năng lực kháng cự của Iran không đạt được khi Tehran vẫn duy trì được hệ thống chỉ huy, nhanh chóng hoàn tất quá trình chuyển giao quyền lực và tiếp tục triển khai hiệu quả chiến lược chiến tranh bất đối xứng. Thứ hai, liên quân phải gánh chịu các đợt phản công quy mô lớn bằng tên lửa đạn đạo và UAV nhằm vào các căn cứ quân sự tại Bahrain, Kuwait và Jordan, gây tổn thất đáng kể về nhân lực, khí tài và cơ sở hạ tầng quân sự. Mặc dù quy mô thiệt hại chưa được công bố đầy đủ, nhiều đánh giá cho thấy con số thương vong thực tế cao hơn đáng kể so với các số liệu chính thức.
Ngoài ra, cường độ tác chiến kéo dài đã làm tiêu hao nhanh chóng kho dự trữ tên lửa đánh chặn của Mỹ, đặc biệt là các hệ thống Patriot, SM-3 và SM-6, trong bối cảnh Iran liên tục sử dụng chiến thuật tập kích bão hòa bằng UAV và tên lửa. Về phương diện chính trị, cuộc chiến cũng tạo sức ép ngày càng lớn đối với chính quyền Tổng thống Donald Trump khi tỷ lệ ủng hộ chiến tranh trong dư luận Mỹ chỉ dao động quanh mức 29%, phản ánh tâm lý mệt mỏi với các cuộc can dự quân sự kéo dài tại Trung Đông. Điều này cho thấy liên minh Mỹ – Israel tuy vẫn duy trì ưu thế quân sự áp đảo nhưng đang phải đối mặt với những giới hạn ngày càng rõ rệt về nguồn lực, dư luận và khả năng duy trì chiến tranh dài hạn.
Đối với Iran
Đối với Iran, mặc dù phải hứng chịu những tổn thất nặng nề ngay từ giai đoạn đầu của cuộc chiến, Tehran vẫn đạt được một số mục tiêu chiến lược quan trọng. Trước hết, Iran đã chứng minh khả năng duy trì năng lực răn đe bằng việc liên tục xuyên thủng nhiều tầng phòng thủ của Mỹ và Israel thông qua tên lửa đạn đạo, UAV tấn công và các công nghệ siêu vượt âm thế hệ mới. Sự kết hợp giữa hỏa lực tầm xa với năng lực tác chiến điện tử, được hỗ trợ bởi dữ liệu tình báo vệ tinh và công nghệ từ các đối tác chiến lược, đã giúp Iran nâng cao đáng kể hiệu quả của các đòn tập kích, qua đó làm suy giảm nhận thức về tính bất khả xâm phạm của hệ thống phòng thủ Mỹ – Israel. Bên cạnh đó, việc phong tỏa Eo biển Hormuz và phối hợp với lực lượng Houthi gây sức ép tại Biển Đỏ đã giúp Tehran chuyển hóa bất lợi quân sự thành đòn bẩy địa kinh tế, làm gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu và gia tăng đáng kể chi phí kinh tế của cuộc chiến đối với các nước phương Tây. Đồng thời, quá trình chuyển giao quyền lực nhanh chóng sang Mojtaba Khamenei giúp Iran tránh được khoảng trống quyền lực sau cái chết của Ali Khamenei, duy trì sự thống nhất trong giới lãnh đạo và bảo đảm lòng trung thành của IRGC đối với chính quyền trung ương.
Mặc dù vậy, những thành công này không thể bù đắp được các tổn thất rất lớn mà Iran phải gánh chịu. Hệ thống hạ tầng quân sự đầu não, mạng lưới radar phòng không, nhiều cơ sở nghiên cứu hạt nhân và các trung tâm chỉ huy chiến lược bị phá hủy hoặc suy giảm nghiêm trọng năng lực hoạt động. Nền kinh tế tiếp tục rơi vào khủng hoảng sâu sắc do tác động kép của chiến tranh và các lệnh trừng phạt, với lạm phát gia tăng, hệ thống tài chính chịu sức ép lớn và đời sống người dân suy giảm. Những khó khăn kinh tế kéo dài cũng làm bùng phát nhiều làn sóng biểu tình và bất ổn xã hội, trở thành thách thức lâu dài đối với tính chính danh và năng lực quản trị của chính quyền Tehran.
Xét về tổng thể, kết quả của cuộc chiến đến nay phản ánh sự đối đầu giữa hai mô hình sức mạnh quân sự khác nhau. Liên minh Mỹ – Israel tiếp tục thể hiện ưu thế vượt trội về công nghệ, năng lực tác chiến hiệp đồng và khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công chính xác ở chiều sâu chiến lược. Ngược lại, Iran chứng minh khả năng duy trì chiến tranh bất đối xứng, khai thác hiệu quả lợi thế địa chiến lược, mạng lưới lực lượng ủy nhiệm và các công cụ địa kinh tế để kéo dài xung đột, gia tăng chi phí quân sự và chính trị cho đối phương. Do đó, xét trên phương diện chiến lược, cuộc chiến chưa tạo ra một bên thắng tuyệt đối mà đang hình thành trạng thái bế tắc chiến lược. Mỹ và Israel giành ưu thế về kiểm soát chiến trường và khả năng hủy diệt mục tiêu, nhưng chưa đạt được mục tiêu buộc Iran phải từ bỏ năng lực kháng cự hoặc chấp nhận các điều kiện chính trị của mình. Trong khi đó, Iran tuy bảo toàn được chế độ và duy trì được năng lực răn đe bất đối xứng, song phải đánh đổi bằng những tổn thất rất lớn về kinh tế, hạ tầng và tiềm lực phát triển quốc gia. Điều này cho thấy cuộc chiến Trung Đông năm 2026 nhiều khả năng sẽ tiếp tục chuyển sang giai đoạn cạnh tranh tiêu hao kéo dài, nơi yếu tố quyết định không còn là ưu thế hỏa lực thuần túy mà là khả năng duy trì nguồn lực, sức chịu đựng kinh tế, độ bền của liên minh và ý chí chính trị của mỗi bên.
Tác động của cuộc chiến
Đối với bản thân các nước tham chiến
Với Mỹ
Cuộc chiến mang lại lợi ích chiến lược trong việc kiềm chế Iran nhưng cũng đẩy Washington vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về cả đối nội lẫn đối ngoại, kéo tụt uy tín toàn cầu của chính quyền Tổng thống Donald Trump. Hiện nay, chính quyền Trump đang suy giảm mạnh uy tín chính trị trong nước và làn sóng phản chiến. Các cuộc thăm dò dư luận lớn tại Mỹ (như Gallup và Pew Research) ghi nhận tỷ lệ cử tri ủng hộ hành động quân sự trực tiếp của Mỹ tại Trung Đông giảm sâu, chỉ còn 29%. Ngược lại, tỷ lệ phản đối vọt lên tới 60%. Các cuộc biểu tình phản chiến quy mô lớn bùng phát rầm rộ tại các thành phố lớn như Washington D.C., New York và các trường đại học hàng đầu (Ivy League). Công chúng Mỹ bày tỏ sự mệt mỏi tột độ trước kịch bản sa lầy vào một cuộc chiến vĩnh cửu mới tại Trung Đông, tương tự bài học xương máu từ Iraq và Afghanistan. Áp lực chính trị đè nặng lên chính quyền Tổng thống Trump và các nghị sĩ Đảng Cộng hòa tại Quốc hội Mỹ khi phải đối mặt với các phiên điều trần căng thẳng, làm rạn nứt sự đồng thuận lưỡng đảng về chính sách đối ngoại.
Không những vậy, Lầu Năm Góc phải chi trung bình từ 4,5 tỷ đến 5,2 tỷ USD mỗi tháng để duy trì chiến dịch không kích, vận tải hậu cần tầm xa và bảo vệ các căn cứ đồn trú tại Vùng Vịnh khiến gánh nặng tài chính lớn thêm và sự cạn kiệt kho dự trữ vũ khí chiến lược, tính đến thời điểm này đã lên tới 37,5 tỷ USD. Việc đánh chặn các đợt tập kích bão hòa liên tục bằng tên lửa và UAV của Iran vào các căn cứ ở Bahrain, Kuwait và Jordan đã tiêu hao nghiêm trọng kho dự trữ tên lửa đánh chặn chiến lược của Mỹ (đặc biệt là các dòng tên lửa đắt đỏ như Patriot, SM-3 và SM-6). Năng lực sản xuất quốc phòng nội địa của Mỹ không bù đắp kịp tốc độ tiêu thụ trên chiến trường, trực tiếp làm suy giảm khả năng sẵn sàng chiến đấu và răn đe của Mỹ tại các mặt trận chiến lược khác như Đông Âu và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Bất chấp lưới phòng không dày đặc, các đòn tập kích trả đũa bằng tên lửa đạn đạo công nghệ mới và UAV tự sát của Iran đã xuyên thủng phòng thủ Mỹ. Các mục tiêu bị đánh trúng trực diện bao gồm Trại Camp Arifjan, Căn cứ Không quân Ali Al Salem (Kuwait) và Tổng hành dinh Hạm đội 5 (Bahrain). Số lượng binh sĩ Mỹ thương vong (bao gồm tử trận và chấn thương não nghiêm trọng) vượt ngưỡng 140 người. Đây là mức tổn thất nhân mạng lớn nhất của quân đội Mỹ tại Trung Đông trong vòng nhiều năm qua, buộc Lầu Năm Góc phải liên tục điều chỉnh quy trình báo động và phân tán lực lượng sang các căn cứ dự phòng phụ trợ nhằm giảm thiểu rủi ro.
Với Israel
Hiện đang rơi vào đỉnh điểm căng thẳng an ninh, không chỉ với Iran mà còn với Palestine, dẫn đến những cô lập địa chính trị diễn ra mạnh mẽ. Toàn bộ nền kinh tế Israel bị đặt trong trạng thái “Khẩn cấp đặc biệt”. Lệnh động viên cục bộ hơn 250.000 quân dự bị kéo dài liên tục làm thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động công nghệ cao, động cơ tăng trưởng chính của quốc gia. Toàn bộ khu vực phía Bắc (giáp Lebanon) và khu vực miền Trung (Tel Aviv) thường xuyên phải sơ tán vào hầm trú ẩn trước các đợt tập kích bằng drone và tên lửa hành trình tầm xa của Iran. Ngành du lịch và vận tải hàng không quốc tế đến Israel hoàn toàn đóng băng. Cùng với đó, chi phí quốc phòng quá tải và thâm hụt ngân sách khiến quốc gia này phụ thuộc nặng vào Mỹ. Chi phí vận hành lưới lửa phòng không gồm các tầng Iron Dome, David’s Sling và Arrow-3 tăng vọt lên mức 3,5 tỷ – 4,2 tỷ USD mỗi tháng do phải đối phó với chiến thuật tấn công bão hòa bằng UAV rẻ tiền của đối phương. Ngân sách quốc phòng chiếm tới hơn 10% GDP của Israel, buộc chính phủ phải cắt giảm các phúc lợi an sinh xã hội và tăng thuế, đẩy thâm hụt ngân sách vượt ngưỡng báo động 8,5%.
Song song, làn sóng trừng phạt và cô lập ngoại giao từ khối Arab khiến Israel đối mặt với nhiều bức tường gai cùng một lúc. Cuộc tấn công phá hủy hạ tầng hạt nhân Natanz/Fordow của Israel và Mỹ gây ra rủi ro ô nhiễm môi trường khu vực đã kích hoạt phản ứng dữ dội từ thế giới Arab. Hiệp định Abraham bị đóng băng hoàn toàn. Các quốc gia như Jordan và UAE đã triệu hồi Đại sứ về nước; trong khi đó, Ả Rập Xê Út chính thức đình chỉ mọi cuộc đàm phán bình thường hóa quan hệ với Tel Aviv. Tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Israel phải đối mặt với một loạt nghị quyết lên án phối hợp từ khối các quốc gia Hồi giáo (OIC) và các nước Nam Bán cầu (Global South), đẩy mức độ cô lập ngoại giao của nước này lên cao nhất trong vòng ba thập kỷ qua.
Với Iran
Đối diện với vòng xoáy kiệt quệ kinh tế và thách thức quản trị quốc gia là điều tất yếu và nguy cơ lớn với tồn vong quốc gia. Theo số liệu, đồng Rial (IRR) mất giá kỷ lục, giao dịch trên thị trường tự do chạm mốc 1.910.000 IRR đổi 1 USD, đà lao dốc này đã biến Rial thành đồng tiền mất giá mạnh nhất thế giới, đẩy mức lương tối thiểu hàng tháng của người lao động Iran xuống giá trị tương đương vỏn vẹn 87 USD/tháng. Lạm phát lõi chạm mốc 7% – 9% mỗi tháng (tương đương mức siêu lạm phát trên 120% danh nghĩa hàng năm), đẩy giá các mặt hàng thiết yếu như bột mì, dầu ăn và sữa tăng gấp 3 lần chỉ trong vòng một quý. Cú sốc này vượt xa cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu năm 2022 (vốn chỉ diễn ra theo năm); tại Iran hiện nay, mặt bằng giá cả thay đổi theo từng tuần, làm tê liệt hoàn toàn sức mua của phân khúc trung lưu và lao động nghèo. Cùng với đó, cạn kiệt dự trữ ngoại hối do bao vây, cấm vận dẫn đến khủng hoảng an sinh xã hội. Nhằm ngăn chặn kịch bản sụp đổ nhân đạo toàn diện, Tân Lãnh đạo tối cao Mojtaba Khamenei buộc phải ra sắc lệnh đóng băng nguồn ngoại tệ còn lại trong Quỹ Phát triển Quốc gia (NDF) để chuyển sang cơ chế “Kinh tế thời chiến tối thiểu”, mặc dù nguồn ngoại tệ chỉ khoảng 30 tỷ USD và đa số “nằm trên giấy”. Hậu quả là nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển công nghiệp dầu khí hạ nguồn và tái thiết hạ tầng dân dụng bị cắt giảm về mức 0.
Cùng với đó, những thách thức củng cố quyền lực của bộ máy mới đặt ra không ít khó khăn. Dù cố Lãnh đạo tối cao Ali Khamenei bị thiệt mạng, cấu trúc cốt lõi của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) không tan rã mà nhanh chóng suy tôn Mojtaba Khamenei để tránh khoảng trống quyền lực. Chính phủ mới phải duy trì thiết quân luật tại các tỉnh nhạy cảm phía Tây (Kordestan) và phía Đông Nam (Sistan và Baluchestan) để trấn áp các làn sóng biểu tình đòi cải cách xã hội và phản đối chi phí chiến tranh.
Đối với các nước khu vực vùng Vịnh (GCC)
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) và các nhóm vũ trang ủy nhiệm đã thực hiện các đợt tấn công chính xác bằng UAV tự sát tầm xa và tên lửa hành trình nhắm thẳng vào các biểu tượng công nghiệp không thuộc ngành dầu khí của khối GCC. Hai mục tiêu chịu thiệt hại nặng nề nhất là nhà máy luyện nhôm thuộc Tập đoàn EGA tại Dubai (UAE) và nhà máy của Tập đoàn Alba tại Bahrain. Các đòn đánh bão hòa làm hư hại nghiêm trọng hệ thống lò nung điện phân và trạm phát điện nội khu, lập tức làm bốc hơi hơn 2 triệu tấn công suất sản xuất. Con số này chiếm gần 9% tổng nguồn cung nhôm toàn cầu, kích hoạt một làn sóng hoảng loạn trên Sàn giao dịch kim loại London (LME), đẩy giá nhôm thế giới tăng vọt hơn 30% chỉ trong vài tuần và làm tê liệt dây chuyền sản xuất của các ngành công nghiệp hạ nguồn (ô tô, hàng không) tại châu Âu và Mỹ.
Thành phố Dubai vốn được coi là hải cảng an toàn cho dòng vốn quốc tế đã mất đi vị thế miễn nhiễm xung đột khi hệ thống phòng không liên tục phải kích hoạt để đánh chặn drone của Iran trên bầu trời. Tâm lý hoảng sợ bao trùm khiến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là dòng vốn từ châu Âu và Đông Á ồ ạt rút vốn hoặc đình chỉ các hợp đồng mua bán. Thị trường bất động sản hạng sang tại các khu vực trọng điểm như Palm Jumeirah và Downtown Dubai lập tức hạ nhiệt nghiêm trọng. Tổng lượng giao dịch nhà đất toàn nền kinh tế giảm mạnh trong hai tháng (tháng 5 và tháng 6). Các tập đoàn tài chính và công nghệ lớn có trụ sở tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Dubai (DIFC) đã ra lệnh hoãn toàn bộ kế hoạch dịch chuyển nhân sự cấp cao đến Trung Đông, đồng thời kích hoạt các kịch bản dự phòng di tản văn phòng sang Singapore hoặc London để bảo đảm an toàn. Ngành du lịch nghỉ dưỡng cao cấp mạch máu kinh tế thứ hai của UAE ghi nhận tỷ lệ hủy phòng khách sạn lên tới 60% ngay trước thềm mùa cao điểm du lịch.
Đứng trước rủi ro bị biến thành lá chắn bồi cho cuộc xung đột Mỹ – Iran, các nước GCC như UAE, Qatar và Kuwait đã có những bước đi ngoại giao cẩn trọng. Một mặt, họ kích hoạt khẩn cấp lưới phòng không kết hợp chia sẻ dữ liệu radar tầm xa (như hệ thống SAMP/T từ Ý) để bảo vệ các mỏ dầu và nhà máy lọc dầu trọng yếu tại phía Đông. Mặt khác, các nước này ra tuyên bố bác bỏ việc cho phép Mỹ sử dụng không phận hoặc lãnh thổ của họ để phát động các đòn tấn công trực diện mang tính chất răn đe ngược lại vào nội địa Iran nhằm tự bảo vệ mình khỏi các làn sóng trả đũa tiếp theo.
Đối với thế giới
Việc Iran phong tỏa thành công Eo biển Hormuz mạch máu giao thương vận chuyển dầu mỏ và 1/3 lượng khí hóa lỏng (LNG) của thế giới đã cắt đứt ngay lập tức nguồn cung năng lượng từ Vùng Vịnh sang các thị trường tiêu thụ lớn ở Châu Âu và Đông Á. Việc giá dầu thô tăng giá và liên tục chạm tới các cột mốc lịch sử là biểu hiện rất rõ. Các chuyên gia năng lượng cảnh báo nguy cơ nghiêm trọng giá dầu có thể phá đỉnh 200 USD/thùng nếu chiến sự kéo dài quá một quý và hạ tầng khai thác của Ả Rập Xê Út bị tổn hại. Đứng trước nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu do cú sốc dầu mỏ, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) phối hợp cùng Mỹ và các nước công nghiệp phát triển đã kích hoạt điều khoản khẩn cấp, quyết định xả kho chiến lược tổng cộng 400 triệu thùng dầu. Đây là đợt xả kho lớn nhất trong lịch sử gấp đôi đợt xả kho năm 2022. Nguồn cung bổ sung này được bơm trực tiếp vào thị trường Mỹ, các nước EU và Nhật Bản nhằm bù đắp sự thiếu hụt tạm thời, giúp hạ nhiệt giá dầu Brent từ mức đỉnh xuống dao động quanh vùng 105 – 112 USD/thùng, ngăn chặn một cuộc đổ vỡ dây chuyền của nền kinh tế toàn cầu.
Các hãng tàu vận tải biển lớn nhất thế giới như Maersk, MSC, CMA CGM đồng loạt ra tuyên bố đình chỉ vô thời hạn mọi tuyến hải trình đi qua Biển Đỏ, Eo biển Bab al-Mandab và Eo biển Hormuz do rủi ro từ tên lửa đạn đạo chống hạm và UAV tự sát. Toàn bộ các tàu hàng từ Châu Á sang Châu Âu và bờ Đông nước Mỹ buộc phải vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi). Bước đi bất khả kháng này làm kéo dài quãng đường thêm hơn 6.000 km, khiến thời gian vận chuyển mỗi chuyến tàu tăng thêm từ 10 đến 14 ngày. Chỉ số container toàn cầu (Drewry World Container Index) tăng vọt hơn 280%. Giá thuê một container 40 feet từ Thượng Hải đi Rotterdam (Châu Âu) tăng từ 3.000 USD lên mức 7.500 – 8.500 USD. Chi phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh đối với các tàu hàng hoạt động tại khu vực lân cận Trung Đông tăng 20 – 30 lần. Sự chậm trễ của nguồn cung linh kiện điện tử, linh kiện ô tô và nguyên liệu thô đã gây ra hiện tượng tắc nghẽn tại các cảng biển lớn ở Châu Âu (Rotterdam, Hamburg). Chi phí logistics tăng phi mã đã ngấm trực tiếp vào giá thành hàng hóa tiêu dùng. Lạm phát tại khu vực Eurozone và Mỹ có xu hướng quay đầu tăng trở lại (thêm khoảng 1,2% – 1,5% so với dự báo đầu năm), buộc các Ngân hàng Trung ương (như Fed và ECB) phải hoãn lộ trình cắt giảm lãi suất để kiềm chế giá cả, gián tiếp làm chậm đà phục hồi kinh tế toàn cầu.
Dự báo xung đột trong thời gian tới
Tính đến cuối tháng 7/2026, cuộc chiến Trung Đông bước vào trạng thái đình chiến chiến thuật, trong đó cường độ giao tranh giảm nhưng các nguyên nhân cốt lõi của xung đột vẫn chưa được giải quyết. Đây không phải là một nền hòa bình bền vững mà là giai đoạn các bên tạm thời kiềm chế nhằm tái cơ cấu lực lượng, bổ sung nguồn lực quân sự và tạo không gian cho các nỗ lực ngoại giao. Về bản chất, cả Washington và Tehran đều đang chịu những ràng buộc đáng kể về năng lực duy trì chiến tranh. Mỹ và Israel đối mặt với áp lực bổ sung kho tên lửa đánh chặn cùng chi phí quân sự ngày càng gia tăng, trong khi Iran phải giải quyết đồng thời khủng hoảng tài chính, suy giảm năng lực công nghiệp quốc phòng và bất ổn trong nước. Trong bối cảnh đó, diễn biến của cuộc chiến nhiều khả năng sẽ phụ thuộc vào khả năng dung hòa giữa lợi ích an ninh và sức chịu đựng kinh tế của các bên.
Kịch bản 1: Đóng băng xung đột thông qua răn đe và ngoại giao thực dụng
Kịch bản có nhiều khả năng xảy ra nhất là các bên chấp nhận đóng băng xung đột thay vì tìm kiếm một thắng lợi quân sự tuyệt đối. Đây không phải là một thỏa thuận hòa bình toàn diện mà là cơ chế quản lý khủng hoảng, trong đó mỗi bên duy trì năng lực răn đe nhưng hạn chế các hành động có nguy cơ dẫn đến leo thang mất kiểm soát.
Đối với Iran, lợi thế đàm phán lớn nhất vẫn là khả năng gây gián đoạn hoạt động vận tải tại Eo biển Hormuz. Tehran nhiều khả năng sẽ sử dụng vấn đề an ninh hàng hải như một công cụ mặc cả trong các cuộc đối thoại gián tiếp thông qua Oman hoặc các bên trung gian khác, đổi lấy việc giảm cường độ không kích, nới lỏng một phần các biện pháp trừng phạt đối với xuất khẩu dầu mỏ và giảm sức ép quân sự từ Mỹ – Israel. Về phía Washington, áp lực duy trì nguồn dự trữ tên lửa đánh chặn, chi phí quân sự ngày càng cao cùng sức ép từ dư luận trong nước có thể khiến chính quyền Mỹ ưu tiên một giải pháp kiểm soát xung đột hơn là tiếp tục mở rộng chiến tranh. Israel cũng có khả năng chấp nhận một lệnh ngừng bắn tạm thời nếu đánh giá rằng các mục tiêu quân sự trọng yếu đối với chương trình hạt nhân Iran đã cơ bản đạt được. Nếu kịch bản này được hiện thực hóa, thị trường năng lượng sẽ dần ổn định trở lại khi lưu thông qua Eo biển Hormuz được khôi phục từng bước. Giá dầu có thể giảm đáng kể so với giai đoạn cao điểm của xung đột, qua đó giảm áp lực đối với lạm phát toàn cầu, cải thiện điều kiện thương mại quốc tế và tạo dư địa thuận lợi hơn cho chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là trạng thái ổn định tương đối bởi các mâu thuẫn chiến lược giữa Mỹ, Israel và Iran chưa được giải quyết tận gốc.
Kịch bản 2: Leo thang toàn diện và khủng hoảng an ninh năng lượng
Trong trường hợp các nỗ lực ngoại giao thất bại hoặc một sự kiện quân sự bất ngờ làm thay đổi tính toán chiến lược của các bên, cuộc chiến có thể chuyển sang giai đoạn leo thang với quy mô lớn hơn. Khi đó, Mỹ và Israel có thể mở rộng các chiến dịch không kích nhằm vào hạ tầng năng lượng, hệ thống điện quốc gia, các cơ sở lọc hóa dầu và cảng xuất khẩu dầu chủ lực của Iran nhằm làm suy giảm toàn diện năng lực duy trì chiến tranh của Tehran. Đáp lại, Iran nhiều khả năng sẽ kích hoạt chiến lược sử dụng toàn bộ năng lực tên lửa, UAV và lực lượng hải quân bất đối xứng để phong tỏa Eo biển Hormuz trong thời gian dài, đồng thời mở rộng các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của các quốc gia Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) và các căn cứ quân sự Mỹ trong khu vực. Việc đồng thời gây gián đoạn sản xuất và vận chuyển dầu mỏ tại Vùng Vịnh sẽ tạo ra cú sốc lớn đối với thị trường năng lượng toàn cầu.
Tác động của kịch bản này sẽ vượt xa phạm vi Trung Đông. Một cuộc khủng hoảng kéo dài tại Hormuz có thể làm suy giảm nghiêm trọng nguồn cung dầu và khí hóa lỏng của thế giới, khiến giá năng lượng tăng mạnh, kéo theo chi phí vận tải và sản xuất toàn cầu gia tăng. Điều này có nguy cơ làm chậm tăng trưởng kinh tế thế giới, gia tăng áp lực lạm phát và làm gia tăng rủi ro xuất hiện trạng thái lạm phát đình đốn, tức tăng trưởng thấp đi kèm lạm phát cao tương tự nhưng ở quy mô lớn hơn các cú sốc dầu mỏ trong lịch sử.
Xét trên tương quan lực lượng hiện nay, kịch bản đóng băng xung đột thông qua răn đe và ngoại giao thực dụng được đánh giá có khả năng xảy ra cao hơn, bởi cả Mỹ – Israel và Iran đều đã đạt đến ngưỡng mà chi phí tiếp tục leo thang chiến tranh có thể vượt quá lợi ích chiến lược thu được. Tuy nhiên, trạng thái này nhiều khả năng chỉ mang tính tạm thời. Chừng nào những vấn đề cốt lõi như chương trình hạt nhân Iran, mạng lưới lực lượng ủy nhiệm, an ninh Eo biển Hormuz và cấu trúc an ninh Trung Đông vẫn chưa được giải quyết, nguy cơ tái bùng phát xung đột quy mô lớn sẽ tiếp tục hiện hữu. Do đó, cuộc chiến Trung Đông năm 2026 nhiều khả năng sẽ chuyển từ một cuộc chiến quân sự cường độ cao sang một cuộc cạnh tranh chiến lược kéo dài, trong đó răn đe quân sự, sức ép kinh tế và đàm phán ngoại giao sẽ tiếp tục đan xen và quyết định cục diện khu vực trong thời gian tới.
Soi chiếu từ cuộc chiến Nga – Ukraine và cuộc chiến Trung Đông năm 2026 có thể nhận diện một thực tiễn ngày càng rõ nét của môi trường an ninh quốc tế: xung đột không có xu hướng giảm đi mà đang ngày càng gia tăng cả về tần suất, cường độ và phạm vi tác động. Các mâu thuẫn địa chính trị không những không được giải quyết triệt để mà còn có xu hướng chồng lấn lên nhau, khiến một cuộc khủng hoảng ở khu vực này dễ dàng cộng hưởng và đẩy căng thẳng ở khu vực khác lên một nấc thang mới. Nếu có hòa bình thì đó phần nhiều cũng chỉ là một trạng thái tạm thời và hết sức mong manh, được che lấp bởi những sự nhượng bộ hoặc những lợi ích trước mắt của các bên, trong khi những căn nguyên của xung đột vẫn chưa hề được tháo gỡ. Vì vậy, các mâu thuẫn ấy vẫn âm ỉ, dai dẳng và giằng co, chờ đợi thời điểm thích hợp để bùng phát trở lại với quy mô và cường độ lớn hơn.
Đáng chú ý, sự phát triển của các cuộc chiến hiện đại cho thấy xu hướng mở rộng cả về chủ thể lẫn không gian tác chiến. Xung đột không còn chỉ diễn ra giữa một vài quốc gia mà ngày càng lôi kéo thêm nhiều chủ thể quốc gia và phi quốc gia cùng tham gia; không còn bó hẹp trong một chiến trường đơn lẻ mà lan sang nhiều miền tác chiến, từ trên bộ, trên biển, trên không đến không gian mạng, điện từ và chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính sự chồng lấn của các mâu thuẫn đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền, khi căng thẳng ở bên này tiếp tục đẩy căng thẳng ở bên kia, khiến môi trường an ninh quốc tế vốn đã bất ổn lại càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn.
Từ góc độ lý luận quan hệ quốc tế, thực tiễn đó một lần nữa cho thấy tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế vẫn là điều kiện nền tảng chi phối hành vi của các quốc gia. Khi chưa tồn tại một thiết chế có đủ thẩm quyền và năng lực để bảo đảm an ninh chung cho toàn bộ hệ thống, các quốc gia vẫn sẽ tiếp tục ưu tiên tối đa hóa lợi ích và năng lực tự bảo đảm an ninh của mình, từ đó làm cho cạnh tranh chiến lược và nguy cơ xung đột trở thành trạng thái thường trực. Bởi vậy, câu hỏi mà các học giả và chuyên gia quan hệ quốc tế vẫn luôn trăn trở đến nay dường như vẫn chưa có lời giải thỏa đáng: “Liệu tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế bao giờ mới có thể chấm dứt?”
Kết luận
Xung đột toàn diện Mỹ – Israel và Iran trong nửa đầu năm 2026 không chỉ là một cuộc chiến tranh khu vực mà là sự biểu hiện tập trung của quá trình tái cấu trúc trật tự quyền lực quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt. Từ góc độ triết học, cuộc chiến cho thấy mâu thuẫn không mất đi mà chỉ chuyển hóa sang hình thái mới, tích tụ và bộc phát khi sự cân bằng lợi ích bị phá vỡ. Từ góc độ kinh tế chính trị, năng lượng, chuỗi cung ứng và tài chính đã trở thành công cụ quyền lực không kém sức mạnh quân sự. Về bản chất, đây là sự va chạm giữa hai logic chiến lược: một bên dựa trên ưu thế công nghệ và khả năng áp đặt sức mạnh, bên kia dựa trên chiến tranh tiêu hao và răn đe bất đối xứng nhằm nâng cao chi phí của đối phương. Quan trọng hơn, cuộc chiến khẳng định rằng trong một hệ thống quốc tế vẫn vận hành dưới trạng thái vô chính phủ, hòa bình không phải là trạng thái mặc định mà chỉ là sự cân bằng tạm thời của tương quan quyền lực; khi những mâu thuẫn cốt lõi chưa được giải quyết, xung đột sẽ tiếp tục âm ỉ, chồng lấn và lan tỏa từ phạm vi khu vực sang toàn cầu, trở thành đặc trưng nổi bật của môi trường an ninh thế kỷ XXI./.
Hết
Tác giả: Trương Quốc Lượng
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
Tài liệu tham khảo
- Harper, J. (2025). Air Force drops 14 MOP bombs on Iranian nuclear sites during first operational use of the weapon. DefenseScoop.
https://defensescoop.com/2025/06/22/air-force-mop-gbu-57-bomb-iranian-nuclear-sites-midnight-hammer/
- (2026). Iran conflict 2026: US forces employ suspected new variant of Tomahawk cruise missile.
- Military Watch Magazine. (2026). America’s F-22 fighters proved nearly useless against Iran: Why the world’s most expensive air superiority jet was withdrawn from the conflict.
https://militarywatchmagazine.com/article/us-f22-nearly-useless-iran-withdraw
- Thành Vinh. (2026,). Chiến lược của Mỹ và NATO nhằm vô hiệu hóa hệ thống phòng không S-300 của Iran. Báo Nghệ An.
- American Israel Public Affairs Committee. (2026). S. security assistance to Israel: The 10-year MOU. https://www.aipac.org/memos/10-year-mou
- National Security News. (2024). Iran spends $16bn funding terror across the Middle East.
https://nationalsecuritynews.com/2024/01/iran-spends-16bn-funding-terror-across-the-middle-east/
- Mai Hương. (2025). Căng thẳng Israel-Iran: Vũ khí nào của Mỹ có thể chạm đến cơ sở hạt nhân Fordow? Báo Quân đội nhân dân.
- (2026). Israel tuyên bố sắp hoàn tất phá hủy mục tiêu trọng yếu của Iran.
- Ivan Angelovski, Christian Paas-Lang, Eric Szeto. (2026). Israel’s yellow line in Gaza is moving, expanding IDF’s control, visual investigation shows. CBC News.
https://www.cbc.ca/news/investigates/satellite-images-gaza-yellow-line-9.7257822
- Anadolu Agency. (2026). Iran claims it hit US air base in Kuwait.
https://www.aa.com.tr/en/us-israel-iran-war/iran-claims-it-hit-us-air-base-in-kuwait/4007973
- Voice of Vietnam. (2024). Chiến sự Trung Đông: Hezbollah bắn hơn 150 tên lửa tấn công Israel. VOV.
https://vov.gov.vn/chien-su-trung-dong-hezbollah-ban-hon-150-ten-lua-tan-cong-israel-dtnew-1043527
- Joseph Hostetler. (2026). Current price of oil as of April 3, 2026. Fortune Editors. https://fortune.com/article/price-of-oil-04-03-2026/
- Menon, J. (2026). USAF prepares to pour $4.2bn into air bases at Lakenheath, Mildenhall and Fairford. ADS Advance.
https://www.adsadvance.co.uk/us-air-force-uk-air-bases-investment/
- Anadolu Agency. (2026). Tehran warns any UK base used by US to attack Iran will become legitimate target.
- Vũ Linh. (2026). Châu Âu: Căn cứ hậu phương cho các chiến dịch của Mỹ. Báo Quân đội nhân dân.
- Angelo Amante. (2026). Italy says Gulf countries have requested air defence systems. Reuters.
- (2026). China’s heavy reliance on Iranian oil imports.
https://www.reuters.com/business/energy/chinas-heavy-reliance-iranian-oil-imports-2026-03-21/
- Arab News. (2025). Iran warns of ‘unforeseen’ consequences after Ukraine attack on Caspian Sea ship.
https://www.arabnews.com/node/2652374/middle-east
- Montanaro, D. (2026). Poll: A majority of Americans opposes U.S. military action in Iran. NPR.
https://www.npr.org/2026/03/06/nx-s1-5737627/iran-us-military-poll-trump-approval
- Vũ Hoàng. (2026). Lầu Năm Góc nguy cơ cạn tiền vì chiến sự Iran kéo dài.
https://vnexpress.net/lau-nam-goc-nguy-co-can-tien-vi-chien-su-iran-keo-dai-5100182.html
- Thụy Miên. (2026). Lầu Năm Góc tổn thất bao nhiêu trong xung đột với Iran?. Thanh Niên.
https://thanhnien.vn/lau-nam-goc-ton-that-bao-nhieu-trong-xung-dot-voi-iran-185260727102819175.htm
- Iran International. (2026). Iran’s rial hits new low as dollar nears 1.92 million.
https://www.iranintl.com/en/202607178061
- Hosseini, M. (2025). National Development Fund of Iran drained by regime mismanagement and military control. Iran Focus.
- Yuval Azulay. (2026). From Iron Dome to Arrow missiles, unpaid bills accumulate in Israel’s defense sector. C
https://www.calcalistech.com/ctechnews/article/s1oj6qj0zx
- Home, A. (2026). LME metals whipsawed by war and peace in first half of 2026. Reuters Open Interest.
- (2026). Xung đột Trung Đông làm rung chuyển thị trường nhôm toàn cầu.
- Meredith, S. (2026). IEA agrees to release record 400 million barrels of oil to address Iran war supply disruptions. CNBC.
https://www.cnbc.com/2026/03/11/iea-oil-reserves-crude-prices-iran-g7-energy.html
- io. (2026). What history and the data tell us about the conflict in Iran’s impact on U.S. ecommerce.
- (2026). Fed đối diện sức ép hạ lãi suất giữa bối cảnh rủi ro lạm phát gia tăng.






















