Nhiều bài báo trong những năm gần đây - các năng lực liên quan của Trung Quốc đã bị xem nhẹ hoặc bỏ qua, những cải tiến trong tương lai của Mỹ và các đồng minh được coi như thể chúng đã tồn tại hoặc sẽ thành hiện thực đúng tiến độ với những hiệu quả dự định, và những bước phát triển liên tục của Trung Quốc nhận được sự chú ý tương đối ít. Mục tiêu của giới chuyên gia không phải là đưa ra những kết luận mang tính tuyên truyền (hoặc quá lạc quan, hoặc quá đen tối) mà là đạt được một phân tích chính xác. Nếu các sự kiện và xu hướng thực sự đáng lo ngại, thì một đánh giá chính xác cũng cần phải phản ánh đúng điều đáng lo ngại đó.
Trung Quốc đã dành nhiều năm để cải tạo các phà dân sự thành tàu đổ bộ có khả năng triển khai các xe bọc thép lội nước, phát triển các thiết bị chuyên dụng để đổ bộ mà không cần các cảng biển thông thường, củng cố hàng chục căn cứ không quân và nhanh chóng mở rộng lực lượng tên lửa có thể được sử dụng để răn đe hoặc đánh bại sự can thiệp của Mỹ. Tuy nhiên, một luồng luận điểm phân tích thường xuyên được đưa ra cho rằng những lo ngại về năng lực quân sự của Trung Quốc là quá mức – và việc tấn công Đài Loan vẫn nằm ngoài tầm với của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).
Các phân tích này khác nhau ở những điểm quan trọng. Một số viện dẫn tính chất chính trị, việc thiếu kinh nghiệm chiến đấu và những yếu kém về thể chế của quân đội Trung Quốc. Những phân tích khác lại dựa vào những trở ngại quân sự, kinh tế, địa lý và hệ luỵ chính trị đặc biệt mà một cuộc tấn công sẽ phải đối. Và thậm chí, các cuộc thanh trừng và việc tô vẽ những dấu hiệu bất ổn khác trong quân đội Trung Quốc cũng được sử dụng để hạ thấp khả năng của PLA. Gần đây nhất, Đô đốc (đã nghỉ hưu) Dennis Blair lập luận trên tạp chí Foreign Affairs rằng Trung Quốc không thể chinh phục Đài Loan và khó có khả năng làm được điều đó trong thời gian ngắn sắp tới.
Những lập luận này tất nhiên cũng có tính hợp lý của riêng nó, nếu không đã không thể tồn tại. Một cuộc tấn công Đài Loan sẽ là một nhiệm vụ không dễ dàng, quân đội Trung Quốc có những điểm yếu đã được ghi nhận, và năng lực quân sự không nên bị đánh đồng một cách máy móc với khả năng thành công trong chiến tranh. Nhưng từ sự nghi ngờ rằng Trung Quốc liệu có thành công hay không không có nghĩa là mặc định họ sẽ thất bại. Với tất cả những chứng cứ, thông tin hiện có, việc nhận định Trung Quốc chắc chắn thất bại là một sai lầm. Trung Quốc có thể đã sở hữu một phương cách khả thi dẫn đến thành công, mặc dù sự thành công đó – đặc biệt là khi đối mặt với sự can thiệp của Mỹ – vẫn còn mơ hồ. Thậm chí, khả năng Mỹ can thiệp cũng mơ hồ không kém so với việc Trung Quốc tấn công Đài Loan.
Bài báo gần đây của Dennis Blair đã gợi mở một vấn đề rộng hơn: Những điểm yếu thực sự của Trung Quốc có thể đã bị thổi phồng so với khả năng mà Bắc Kinh đã nỗ lực để khắc phục chúng. Cụ thể, mặc dù thừa nhận những cải thiện về năng lực quân sự của Trung Quốc, ông ấy vẫn đánh giá thấp quy mô chuyển đổi của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong hai thập kỷ qua.
Blair và những nhà quan sát lạc quan khác về rủi ro từ Trung Quốc đã bỏ qua các nguồn năng lực quan trọng được huy động bởi thuyết lưỡng dụng quân sự-dân sự của Trung Quốc, đặc biệt là vận tải đường biển dân sự. Và trong khi nhiều năng lực mà Trung Quốc đã xây dựng đang hướng tới những mục đích xa hơn vấn đề Đài Loan, chúng cũng cần được xem xét như một động thái răn đe, thậm chí có thể đánh bại sự can thiệp từ bên ngoài. Điều đó cũng sẽ quyết định đến việc Trung Quốc có thể tấn công hay không.
Cuối cùng, Dennis Blair đã đề cao quá trình hiện đại hóa của Mỹ và các đồng minh là năng động, kịp thời và có quy mô đủ lớn để răn đe Trung Quốc, nhưng có vẻ ông lại ít chú ý đến những bước phát triển liên tục mà quân đội Trung Quốc đã đạt được trong cùng thời gian đó.
Năng lực vận tải đổ bộ không chỉ nằm ở các tàu quân sự
Blair xác định khả năng vận tải đổ bộ là điểm yếu quan trọng nhất của Trung Quốc, trích dẫn một báo cáo năm 2025 của Lầu Năm Góc nói như vậy, và coi đó là một yếu tố bắt buộc đối với sự thành công của một cuộc tấn công nhằm vào Đài Loan. Nếu Trung Quốc chỉ phải dựa vào các tàu đổ bộ chuyên dụng của hải quân Trung Quốc, đó sẽ là một lập luận đầy sức thuyết phục. Nhưng thực tế không phải vậy. Chính báo cáo của Lầu Năm Góc mà Blair trích dẫn về điểm yếu trong khả năng vận tải đổ bộ ngay sau đó cũng lưu ý rằng hải quân Trung Quốc tiếp tục huấn luyện các tàu chở hàng dân sự để giảm thiểu điểm yếu này. Thực tế này đã được thảo luận chi tiết trong các báo cáo trước đây của Bộ Quốc phòng.
Những tàu dân sự này không chỉ có vai trò quan trọng sau khi cuộc đổ bộ ban đầu đã kiểm soát được các cảng. Quân đội Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng các phà dân sự được cải tiến như một phần của các chiến dịch tấn công đổ bộ, bao gồm cả việc triển khai các xe bọc thép đổ bộ trực tiếp.Trung Quốc đã dành nhiều năm để phát triển, cải tiến, tổ chức và diễn tập các tàu thương mại đa năng phục vụ thời chiến. Do đó, những tàu này có thể tăng cường cả lực lượng tấn công cũng như khối lượng vật tư hậu cần vô cùng lớn.
Trung Quốc cũng đã xây dựng các cầu chuyển tải tự hành chuyên dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa từ tàu chở hàng dân sự lên bờ và đã thực hành sử dụng các tàu đổ bộ dân sự vốn hiện có với số lượng lớn để bổ sung thêm cho khả năng vận tải đường biển. Bất kỳ đánh giá nghiêm túc nào về năng lực đổ bộ của Trung Quốc đều phải tính đến lực lượng vận tải dân sự mà Bắc Kinh đã chuẩn bị trong nhiều năm để huy động.
Một cuộc tấn công không chỉ cần năng lực đổ bộ
Về vấn đề triển khai sức mạnh hải quân, Blair mô tả khả năng của Trung Quốc là “tương đương với Pháp, Nhật Bản hoặc Vương quốc Anh”. Trước hết, sự so sánh đó khó có thể phù hợp với dữ liệu về cơ cấu lực lượng được công bố: Theo tác giả tính toán, hải quân Trung Quốc có số lượng tàu chiến nhiều hơn gấp đôi so với hải quân của cả ba nước nói trên cộng lại. Quan trọng hơn, sự so sánh này không tính đến Lực lượng Cảnh sát biển, dân quân biển, lực lượng tên lửa chống hạm tầm xa đặt trên đất liền và tàu thuyền dân sự của Trung Quốc, tất cả đều có vai trò quan trọng trong việc triển khai sức mạnh hải quân và tất cả đều là những lực lượng lớn nhất thuộc loại này trên thế giới.
Hơn nữa, một chiến dịch ở Đài Loan chưa bao giờ chỉ đơn thuần là việc di chuyển quân đội qua eo biển. Trung Quốc cũng phải ngăn chặn hoặc đánh bại sự can thiệp từ bên ngoài. Blair nói đúng khi cho rằng các tàu chiến viễn dương, tên lửa tầm xa, hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa, cùng các cảm biến tầm xa phản ánh phạm vi tác chiến của Trung Quốc vượt xa Đài Loan. Các lực lượng tương tự sẽ đóng vai trò trung tâm trong một chiến dịch ở Đài Loan, bởi vì Trung Quốc phải ngăn chặn hoặc đánh bại sự can thiệp từ bên ngoài cũng như chinh phục chính Đài Loan. Đây không chỉ là một suy luận đơn thuần. Học thuyết quân sự của Trung Quốc đã nêu rõ mối liên hệ này. Các tài liệu quân sự chính thống của Trung Quốc khẳng định rằng khả năng ngăn chặn hoặc đánh bại sự can thiệp quân sự của Mỹ là một yêu cầu then chốt để có thể tiến hành một cuộc đổ bộ lên đảo.
Cơ cấu lực lượng của Trung Quốc càng củng cố luận điểm này. Ví dụ, theo báo cáo năm 2025 của Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc đã triển khai 550 tên lửa đạn đạo tầm trung và 1.300 tên lửa đạn đạo tầm xa có thể vươn tới khắp khu vực; và Trung Quốc đã nhiều năm tiến hành tập bắn mục tiêu vào các mô hình căn cứ , tàu chiến và máy bay cụ thể của Mỹ và đồng minh. Trung Quốc cũng đã phát triển một hệ thống phóng thẳng đứng cố định, dường như được thiết kế để triển khai số lượng lớn tên lửa hành trình và/hoặc tên lửa đạn đạo tầm trung, đồng thời đang chế tạo hơn 800 tên lửa tấn công mỗi năm. Bất kể mục đích sử dụng của các hệ thống này là gì, chúng sẽ cấu thành một phần quan trọng của lực lượng mà Trung Quốc có thể sử dụng để cô lập Đài Loan, tấn công lực lượng Mỹ và đồng minh đang cố gắng can thiệp.
Blair cũng chỉ ra hỏa lực hải quân không đủ và khả năng không quân Trung Quốc không thể bù đắp được sự thiếu hụt đó là những trở ngại cho một cuộc tấn công. Nhưng hỏa lực hải quân chỉ là một nguồn hỏa lực hỗ trợ. Trung Quốc đã phát triển pháo phản lực tấn công chính xác tầm xa rất phù hợp với nhiệm vụ này, và báo cáo năm 2025 của Lầu Năm Góc cho biết không quân Trung Quốc hiện có một số lượng lớn máy bay tiên tiến có thể bay đến Đài Loan mà không cần tiếp nhiên liệu và tiến hành các hoạt động tấn công mặt đất ở đó.
Cán cân đang dịch chuyển ở cả hai phía
Lý lẽ thuyết phục nhất cho sự cải thiện cán cân quân sự khu vực là năng lực của Mỹ và các đồng minh đang được nâng cao. Lực lượng Mỹ đã thể hiện tốt trong các cuộc chiến gần đây, và Đài Loan, Nhật Bản và Philippines đều đang thực hiện các bước để tăng cường khả năng phòng thủ của mình. Nhưng cán cân quân sự là một sự so sánh dựa trên đánh giá từ hai phía, chứ không phải là một danh sách các cải tiến của một bên, trong khi nhận định bên còn lại không có động thái tăng cường nào.
Bỏ qua những khó khăn mà Mỹ phải đối mặt trong việc chuyển hóa sự xuất sắc về chiến thuật thành lợi ích chiến lược, những thành công gần đây của Mỹ trong các hoạt động chống lại Iran rất đáng chú ý và phản ánh tính chuyên nghiệp, huấn luyện cũng như trang thiết bị của lực lượng Mỹ và các đối tác. Tuy nhiên, Iran không phải là Trung Quốc. Lực lượng tên lửa của Iran, và các mạng lưới tình báo cung cấp dữ liệu mục tiêu cho họ, kém khả năng hơn nhiều so với lực lượng tương đương của Trung Quốc. Một tàu ngầm Mỹ đánh chìm một tàu khu trục của Iran với khả năng chống tàu ngầm tối thiểu khác xa với việc đối đầu với một lực lượng đổ bộ của Trung Quốc được hộ tống bởi các tàu chiến hiện đại trang bị hệ thống sonar mảng kéo, sonar chủ động và trực thăng chống tàu ngầm, tất cả đều dưới sự bảo vệ của máy bay tuần tra biển hiện đại. Vấn đề ở đây, Trung Quốc không phải là Iran, các kết quả của cuộc chiến giữa Mỹ và Iran không để đem ra soi chiếu với một cuộc chiến tiềm tàng giữa hai siêu cường. Đó là hai vấn đề quân sự rất khác nhau.
Về kinh nghiệm chiến đấu của cả Trung Quốc và Mỹ
Cả hai đều không có kinh nghiệm gần đây trong việc đối đầu với đối thủ ngang tầm trên không hoặc trên biển. Đúng là lực lượng Mỹ có kinh nghiệm trong nhiều cuộc chiến tranh gần đây hơn, nhưng không nên đánh giá quá cao tầm quan trọng của kinh nghiệm đó đối với một cuộc chiến tranh trên biển quy mô lớn ở Tây Thái Bình Dương. Lần cuối cùng Hải quân Mỹ giao chiến với một lực lượng hải quân ngang tầm là tại Trận Leyte năm 1944, và hiện chỉ có hai tàu chiến của Hải quân Mỹ từng đánh chìm tàu chiến địch trong chiến đấu: USS Charlotte, tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân đã đánh chìm tàu khu trục Dena của Iran, và USS Constitution, một tàu khu trục từ Chiến tranh năm 1812.
Quy mô cũng rất quan trọng. Blair dẫn chứng các căn cứ của Mỹ trong khu vực đã được “mở rộng và củng cố” như bằng chứng về sự cải thiện. Mặc dù vậy, sự so sánh với Trung Quốc lại khiến người ta phải suy ngẫm. Trong thập kỷ qua, Không quân Mỹ đã xây dựng 22 hầm trú ẩn máy bay kiên cố tại các căn cứ không quân của mình trong khu vực; và khái niệm Triển khai Chiến đấu Linh hoạt của họ đặt mục tiêu phân tán các hoạt động không quân trên khoảng vài chục sân bay, hầu hết đều nhỏ và gần như hoàn toàn không được củng cố. Đồng thời, Trung Quốc đã tham gia vào một chương trình củng cố căn cứ không quân quy mô lớn, xây dựng hơn 400 hầm trú ẩn kiên cố trong khoảng thời gian tương tự – và đổ một lượng bê tông đủ lớn để lát một đường cao tốc bốn làn từ Washington, DC đến Chicago. Hiện nay, Trung Quốc có hơn 130 căn cứ không quân trong phạm vi 1.000 hải lý tính từ eo biển Đài Loan, hầu hết đều lớn và được củng cố tốt.
Vũ khí siêu thanh minh họa một vấn đề tương tự. Blair nói đúng rằng cả Trung Quốc và Mỹ đều đang triển khai chúng. Nhưng nếu vũ khí siêu thanh của Mỹ được coi là bằng chứng cho thấy cán cân đang nghiêng về phía Mỹ, thì thời điểm và quy mô rất quan trọng. Trên thực tế, Lầu Năm Góc mô tả Trung Quốc là quốc gia sở hữu “kho vũ khí tên lửa siêu thanh hàng đầu thế giới”, và Cơ quan Tình báo Quốc phòng ước tính rằng Trung Quốc đã có khoảng 600 vũ khí siêu thanh được triển khai. Ngược lại, Mỹ chỉ mới bắt đầu đưa vào sử dụng các hệ thống siêu thanh hoạt động đầu tiên của mình, và cho đến nay với số lượng rất nhỏ.
Sự so sánh về trường hợp Ukraine của Blair cũng trở nên khác biệt khi xét về quy mô. Ông lập luận rằng xu hướng công nghệ đang có lợi cho Đài Loan dựa trên mô hình phòng thủ phi đối xứng bằng máy bay không người lái của Ukraine. Ông đặc biệt dẫn chứng đề xuất năm 2025 của chính phủ Đài Loan về việc mua các hệ thống này, một đề xuất đã bị Quốc hội Đài Loan cắt giảm ngân sách dành cho máy bay không người lái. Người lãnh đạo Đài Loan hiện đã đưa ra đề xuất tiếp theo về việc chế tạo khoảng 200.000 máy bay không người lái trong 5 năm tới, thoạt nhìn có vẻ là rất nhiều. Nhưng Ukraine đã chế tạo hơn 4 triệu máy bay không người lái vào năm 2025 và dự định chế tạo 7 triệu chiếc vào năm 2026; nói cách khác, 200.000 máy bay không người lái mà Đài Loan đề xuất, được chế tạo trong 5 năm, sẽ chỉ tương đương với khoảng 10 ngày sản lượng hiện tại của Ukraine. Chưa kể đến việc Ukraine có biên giới với các nước NATO đồng minh, và trong trường hợp bị tấn công, kế hoạch của Trung Quốc chắc chắn sẽ là cô lập hòn đảo này – cản trở việc nhập khẩu nguyên vật liệu và linh kiện cần thiết để tiếp tục chế tạo máy bay không người lái trên quy mô lớn. Trung Quốc cũng là nhà sản xuất máy bay không người lái lớn nhất thế giới và đang tích cực nỗ lực tích hợp máy bay không người lái vào các hoạt động quân sự của mình.
Máy bay không người lái quả thực có thể tăng cường khả năng phòng thủ của Đài Loan, nhưng kinh nghiệm của Ukraine tự nó không chứng minh rằng xu hướng công nghệ đang có lợi cho Đài Loan khi quy mô mà Đài Loan đề xuất, khả năng tiếp cận nguồn cung bên ngoài trong thời chiến và năng lực sản xuất máy bay không người lái của Trung Quốc lại khác biệt quá nhiều (quá nhỏ bé so với trường hợp Ukraine).
Tóm lại, bất chấp những cải thiện gần đây của Mỹ và các đồng minh, tác giả bài viết không nghĩ rằng các lập luận hạ thấp năng lực của Trung Quốc là phù hợp. Ngay cả khi giả định có sự can thiệp của Mỹ, cũng không đủ cơ sở để khẳng định sự thất bại tiềm năng của Trung Quốc. Liệu một cuộc tấn công có thành công hay không sẽ phụ thuộc vào các biến số không thể biết trước: sự kháng cự của người Đài Loan, hiệu quả của sự can thiệp của Mỹ, khả năng duy trì lực lượng trên đất liền của Trung Quốc, và nhiều yếu tố khác. Nhưng Trung Quốc dường như sở hữu – nếu chưa phải bây giờ thì trong tương lai gần – sự kết hợp giữa vận tải, hỏa lực, sức mạnh không quân và hải quân, cùng khả năng phản công cần thiết để tạo ra một con đường khả thi dẫn đến thành công cho một chiến dịch như vậy. Điều đó không có nghĩa đây sẽ là một hành động hợp lý, càng không có nghĩa là chiến thắng sẽ dễ dàng hoặc được đảm bảo. Nhưng các nhà lãnh đạo phương Đông đôi khi vẫn mạo hiểm với những cuộc chiến không chắc chắn.
Phân tích không phải để tuyên truyền, mà cần hướng đến những đánh giá chính xác
Blair nói đúng rằng sự lo ngại thái quá, không có căn cứ có thể gây hại, và việc phóng đại năng lực của Trung Quốc có thể dẫn đến chủ nghĩa định mệnh hoặc sự tự tin thái quá. Nhưng tránh sự lo ngại thái quá không đồng nghĩa với việc hạ thấp quá mức năng lực của Trung Quốc. Vấn đề không phải là liệu quân đội Trung Quốc thực sự mạnh đến mức nào – rõ ràng là không – mà là liệu các chuyển biến thực tế có ủng hộ những kết luận quá lạc quan từ phía Mỹ hay không. Xuyên suốt bài báo của ông – và những bài báo tương tự trong những năm gần đây – các năng lực liên quan của Trung Quốc bị xem nhẹ hoặc bỏ qua, những cải tiến trong tương lai của Mỹ và các đồng minh được coi như thể chúng đã tồn tại hoặc sẽ thành hiện thực đúng tiến độ với những hiệu quả dự định, và những bước phát triển liên tục của Trung Quốc nhận được sự chú ý tương đối ít.
Cuối cùng, những sự thật đáng lo ngại đôi khi dẫn đến những kết luận có phần gây sốc. Mục tiêu của giới chuyên gia không phải là đưa ra những kết luận mang tính tuyên truyền (hoặc quá lạc quan, hoặc quá đen tối) mà là đạt được một phân tích chính xác. Nếu các sự kiện và xu hướng thực sự đáng lo ngại, thì một đánh giá chính xác cũng cần phải phản ánh đúng điều đáng lo ngại đó.
Kết luận
Điều này không có nghĩa là Đài Loan chắc chắn sẽ bị diệt vong, hay một cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ dễ dàng. Sự răn đe có thể thành công, và việc tiếp tục đầu tư của Mỹ, Đài Loan và các đồng minh có thể đóng vai trò rất quan trọng – nếu được thực hiện với sự khẩn trương mà tình hình đòi hỏi. Mỹ và các đồng minh phải tiếp tục và đẩy nhanh các biện pháp làm giảm khả năng thành công của Trung Quốc: củng cố và phân tán các căn cứ khu vực, triển khai đạn dược và hậu cần kiên cường ở quy mô đáng kể, và giúp Đài Loan xây dựng kho dự trữ và hệ thống không người lái cần thiết để duy trì khả năng phòng thủ khi bị tấn công – và bị cô lập.
Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã trải qua một sự chuyển đổi đáng kể trong hai thập kỷ qua – một sự chuyển đổi rộng lớn hơn, sâu sắc hơn và có liên quan mật thiết hơn đến chiến dịch ở Đài Loan so với những gì Đô đốc Blair thừa nhận. Khả năng Trung Quốc có thể thành công trong nỗ lực này không nên bị bác bỏ chỉ vì sự thành công còn chưa chắc chắn. Các khoản đầu tư của Mỹ và các đối tác vào năng lực quân sự phần lớn được thúc đẩy bởi sự nhận thức về thách thức quân sự từ Trung Quốc. Đánh giá thấp thách thức đó có thể làm suy yếu sự ủng hộ chính trị đối với việc tiếp tục những nỗ lực này với tốc độ cần thiết để duy trì trạng thái ổn định. Mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc đang được cảm nhận rất rõ ràng. Đối phó với nó sẽ đòi hỏi những đánh giá không dựa trên sự trấn an hay gây hoang mang, mà dựa trên bằng chứng tốt nhất hiện có.
Biên dịch: Hoàng Hải
Tác giả Thomas Shugart là một sĩ quan tàu ngầm đã nghỉ hưu của Hải quân Mỹ. Ông là nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới và là người sáng lập Archer Strategic Consulting.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, dựa trên lập trường lợi ích của Mỹ, hoàn toàn không phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]






















