Luận điểm về sự chuyển dịch sang thế giới đa cực đã trở thành một điểm chung trong các bài báo và sách viết về quan hệ quốc tế, hệ thống này khác cả với thế giới lưỡng cực quen thuộc thời Chiến tranh Lạnh lẫn hệ thống đơn cực xuất hiện sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Để chứng minh rằng thế giới đa cực về nguyên tắc là có thể và không nhất thiết dẫn đến xung đột toàn cầu, người ta thường nhắc đến thời kỳ trật tự Vienna, khi một số cường quốc châu Âu cùng tồn tại trong hòa bình gần một trăm năm. Cách tiếp cận như vậy có phần miễn cưỡng và đơn giản hóa. Việc viện dẫn trật tự Vienna xa lạ với các nước châu Á, những nước được cho là vốn nhìn thế giới qua lăng kính thứ bậc. Điều này làm nảy sinh thái độ hoài nghi đối với triển vọng chính trị và kinh tế của các nước châu Á, những nước được cho là không có khả năng cạnh tranh với phương Tây, thế lực đã thống trị thế giới trong năm trăm năm qua. Những cách tiếp cận như vậy nay đã lỗi thời – từ những quan điểm phân biệt chủng tộc công khai đến những quan điểm mang vẻ khoa học, cho rằng các dân tộc châu Á chỉ có khả năng sao chép thành tựu của người khác chứ không thể phát minh ra điều gì mới. Đây là một sai lầm, gây ra bởi tư duy lấy châu Âu làm trung tâm một cách có chọn lọc.
Lịch sử quan hệ quốc tế hiện nay chủ yếu được viết bởi người châu Âu với sự tham gia không đáng kể của đại diện Nam bán cầu, những người tuân theo mô thức lấy châu Âu làm trung tâm. Trên thực tế, chủ nghĩa đa cực tự nhiên đã luôn tồn tại, và cho đến giữa thế kỷ XVIII, các xã hội châu Á vượt trội hơn người châu Âu về kinh tế và quân sự. Ngay cả sau khi châu Âu vươn lên, rồi chiếm đoạt hoặc khuất phục phần còn lại của thế giới, sự thống trị của phương Tây đối với nhiều khu vực vẫn chỉ là hư cấu hoặc dựa trên một hệ thống phức tạp các thỏa thuận lẫn nhau với giới tinh hoa địa phương. Những quốc gia từ lâu đã là trung tâm và lãnh đạo khu vực vẫn tiếp tục như vậy ngay cả dưới sự cai trị của châu Âu (chẳng hạn, Ấn Độ đã trở thành một tiểu đế quốc đảm bảo cho sự bành trướng của Anh trong khu vực Ấn Độ Dương, còn Trung Quốc và Nhật Bản vẫn giữ được độc lập). Quan hệ giữa thực dân và người bị thực dân không chỉ được xác định qua các khái niệm thống trị và phục tùng; các dân tộc phương Đông đã làm chủ công nghệ phương Tây và dần dần cải biến các thể chế phương Tây cho phù hợp với nhu cầu của mình, đồng thời bảo tồn bản sắc của họ.
Tính đa cực tự nhiên này vẫn được duy trì trong thời Chiến tranh Lạnh. Chúng ta đã quen nhìn nhận thời kỳ này như một kỷ nguyên cạnh tranh giữa hai siêu cường, trong khi đối với nhiều quốc gia và xã hội, cuộc cạnh tranh đó chỉ là một cốt truyện xa xôi, không liên quan trực tiếp đến họ. Họ quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề cấp bách như giải quyết các biên giới hậu thuộc địa, đảm bảo phát triển nội bộ, chống đói nghèo. Hoa Kỳ và Liên Xô là những nguồn cung cấp công nghệ, tiền bạc và viện trợ nhân đạo quý giá, nhưng không hơn thế. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tính đa cực này càng trở nên rõ ràng. Cách tiếp cận như vậy giúp nhìn nhận sự trỗi dậy hiện nay của các nước châu Á theo một cách khác: như sự tiếp nối tự nhiên của các quá trình kéo dài nhiều thế kỷ, sự trở lại vị trí lãnh đạo thế giới sau sự thống trị ngắn ngủi và thiếu vững chắc của phương Tây.
Khái niệm nhà nước – văn minh
Sự trở lại như vậy đòi hỏi một sự tái định hình về mặt khái niệm, diễn ngôn chính trị – xã hội của các nước châu Á rõ ràng đang quá chật chội trong khuôn khổ chuẩn mực chính trị hiện đại, vốn quy định chỉ một hình thức tồn tại duy nhất của một nhà nước “bình thường” là nhà nước – dân tộc. Xét rằng bản thân khái niệm nhà nước – dân tộc và “chủ quyền Westphalia” đã hình thành ở châu Âu vào nửa sau thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tình trạng này khiến các nhà nước – dân tộc phi châu Âu phải đi theo sau diễn ngôn chính trị phương Tây. Bản thân các nước phương Tây cũng không phải là những nhà nước – dân tộc mẫu mực, thường xuyên vi phạm chủ quyền của các nước khác và cố gắng liên tục tái khái niệm ý tưởng về nhà nước – dân tộc thông qua việc chuyển giao một phần quyền cho các quan chức ở Brussels và nỗ lực tái định nghĩa bản thân khái niệm nhà nước trong ví dụ với Liên minh châu Âu (EU) hoặc đơn giản là phủ nhận một phần các chuẩn mực trong trường hợp Hoa Kỳ.
Trong tình hình này, các nước lãnh đạo châu Á đang tìm kiếm những phương án tự nhận diện mới. Họ rõ ràng thấy chật chội trong biên giới của các nhà nước – dân tộc, nhưng khái niệm đế quốc cũng trở nên không hợp lý, bất kỳ đế quốc nào không chỉ bao gồm việc kiểm soát và cưỡng chế, mà còn gắn liền trong mắt cư dân các nước Nam bán cầu với trải nghiệm lịch sử nặng nề và đau đớn mà tổ tiên họ đã trải qua trong thời kỳ tồn tại các đế quốc thực dân. Sự thay thế về khái niệm cho nhà nước – dân tộc và đế quốc là khái niệm quốc gia – nền văn minh, nhấn mạnh sự tồn tại của một không gian văn hóa thống nhất, các thực tiễn tương tác và cùng tồn tại được xây dựng qua nhiều thế kỷ thay vì kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời cho phép sự hiện diện của các đặc điểm văn hóa, kinh tế, chính trị địa phương trong khuôn khổ một nền văn minh thống nhất.
Ngoài ra, nó cũng chỉ ra tính lâu đời của các thể chế xã hội và ngụ ý rằng quốc gia – nền văn minh sở hữu một số đặc điểm khác biệt so với nhà nước – dân tộc. Như vậy, ý tưởng về quốc gia – nền văn minh là một loại mỏ neo cho phép các nhà lãnh đạo mới bám vào nền tảng lịch sử trong đại dương đầy bão tố của thời kỳ hậu hiện đại. Đồng thời, ý tưởng về quốc gia – nền văn minh không được nhìn nhận một cách nhất quán bên trong chính các nước châu Á, bản thân thuật ngữ “nền văn minh” thường được sử dụng bởi các phong trào cánh hữu và trung hữu, và gây phản ứng tiêu cực từ các lực lượng chính trị cánh tả và tự do, những người có hệ tư tưởng được xây dựng trên cơ sở ý tưởng tiến bộ. Đồng thời, các lực lượng chính trị cầm quyền và cộng đồng chuyên gia của các quốc gia châu Á đang tích cực nghiên cứu và áp dụng những thành tựu mới nhất của tư tưởng xã hội học châu Âu, đặc biệt là ý tưởng về bá quyền diễn ngôn. Ở những nơi chưa đạt được đồng thuận nội bộ, các chính phủ cố gắng sử dụng các phương pháp kiến tạo xã hội để đưa chúng vào diễn ngôn xã hội chính trị nội bộ, ở những nơi đã có đồng thuận, những phương pháp này được đặt phục vụ nhà nước và được sử dụng chủ yếu trên lĩnh vực chính sách đối ngoại.
Cuộc chiến vì công nghệ: phân chia phạm vi ảnh hưởng
Nếu trước đây nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế là ngành công nghiệp nặng hùng mạnh, thì nay yếu tố then chốt là khả năng tiếp cận các công nghệ mới, thứ đặt ra vấn đề về chủ quyền công nghệ. Rõ ràng là chủ quyền công nghệ và khả năng tự cung tự cấp công nghệ hoàn toàn là không thể: nhiệm vụ chính của các quốc gia ở giai đoạn hiện nay là đảm bảo cho các công ty của mình có vị trí cao nhất có thể trong các chuỗi sản xuất và trở thành một trong những mắt xích của mạng lưới sản xuất – công nghệ. Đối với các quốc gia – nền văn minh, tức những nước tự nhận mình là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế, vai trò này gần như là lẽ đương nhiên. Các chuỗi và mạng lưới sản xuất – công nghệ hiện nay được hình thành trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, xoay quanh cuộc đối đầu chính trị và kinh tế giữa Trung Quốc một bên với Hoa Kỳ và các đồng minh một bên. Từ đó đang hình thành hai hệ thống công nghệ cạnh tranh nhau, mỗi hệ thống dựa trên một bộ tiêu chuẩn và giải pháp riêng. Cả hai đều có xu hướng mở rộng, với các cường quốc bảo trợ công nghệ, việc kéo thêm nhiều nước tham gia đồng nghĩa với mở rộng thị trường, còn với các nước khách hàng, tham gia vào hệ thống nghĩa là được tiếp cận ưu đãi với công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, cái giá phải trả là chủ quyền công nghệ. Một khi đã hòa nhập vào hệ thống của cường quốc bảo trợ, nước khách hàng buộc phải tuân theo luật chơi do bên đó đặt ra. Hơn nữa, càng tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến trong hệ thống đó, họ càng khó thoát khỏi sự phụ thuộc.
Trước tình thế này, mỗi quốc gia có hai lựa chọn. Một, tự xây dựng hệ thống công nghệ riêng, con đường này khả thi nhưng rất gian nan, vì đòi hỏi đầu tư nguồn lực và nỗ lực khổng lồ, liên tục cùng với một thị trường đủ lớn để tiêu thụ sản phẩm. Hai, cân bằng giữa hai hệ thống hiện có tức là áp dụng công nghệ từ cả hai bên, đồng thời phát triển sản phẩm riêng tương thích với cả hai. Cách này có vẻ dễ hơn nhưng cũng có cái giá của nó: nước cân bằng sẽ mất một phần ưu đãi mà các cường quốc bảo trợ dành cho khách hàng thân thiết của mình. Ngoài ra, càng về sau, tiêu chuẩn và giải pháp của hai hệ thống càng khác biệt, khiến việc tạo ra công nghệ dung hòa cả hai ngày càng khó. Cách này chỉ tồn tại được nếu các cường quốc bảo trợ chấp nhận “nhắm mắt làm ngơ” vì lý do kinh tế hoặc chính trị.
Cơn sốt AI hiện nay đang mở ra cơ hội để nhiều quốc gia cải thiện vị trí của mình trên bản đồ công nghệ thế giới. Trước đây, Trung Quốc từng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ trở thành “công xưởng của thế giới”, còn Ấn Độ nổi lên như trung tâm tổng đài và “hiệu thuốc của thế giới”. Tương tự, làn sóng AI có thể đóng vai trò bàn đạp cho một bước nhảy vọt trong lĩnh vực công nghệ cao và các ngành kinh tế liên quan. AI xuất hiện trong đời sống một cách bất ngờ, và đến nay vẫn chưa thể lường hết những hệ quả khi nó được áp dụng rộng rãi. Một số tác động đã thấy rõ như việc giá linh kiện máy tính tăng lên, AI được sử dụng ngày càng nhiều trong công nghệ cao, ra quyết định, khoa học, giáo dục, kiểm soát xã hội và an ninh, tuy nhiên không phải ở đâu cũng có kết quả tích cực. Có những nghi ngờ có cơ sở rằng bản thân AI khó có thể tạo ra một cuộc cách mạng trong phương thức và công cụ sản xuất theo kiểu các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây. Tuy nhiên, AI rõ ràng có thể đóng vai trò chất xúc tác, khuếch đại gấp nhiều lần hiệu ứng của các đổi mới khác.
Chuyển dịch năng lượng và vấn đề phát triển
Năng lượng là một thành phần quan trọng khác của an ninh quốc gia và phát triển. Bản thân nền văn minh, như một hiện tượng, phụ thuộc vào khả năng thu nhận và sử dụng năng lượng của con người dù đó là năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch, từ thực vật hay trực tiếp từ Mặt Trời. Hiện nay, phần lớn sản lượng năng lượng (hơn 30%) đến từ các sản phẩm dầu mỏ; vị trí thứ hai (khoảng 27%) thuộc về than đá, và thứ ba (khoảng 24%) là khí tự nhiên. Trong lĩnh vực sản xuất điện năng, than đá chiếm vị trí hàng đầu (34,4%), tiếp theo là khí tự nhiên (22%). Như vậy, bất chấp mọi nỗ lực áp dụng công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo và từ chối “năng lượng bẩn”, nền kinh tế thế giới vẫn dựa trên dầu mỏ, than đá và khí đốt. Tuy nhiên, ngoài những cân nhắc thuần túy về kinh tế, chính sách tiêu thụ năng lượng còn chịu ảnh hưởng của các vấn đề liên quan đến địa vị quốc tế của các quốc gia, đó là những vấn đề gắn chặt với các thách thức môi trường.
Đối với các nước châu Á, tình hình này là một ví dụ kinh điển về sự kết hợp giữa vấn đề và cơ hội. Vấn đề chính nằm ở chỗ phần lớn các nước vẫn dựa vào than đá để sản xuất điện. Ngoài lý do than rẻ hơn, tất cả các quy trình công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng than đều đã được hoàn thiện từ lâu. Hơn nữa, ngành than còn có ý nghĩa xã hội quan trọng: nếu tính cả các lĩnh vực liên quan, hàng trăm triệu người ở châu Á đang làm việc trong ngành này. Việc từ bỏ khai thác than có thể gây ra bùng nổ xã hội, đồng thời làm giảm mức độ tự chủ kinh tế – điều không thể chấp nhận được vì lý do chính sách đối ngoại. Mặt khác, ngay cả trong thời kỳ tốt đẹp nhất, ở nhiều nước châu Á, hệ thống sản xuất và phân phối năng lượng tập trung vẫn không bao phủ toàn bộ lãnh thổ và toàn bộ dân cư. Ví dụ, ở Ấn Độ năm 1995, khả năng tiếp cận điện năng thường xuyên vẫn còn hạn chế. Nền kinh tế các nước châu Á, do đó, đang “ngồi trên hai chiếc ghế”: một mặt dựa vào sản xuất năng lượng truyền thống và không thân thiện với môi trường, mặt khác tích cực phát triển công nghệ xanh. Tính hai mặt này cũng thể hiện rõ trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Họ phản đối việc các nước phát triển áp đặt yêu cầu cắt giảm các phương pháp sản xuất điện truyền thống, nhưng đồng thời không chỉ thể hiện sự sẵn sàng phát triển năng lượng xanh mà còn cố gắng giành vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực này. Ví dụ điển hình là việc Trung Quốc tự đặt thêm nghĩa vụ đẩy nhanh đạt trung hòa carbon, và Liên minh Mặt trời Quốc tế do Ấn Độ thúc đẩy với sự hỗ trợ của Pháp.
Tính dễ bị tổn thương của các tuyến nhập khẩu hydrocarbon
Dù những thành tựu của năng lượng “xanh” ở các nước châu Á có ấn tượng đến đâu, các sản phẩm dầu mỏ vẫn là yếu tố đảm bảo hoạt động bình thường của nền kinh tế. Tuy nhiên, tài nguyên dầu khí phân bố không đồng đều trên hành tinh: trong khi một số nước châu Á, trước hết là các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư và Bán đảo Ả Rập có thừa, thì những nước khác hoặc gần như hoàn toàn không có, hoặc khối lượng sản xuất và trữ lượng không đủ để đáp ứng nhu cầu kinh tế. Trong điều kiện các tuyến đường thế giới mở, sự phân bố không đồng đều này không phải là vấn đề sinh tử. Nhưng nếu xảy ra một hoặc nhiều xung đột ảnh hưởng đến vận tải biển, tình hình sẽ thay đổi căn bản.
Hiện tại, chúng ta đang chứng kiến hai cuộc xung đột vũ trang ở Ukraine và ở Iran, trong đó cuộc xung đột thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đối với các nước châu Á. Việc phong tỏa thực tế eo biển Hormuz do Iran và Hoa Kỳ thiết lập, cùng các cuộc tấn công vào cơ sở dầu mỏ của Iran và các nước Ả Rập vùng Vịnh, đã khiến nguồn cung hydrocarbon giá rẻ từ Trung Đông không thể được đảm bảo đầy đủ. Trong khi tình hình trên thị trường thế giới tương đối ổn định nhờ Hoa Kỳ tăng cường khai thác dầu và khí đốt, đạt mức cao nhất lịch sử, thì đối với các nước châu Á, bức tranh lại không mấy tươi sáng, chính họ là những nạn nhân chính của việc phong tỏa eo biển. Các cuộc tấn công bằng UAV của Ukraine vào các nhà máy lọc dầu, đường ống, bến cảng và tàu chở dầu của Nga càng làm tình hình thêm phức tạp.
Trước tình thế này, các nước châu Á có hai phương án để đảm bảo an ninh năng lượng tương đối. Thứ nhất là chuyển sang các loại phương tiện giao thông thay thế như xe điện, xe chạy bằng nhiên liệu sinh học nhằm giảm nhập khẩu hydrocarbon khan hiếm. Thứ hai là đa dạng hóa tối đa các chuỗi cung ứng của mình. Hầu hết các nước châu Á đều cố gắng kết hợp cả hai cách tiếp cận này, nhưng tình hình hiện tại đã phơi bày sự mong manh của toàn bộ hệ thống cung cấp dầu và khí đốt. Về cơ bản, việc giữ giá xăng ở các nước châu Á chỉ có thể thực hiện được nhờ sự trùng hợp thời gian của hai cuộc xung đột ở vùng Vịnh và ở Ukraine và chỉ nhờ việc tái định hướng xuất khẩu hydrocarbon của Nga mới tránh được tình trạng thiếu hụt và tăng giá sản phẩm dầu mỏ, điều sẽ giáng đòn mạnh vào các nền kinh tế châu Á.
Rõ ràng là cả hai cuộc xung đột sớm muộn sẽ kết thúc; nhưng không rõ khi nào thế giới sẽ quay trở lại trạng thái bình thường quen thuộc, và liệu điều đó có xảy ra hay không. Các cuộc tấn công vào tàu chở dầu và việc phong tỏa các điểm hẹp của thương mại thế giới đã chứng minh rằng kỷ nguyên biển cả tự do đã kết thúc. An ninh các tuyến hàng hải một lần nữa cần được đảm bảo bằng sức mạnh, điều này đặt ra vấn đề xây dựng một hạm đội hải quân hùng mạnh có khả năng đối phó với những nguy cơ mới.
Các xã hội trước thềm những cuộc khủng hoảng tương lai
Rõ ràng là thế giới sau khi các cuộc khủng hoảng hiện nay kết thúc sẽ không còn “phẳng” nữa. Đó sẽ là một thế giới cạnh tranh khốc liệt, được duy trì bằng cả các phương pháp phi kinh tế, với chi phí an ninh của các chủ thể nhà nước và bán nhà nước tăng lên, trong khi chi phí phi sản xuất bị cắt giảm. Tất cả điều này chắc chắn sẽ giáng đòn vào một số tầng lớp và nhóm xã hội ở cả phương Tây lẫn phương Đông nhưng châu Á trong vấn đề này dễ bị tổn thương hơn châu Âu. Nhiều thập kỷ toàn cầu hóa đã dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu và hình thành trong đó một nhóm đặc biệt: những người có kinh nghiệm làm việc trong các tập đoàn xuyên quốc gia, gắn bó hơn với đồng nghiệp cùng tầng lớp ở các nước khác so với xã hội nơi họ sống, và thường sống trong các khu phức hợp khép kín với hệ thống bảo vệ riêng. Vị thế của nhóm xã hội này là điểm tham chiếu cho tầng lớp trung lưu thấp hơn – những người mơ ước đạt được mức thu nhập tương tự. Đến lượt mình, vị thế của tầng lớp trung lưu lại là đối tượng mơ ước của những người xuất thân từ nông thôn, sống trên bờ vực đói nghèo.
Phần lớn sự ổn định của các xã hội châu Á dựa trên hệ thống thứ bậc khát vọng này. Sự bền vững của nó được đảm bảo bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng không loại trừ khả năng rằng, do một chuỗi khủng hoảng và thay đổi trong nền kinh tế thế giới, mô hình này sẽ bắt đầu sụp đổ. Trong những thập kỷ gần đây, các xã hội châu Á đã thay đổi căn bản: đô thị hóa, tăng tỷ lệ biết chữ và cách mạng truyền thông đã dẫn đến việc các thế hệ mới ngày càng ý thức rõ hơn về tính chủ thể chính trị của mình, và mong muốn đóng vai trò tích cực trong các quá trình xã hội. Ở đây nảy sinh một câu hỏi quan trọng: liệu các chính phủ có thể đáp ứng nhu cầu này đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hay không và nếu không, liệu điều đó có dẫn đến sự gia tăng bất mãn xã hội và một cuộc bùng nổ xã hội hay không?
Kết luận
Trong bối cảnh đó, quan hệ giữa Nga và các nước Nam Á hiện đang phát triển trước hết là với Ấn Độ, đối tác lớn nhất và quan trọng nhất của Nga trong khu vực. Trước khi xung đột Ukraine nổ ra, quan hệ Nga – Ấn Độ rơi vào trạng thái trì trệ và suy giảm dần, trong đó quan hệ chính trị rõ ràng vượt trước quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, các sự kiện ở Ukraine đã thay đổi hoàn toàn tình thế: bị cắt đứt khỏi những người tiêu dùng quen thuộc ở phương Tây, các nhà xuất khẩu Nga nhanh chóng tái định hướng sang phương Đông. Điều này dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của kim ngạch thương mại Nga – Ấn Độ: trong ba năm, kim ngạch đã tăng hơn năm lần, chủ yếu nhờ dầu mỏ. Một mô hình thương mại tạm thời và mong manh đã hình thành, sẽ tồn tại cho đến khi các lệnh trừng phạt của phương Tây hoặc được nới lỏng, hoặc bị siết chặt đến mức tới hạn. Điều này, có nghĩa là cần phải tìm ra một hình thức tương tác kinh tế mới, tính đến cả những thách thức mà các nước châu Á đang phải đối mặt lẫn lợi ích của Nga.
Trong những năm xung đột, nền kinh tế Nga đã tích lũy được tiềm năng đổi mới lớn, làm chủ các công nghệ mới và sản xuất một số mặt hàng mà việc nhập khẩu trở nên bất khả thi trong điều kiện trừng phạt. Tiềm năng này không thể được hiện thực hóa cho đến khi xung đột kết thúc; nhưng sau khi kết thúc, với việc đầu tư cần thiết vào sản xuất, nó có thể trở thành động lực thúc đẩy hợp tác giữa Nga và các nước Nam Á. Ngay từ bây giờ, cần phải chuẩn bị cho những thực tế mới thời hậu xung đột. Nga vẫn là đối tác then chốt của các nước Nam Á trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân: nhà máy điện hạt nhân Kudankulam đang hoạt động hiệu quả, nhà máy điện hạt nhân Ruppur đang được xây dựng. Việc xây dựng thêm một nhà máy điện hạt nhân nữa ở tây bắc Ấn Độ sẽ cho phép cung cấp năng lượng sạch và rẻ cho các bang Gujarat, Maharashtra, Haryana, Punjab, Rajasthan, Uttar Pradesh và Madhya Pradesh.
Nga có thể đóng góp vào việc đảm bảo an ninh biên giới ở Nam Á. Kinh nghiệm tích lũy được trong thời gian xung đột Ukraine về việc ứng dụng các công nghệ mới nhất, trước hết là UAV, là vô giá; mặc dù hiện nay ngành công nghiệp quốc phòng Nga chủ yếu hoạt động phục vụ mặt trận, nước này sẵn sàng chia sẻ công nghệ và triển khai sản xuất drone tại Ấn Độ. Các cuộc khủng hoảng ở Ukraine và Trung Đông đã cho thấy tính dễ bị tổn thương của các tuyến thương mại quen thuộc đi qua Biển Đen, Biển Baltic và lãnh thổ Iran. Cần phát triển tuyến đường an toàn nhất là Chennai – Vladivostok, đòi hỏi đầu tư lớn cả vào cơ sở hạ tầng cảng biển lẫn vào tuyến đường sắt xuyên Siberia.
Số lượng các dự án và hướng hợp tác đầy triển vọng là rất lớn, nhưng một trong những trở ngại trên con đường hiện thực hóa chúng vẫn là sự thiếu hiểu biết lẫn nhau về cơ hội và lợi ích của mỗi bên. Dự án chung giữa Quỹ Gorchakov và Observer Research Foundation, cũng như các dự án của các tổ chức phân tích khác, được kỳ vọng sẽ đóng góp vào việc giải quyết vấn đề này.
Biên dịch: Nguyễn Như Việt Anh
Tác giả Alexey Vladimirovich Kupriyanov là Nhà Sử học và Trưởng Trung tâm Khu vực Ấn Độ Dương thuộc Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế Quốc gia mang tên E.M. Primakov (IMEMO) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]






















