Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Lĩnh vực

Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc trong cấu trúc an ninh và phát triển

07/09/2026
in Lĩnh vực, Phân tích
A A
0
Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc trong cấu trúc an ninh và phát triển
0
SHARES
8
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Nền chính trị – kinh tế thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh, với xu hướng chuyển từ toàn cầu hóa sang cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ không chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế mà đã trở thành nền tảng của sức mạnh quốc gia và an ninh. Việc phương Tây tăng cường kiểm soát công nghệ lõi và áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đã bộc lộ những điểm yếu chiến lược của Trung Quốc, buộc Bắc Kinh phải đẩy nhanh xây dựng năng lực tự chủ và củng cố sức mạnh nội sinh để giảm phụ thuộc bên ngoài.

Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/2022), Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã trình bày Báo cáo Chính trị, lần đầu tiên ba yếu tố này được gộp chung lại và đưa hẳn vào một chương độc lập là Chương 5, với tiêu đề chính thức “Triển khai chiến lược vực dậy đất nước bằng khoa học và giáo dục, tăng cường hỗ trợ nhân tài cho công cuộc hiện đại hóa” (实施科教兴国战略,强化现代化建设人才支撑). Văn kiện chỉ rõ: “Giáo dục, khoa học công nghệ, nhân tài là chỗ dựa mang tính chiến lược, căn bản cho việc xây dựng toàn diện quốc gia hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa”.[1]

Tháng 3/2026, Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc chính thức phê duyệt Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 (2026 – 2030). Tam vị nhất thể từ một khẩu hiệu chính trị đã được định hình thành các chỉ tiêu pháp lý bắt buộc đối với tất cả chính quyền địa phương. Chính Hội đồng Nhà nước phê duyệt Quy hoạch phát triển giáo dục, đặt mục tiêu biến Trung Quốc thành “Cường quốc giáo dục” vào năm 2035, ưu tiên tuyệt đối cho việc phân bổ ngân sách vào nghiên cứu cơ bản và công nghệ mũi nhọn.[2]

Khái niệm “Tam vị nhất thể”,  không phải là sự lắp ghép cơ học hay sự cộng dồn đơn giản của ba lĩnh vực riêng rẽ, mà là một sự tích hợp hữu cơ, không thể tách rời mang tính hệ thống cao giữa Giáo dục là nền tảng, đóng vai trò là cội nguồn tích lũy, định hình tư duy, sàng lọc tri thức và cung cấp nguyên liệu thô cho toàn bộ hệ thống; Khoa học công nghệ là động lực làm mũi nhọn đột phá, chuyển hóa các tiềm năng tri thức thành các thành tựu vật chất cụ thể, tạo ra sức sản xuất mới và năng lực quốc phòng; và Nhân tài là hạt nhân cốt lõi, là chủ thể sống duy nhất vận hành, liên kết và giải phóng sức sản xuất của hai yếu tố trên.

Mục tiêu tối thượng của sự tích hợp này là phục vụ toàn diện cho sự nghiệp “Hiện đại hóa kiểu Trung Quốc”, bảo đảm quốc gia có thể vừa tự cường phát triển vừa chủ động phòng ngự an ninh.

Nếu đứng từ góc nhìn khảo cứu tư tưởng và văn hóa Trung Hoa cổ đại. Thuật ngữ “Tam vị nhất thể” (三位一体) mang bản chất triết học, nó bám rễ sâu sắc trong dòng chảy tư duy lập quốc và quản trị của Trung Hoa suốt hàng nghìn năm phong kiến. Trong Kinh Dịch, tư tưởng “Thiên – Địa – Nhân” (Tam Tài) chính là hình mẫu sơ khởi của tư duy hệ thống. Vũ trụ chỉ vận hành điều hòa khi ba yếu tố này hòa hợp làm một. Soi chiếu vào quản trị quốc gia hiện đại, Giáo dục chính là nền tảng xã hội → Địa, KHCN là quy luật tự nhiên biến đổi thế giới → Thiên và Nhân tài chính là chủ thể vận hành → Nhân cấu thành một chỉnh thể sinh thái tương tự. Không một yếu tố nào có thể đứng độc lập mà tạo nên sự hưng thịnh của quốc gia.

Trong tư tưởng Nho gia về giáo dục và nhân tài, Khổng Tử và Mạnh Tử luôn coi giáo dục là gốc rễ của trị quốc, tức là “Giáo dục vi tiên”. Từ thời Nhà Tùy và Nhà Đường, việc thiết lập hệ thống khoa cử chính là minh chứng lịch sử rõ nét nhất cho việc vận dụng cơ chế giáo dục như trường học, khoa thi nhằm sàng lọc nhân tài,tìm kiếm trạng nguyên, tiến sĩ để đưa vào bộ máy quản lý, lãnh đạo để duy trì sự ổn định và phát triển của vương triều. Nếu Nho gia chuẩn bị nền tảng con người, thì trong tư tưởng Pháp gia về Công cụ trị quốc (Thế – Pháp – Thuật),  Quản Trọng và Hàn Phi nhấn mạnh đến công cụ cải tạo vật chất và sức mạnh quốc gia. Việc phát triển kỹ nghệ đúc đồng, sắt, thủy lợi, tương đương với KHCN thời cổ đại được tích hợp trực tiếp vào chiến lược tăng cường sức mạnh quân sự và kinh tế hay còn gọi là Phú quốc cường binh.

Từ đó, ĐCSTQ đã kế thừa bộ gen văn hóa trị quốc này và chuyển hóa nó thành công nghệ quản trị hiện đại. Trong hệ thống chính trị đương đại, “Tam vị nhất thể” được thể hiện qua các biểu hiện thực tế cụ thể. Thay vì để Bộ Giáo dục, Bộ KHCN và Ban Tổ chức Trung ương vận hành theo mô hình tách biệt, thì nhà nước thiết lập các Ủy ban chỉ đạo siêu bộ ngành trực thuộc Trung ương Đảng do Tổng Bí thư trực tiếp đứng đầu để điều phối tổng thể. Từ năm 2026, các chỉ tiêu về chi tiêu R&D (nghiên cứu và phát triển), tỷ lệ giữ chân nhân tài mũi nhọn, và chất lượng đầu ra của các phòng thí nghiệm trọng điểm được tính trực tiếp vào KPI đánh giá năng lực của các quan chức lãnh đạo tỉnh, thành phố.[3] Đây chính là việc cụ thể hóa triết lý cổ đại vào công nghệ quản lý nhân sự hiện đại.

Thông qua đó, Trung Quốc đã khéo léo biến các thực thể vốn trước đây phục vụ dân sinh và phát triển trở thành các cột trụ phòng ngự an ninh quốc gia. Năng lực tự lực tự cường về giáo dục và công nghệ chính là câu trả lời đanh thép và sắc bén nhất để bẻ gãy chiến lược phong tỏa, bao vây từ các đối thủ địa chính trị phương Tây, xác lập một vị thế bất khả xâm phạm trong trật tự thế giới lưỡng cực tương lai.

Cơ chế vận hành của chiến lược “Tam vị nhất thể”

Quá trình hình thành chiến lược này, phản ánh sự phát triển liên tục trong tư duy chiến lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ mục tiêu phát triển để đuổi kịp tới tự chủ chiến lược. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, khoa học công nghệ được xác lập là “lực lượng sản xuất số một”, đặt nền móng thông qua khôi phục giáo dục đại học và phục vụ công cuộc hiện đại hóa. Đến thời Giang Trạch Dân, chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” năm 1995 chính thức đưa giáo dục và khoa học công nghệ trở thành động lực phát triển, với các dự án trọng điểm như 211 và 985. Thời Hồ Cẩm Đào, trọng tâm được mở rộng sang đổi mới sáng tạo và cường quốc nhân tài, hình thành nền tảng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến Đại hội XX dưới thời Tập Cận Bình, ba yếu tố giáo dục – khoa học công nghệ – nhân tài lần đầu tiên được tích hợp thành một chiến lược thống nhất, đánh dấu bước chuyển từ công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sang trụ cột của tự lực tự cường, an ninh quốc gia và năng lực cạnh tranh chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu.

Để phá vỡ quyền lực cục bộ của các bộ ngành, Đảng Cộng sản Trung Quốc thiết lập một hệ thống chỉ huy dọc, tập trung hóa quyền lực tối cao.

Sự ra đời và vai trò điều phối của Ủy ban KHCN Trung ương (CSTC) vào tháng 3/2023, trong đợt cải cách thể chế quy mô lớn của Đảng và Nhà nước, Ủy ban này được thành lập dưới quyền quản lý trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương. Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Đinh Tiết Tường được bổ nhiệm làm Lãnh đạo Ủy ban. Với vai trò tối cao về việc phê duyệt các dự án KHCN chiến lược quốc gia, phân bổ ngân sách nghiên cứu khổng lồ, và sáp nhập các phòng thí nghiệm quốc gia. Bộ Khoa học và Công nghệ được tái cơ cấu để trở thành cơ quan hành chính thực thi các mệnh lệnh từ CSTC chuyển xuống.

Đảng vận hành cơ chế kiểm soát tuyệt đối thông qua ba gọng kìm dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị. Ban Tổ chức Trung ương – gọng kìm nhân sự điều động, bổ nhiệm các Bí thư Đảng ủy tại các trường đại học hàng đầu và các Viện sĩ Viện Hàn lâm dựa trên thành tích cống hiến cho công nghệ quốc gia. Bộ Giáo dục – gọng kìm đào tạo thực thi việc tái cấu trúc các ngành học, chuyển dịch chỉ tiêu tuyển sinh từ khối ngành kinh tế, xã hội sang khối ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học). Bộ Khoa học Công nghệ – gọng kìm triển khai giám sát các tập đoàn nhà nước và tư nhân để đảm bảo tiền nghiên cứu được chi đúng vào việc giải quyết các nút thắt kỹ thuật.

Nhìn cách Trung Quốc vận hành mối liên kết tam giác này, có thể đánh giá khái quát thông qua cấu trúc “Một mục tiêu, Ba định hướng, Bốn đồng bộ”, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc.[4]

Một mục tiêu là “Tự cường quốc gia và dịch chuyển mô hình an ninh – phát triển” bản chất của nó là chuyển đổi từ mô hình phát triển dựa trên hiệu quả kinh tế và thị trường toàn cầu sang phát triển dựa trên năng lực tự chủ để bảo vệ an ninh quốc gia. Trên thực tế, Trung Quốc chấp nhận giảm tốc độ tăng trưởng GDP ngắn hạn để dồn nguồn lực xây dựng mạng lưới an toàn công nghệ. Mục tiêu tối cao là đạt tỷ lệ 70% tự chủ công nghệ cốt lõi và linh kiện bán dẫn nội địa, vô hiệu hóa hoàn toàn các lệnh trừng phạt từ bên ngoài.

Ba định hướng, tức là trình tự logic của vòng lặp đóng

Định hướng đầu tiên, tiên phong về Giáo dục, xem đây là nền tảng của mọi bước tiến khác. Hội đồng Nhà nước Trung Quốc phê duyệt danh sách Đề án “Song Nhất lưu” giai đoạn 2 gồm 147 trường đại học. Quyền tự chủ thiết lập và điều chỉnh ngành học cốt lõi phục vụ chiến lược quốc gia được trao trực tiếp cho hai trường hàng đầu là Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh. Vào tháng 3, ngân sách trung ương dành riêng cho phát triển khoa học công nghệ thông qua các trường đại học tăng vọt 10%, đạt mức 426 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 62 tỷ USD), trong đó ngân sách cho nghiên cứu cơ bản tăng mạnh tới 16,3%.[5] Theo báo cáo của Chính phủ Trung Quốc, ngân sách công trung ương cấp cho các trường đại học nhóm này đạt tới 181 tỷ Nhân dân tệ, xấp xỉ 25,7 tỷ USD, kết hợp dòng vốn đối ứng hơn 110 tỷ Nhân dân tệ từ chính quyền địa phương để đẩy nhanh tốc độ xây dựng các cơ sở học thuật đẳng cấp toàn cầu.[6] Tính đến năm 2026, Trung Quốc sở hữu hệ thống giáo dục đại học STEM quy mô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 50% tổng số sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ ngành STEM trên toàn cầu. Theo dữ liệu của CSET, số lượng nghiên cứu sinh tốt nghiệp Tiến sĩ ngành STEM của Trung Quốc bùng nổ, vượt ngưỡng 77,000 tiến sĩ/năm, gần gấp đôi quy mô khoảng 40,000 của Mỹ. Đáng chú ý, 45% số lượng tiến sĩ chất lượng cao này ra lò trực tiếp từ các trường thuộc khối Song Nhất lưu. Nhờ đó, bảng xếp hạng Times World University Rankings ghi nhận Trung Quốc chính thức vượt Mỹ về số lượng trường đại học lọt top dẫn đầu thế giới.[7] Các trường đại học lớn bắt buộc phải thành lập các Học viện Vi mạch và Học viện Trí tuệ nhân tạo độc lập để đào tạo kỹ sư chuyên biệt ngay từ năm nhất đại học.

Định hướng thứ hai là đột phá về mặt trận KHCN. Cơ chế “Thể chế huy động sức mạnh toàn quốc kiểu mới”, Đảng có quyền huy động mọi nguồn lực từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân cho đến các viện nghiên cứu để đánh vào một mặt trận công nghệ duy nhất. Kế hoạch Phát triển Kinh tế và Xã hội 5 năm lần thứ 15 đã định hướng 4 phương án liên quan đến đổi mới khoa học công nghệ từ năm 2026 đến năm 2030, cho thấy sự bài bản và kỹ lưỡng trong từng khâu hoạch định và phát triển. Cụ thể, các bước đi này được vận hành rõ nét nhất qua vai trò của Tập đoàn Huawei và Tập đoàn Đúc chip Quốc tế Thượng Hải (SMIC). Bất chấp các lệnh trừng phạt ngặt nghèo của Mỹ, dưới sự điều phối dòng vốn và cơ sở vật chất từ chính phủ, các viện nghiên cứu vật liệu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) đã phối hợp trực tiếp với chuỗi cung ứng nội địa của Huawei để tự chủ hóa chuỗi công cụ phần mềm EDA và linh kiện phần cứng, tạo tiền đề bứt phá cho các dòng vi xử lý cao cấp hoàn toàn thuần nội địa. Tổng chi cho R&D toàn quốc đã vươn tới con số kỷ lục 3,93 nghìn tỷ Nhân dân tệ, khoảng 551 tỷ USD, đạt cường độ 2,8% GDP. Đáng chú ý, ngân sách dành riêng cho nghiên cứu cơ bản lần đầu tiên trong lịch sử vượt ngưỡng 7%, chạm mốc gần 280 tỷ Nhân dân tệ, tạo ra bệ phóng vững chắc cho các phát minh mang tính cội nguồn.[8] Trung Quốc cũng tiếp tục giữ vững vị trí quốc gia có số đơn đăng ký bằng sáng chế quốc tế (PCT) lớn nhất thế giới với hơn 70.160 đơn, bỏ xa vị trí thứ hai là Hoa Kỳ (54,087 đơn). Xét trên góc độ doanh nghiệp, tập đoàn công nghệ Huawei của Trung Quốc dẫn đầu bảng xếp hạng toàn cầu với 6.600 ứng dụng công bố, theo sau là các đại diện công nghệ xanh khác như CATL.[9] Đạt mức tự chủ 100% trong sản xuất hàng loạt các vật liệu công nghệ cao như đồng vị silicon-28 phục vụ chip lượng tử.

Định hướng thứ ba lấy nhân tài làm động lực phát triển, triển khai chiến lược phân tầng nhân tài quốc gia kết hợp chính sách thu hút nhân tài, hay gọi một cách đặc sắc là “gọi Đại bàng về tổ”.[10] Sau khi các chương trình cũ bị phương Tây đưa vào tầm ngắm, Trung Quốc đã chuyển dịch sang các kế hoạch thu hút chất xám thế hệ mới mang tính bảo mật cao hơn như Chương trình Khởi Minh được điều hành bởi Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin (MIIT). Chính sách này tập trung săn đón các nhà khoa học, kỹ sư gốc Hoa hàng đầu đang làm việc tại các phòng thí nghiệm danh tiếng của Mỹ (MIT, Stanford, NASA) hoặc các gã khổng lồ chip như ASML, TSMC, Intel về nước cống hiến. Riêng đối với định hướng này cũng chia thành 3 nhóm khác nhau. Nhóm đầu tiên, nhân tài nghiên cứu đỉnh cao, được cấp ngân sách dài hạn từ 5 – 10 năm mà không áp lực phải ra sản phẩm ngay, nhằm tìm ra các định luật vật lý, hóa học, nguyên lý thuật toán mới. Nhóm thứ hai, nhân tài chiến lược, đóng vai trò tổng công trình sư như đội ngũ phát triển các dòng chip nội địa của Huawei, dòng xe điện của BYD, có nhiệm vụ dịch chuyển nguyên lý lý thuyết thành giải pháp kỹ thuật cụ thể. Nhóm thứ ba, nhân tài đổi mới khởi nghiệp là lực lượng kỹ sư ứng dụng quy mô lớn, tối ưu hóa dây chuyền sản xuất để đè bẹp đối thủ về giá thành và sản lượng.[11]

Bốn đồng bộ là bốn cơ chế thực thi đồng nhất, để đảm bảo ba định hướng trên không bị lệch pha.

Một, đồng bộ về quy hoạch chiến lược, Khi Bộ KHCN vạch kế hoạch đột phá AI hoặc Bán dẫn, Bộ Giáo dục ngay lập tức phải ra văn bản điều chỉnh chương trình đào tạo; Ban Tổ chức Trung ương lập tức ban hành danh mục nhân tài cần thu hút. Sách trắng AI Quốc gia được ký duyệt đồng thời bởi cả 3 cơ quan tham mưu hàng đầu của Đảng dưới sự điều phối của CSTC.

Hai, đồng bộ hóa toàn diện trong phân bổ ngân sách, tiền không còn được cấp phát riêng rẽ cho từng trường học hay viện nghiên cứu, mà dịch chuyển triệt để sang cơ chế cấp phát tích hợp theo gói dự án chiến lược. Ví dụ điển hình trong một gói ngân sách quốc gia cho Điện toán lượng tử, dòng vốn được phân bổ đồng thời theo chuỗi giá trị khép kín, trong đó Đại học Khoa học Công nghệ Trung Quốc (USTC) nhận ngân sách để vận hành các phòng thí nghiệm trọng điểm và đào tạo nghiên cứu sinh mũi nhọn; Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) nhận kinh phí để chế tạo, thử nghiệm các bộ vi xử lý và phần cứng lõi; và một phần ngân sách lập tức được định tuyến tới các doanh nghiệp công nghệ cao liên kết nhằm mục tiêu thương mại hóa và ứng dụng hạ tầng công nghiệp.

Ba, đồng bộ hóa toàn diện trong cơ chế kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt hiệu quả dòng vốn. Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương (CCDI) phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc (MOST) thiết lập các Tổ Thanh tra Kỷ luật Cắm chốt và các đợt Thanh tra Chuyên đề Quốc gia. Cơ chế này thực hiện kiểm toán định kỳ, gắt gao dòng ngân sách dự án, kiên quyết chấm dứt tình trạng lãng phí vốn nhà nước vào các công trình nghiên cứu mang tính lý thuyết suông hoặc các bài báo học thuật thiếu giá trị ứng dụng. Minh chứng thực tế là chiến dịch bão táp chống tham nhũng càn quét ngành bán dẫn giai đoạn 2022 – 2024, phơi bày hàng loạt dự án chip hữu danh vô thực. Những hổ lớn đầu sỏ lạm dụng vốn đầu tư công đã bị xử lý nghiêm khắc, điển hình là cựu Chủ tịch Tsinghua Unigroup Triệu Vĩ Quốc (bị kết án tử hình treo năm 2025) và cựu Giám đốc Quỹ Vi mạch Quốc gia Đinh Văn Vũ. Sau cuộc thanh lọc mang tính răn đe này, dòng vốn chiến lược của Trung Quốc đã được nắn thẳng từ các dự án đầu cơ kém hiệu quả sang tập trung nguồn lực tuyệt đối cho các pháp nhân cốt lõi sở hữu năng lực sản xuất thực tế, có thể gánh vác an ninh công nghệ quốc gia như SMIC (chế tạo mạch tích hợp) và Huawei (thiết kế chip, phát triển hạ tầng AI).[12]

Bốn, đồng bộ hóa hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, thống nhất một thước đo hiệu năng thực chất. Để liên kết chặt chẽ ba mắt xích, Trung Quốc thiết lập một trục quy chiếu thành tích chung cho cả Hiệu trưởng trường đại học (Giáo dục), Viện trưởng viện nghiên cứu (Khoa học công nghệ) và Giám đốc doanh nghiệp (Nhân tài), buộc tất cả phải cùng chịu trách nhiệm trên một đầu ra công nghệ ứng dụng. Hiệu trưởng của các trường đại học trọng điểm thuộc Song nhất lưu sẽ không thể thăng tiến trên con đường chính trị nếu các phòng thí nghiệm của trường không chuyển giao được công nghệ lõi nào cho các tập đoàn công nghiệp quốc gia trong nhiệm kỳ. Bước ngoặt lớn nhất của tư duy này là Chiến dịch Phá Ngũ Duy được Bộ Giáo dục và Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc khởi xướng quyết liệt. Chiến dịch xóa bỏ triệt để 5 tiêu chí định lượng hình thức: Duy luận văn (SCI), Duy học hàm, Duy bằng cấp, Duy giải thưởng và Duy học vị. Hệ thống mới chuyển dịch hoàn toàn sang cơ chế đánh giá dựa trên hiệu quả thực chất giải quyết các điểm nghẽn kỹ thuật, mức độ tối ưu hóa chi phí chuỗi cung ứng nội địa và năng lực đào tạo thế hệ kế cận. Sự thay đổi mang tính cách mạng này buộc giới học thuật Trung Quốc phải từ bỏ việc chạy đua mù quáng theo các chỉ số công bố của phương Tây, quay trở về với tư duy thực tiễn viết luận án trên mảnh đất quê hương, biến tri thức thành năng lực sản xuất trực tiếp.

Vai trò của chiến lược này đối với cấu trúc an ninh và phát triển của Trung Quốc

*Đối với cấu trúc phát triển quốc gia

Chiến lược “Giáo dục – Khoa học công nghệ – Nhân tài Tam vị nhất thể” ngày càng được Trung Quốc xác lập như động cơ trung tâm của quá trình tái cấu trúc phát triển quốc gia. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ, đầu tư hạ tầng và bất động sản, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang xây dựng “lực lượng sản xuất chất lượng mới”, trong đó tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực quyết định năng suất và năng lực cạnh tranh. Sự chuyển dịch này phản ánh nỗ lực đưa nền kinh tế từ mô hình “Made in China” sang làm chủ thiết kế, thương hiệu và sở hữu trí tuệ cốt lõi.

Điểm đáng chú ý là chiến lược không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng mà còn tạo ra một cấu trúc phát triển mới dựa trên số hóa, xanh hóa và tự chủ công nghệ. Dòng vốn quốc gia được điều hướng mạnh vào các ngành chiến lược như xe điện, pin lithium, năng lượng mặt trời, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn; đồng thời quy mô đầu tư cho R&D duy trì ở mức rất cao, vượt 2% GDP.[13] Nhờ đó, kinh tế số đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của tăng trưởng, trong khi các chương trình như “Đông số Tây toán” hay mạng lưới “Nhà máy Hải đăng” cho thấy tham vọng số hóa toàn bộ nền sản xuất. Song song với đó, mục tiêu “đỉnh carbon trước 2030, trung hòa carbon trước 2060” được gắn với việc phát triển các siêu căn cứ năng lượng tái tạo và chuỗi cung ứng xanh do Trung Quốc kiểm soát.

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ với phương Tây gia tăng, Bắc Kinh coi việc làm chủ bán dẫn, AI, vật liệu mới và các công nghệ nền tảng là điều kiện để giảm thiểu các mâu thuẫn chiến lược. Những bước tiến như chip Kirin do SMIC sản xuất hay việc nâng tỷ lệ nội địa hóa của máy bay C919 phản ánh nỗ lực xây dựng một chuỗi công nghiệp có khả năng chống chịu trước các biện pháp kiểm soát từ bên ngoài.[14] Theo nghĩa đó, phát triển công nghệ không còn là mục tiêu kinh tế đơn thuần mà đã trở thành bộ phận của chiến lược an ninh và chủ quyền.

Khi năng lực nội sinh được củng cố, Trung Quốc tiếp tục chuyển hóa lợi thế về giáo dục, khoa học công nghệ và nhân tài thành công cụ mở rộng ảnh hưởng quốc tế. Điều này thể hiện rõ qua sự chuyển đổi của Sáng kiến Vành đai và Con đường từ kết nối hạ tầng truyền thống sang “Con đường tơ lụa kỹ thuật số” và “Con đường tơ lụa xanh”. Thông qua xuất khẩu mạng 5G/6G, hệ thống Bắc Đẩu, xe điện, pin và các giải pháp năng lượng sạch, Bắc Kinh không chỉ mở rộng thị trường mà còn lan tỏa hệ sinh thái công nghệ do mình dẫn dắt. Đồng thời, các chương trình học bổng và đào tạo dành cho các nước đối tác giúp hình thành một mạng lưới nhân lực quốc tế quen thuộc với tiêu chuẩn kỹ thuật và phương thức vận hành của Trung Quốc. Xa hơn, chiến lược này còn phục vụ tham vọng nâng cao quyền lực diễn ngôn và khả năng kiến tạo luật chơi quốc tế. Việc mở rộng các trung tâm nghiên cứu chung với các nước Nam Bán cầu cho thấy Bắc Kinh đang tìm cách chuyển hóa sức mạnh công nghệ thành sức mạnh thể chế, qua đó thúc đẩy một trật tự kinh tế – công nghệ đa cực hơn.

*Đối với cấu trúc an ninh quốc gia

Sự hình thành và vận hành của chiến lược liên kết này đã phản ánh sự chuyển dịch căn bản trong tư duy an ninh quốc gia của Trung Quốc, từ mô hình phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trung tâm sang mô hình phát triển lấy an ninh quốc gia làm trục dẫn dắt. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Trung Quốc – Mỹ ngày càng mang tính toàn diện, Bắc Kinh không còn coi giáo dục, khoa học – công nghệ và nhân tài đơn thuần là các động lực phát triển kinh tế, mà tái định vị ba lĩnh vực này thành nền tảng cấu thành sức mạnh an ninh quốc gia. Chuyển hóa nguồn lực tri thức thành năng lực phòng thủ quốc gia, nâng cao khả năng chống chịu trước các chiến lược kiềm chế, cấm vận và bao vây công nghệ của phương Tây, đồng thời tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn trong cuộc đối đầu giữa các cường quốc.

Sự chuyển dịch này gắn chặt với quá trình hiện thực hóa khái niệm An ninh Quốc gia Tổng thể do Chủ tịch Tập Cận Bình đề xuất từ năm 2014. Trước đây an ninh quân sự thường được xem là trung tâm của sức mạnh quốc gia, trong quan niệm mới, an ninh chính trị được xác định là nền tảng cốt lõi, an ninh kinh tế là cơ sở vật chất, còn khoa học – công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo trở thành động lực bảo đảm sự vận hành ổn định của toàn bộ hệ thống an ninh. Điều này phản ánh nhận thức rằng các cuộc cạnh tranh chiến lược trong thế kỷ XXI không còn diễn ra chủ yếu trên chiến trường quân sự truyền thống mà chuyển dịch sang cuộc cạnh tranh về chuỗi cung ứng công nghệ, dữ liệu, thuật toán, tiêu chuẩn kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong bối cảnh Mỹ triển khai chiến lược “Small Yard, High Fence” (Sân nhỏ, Rào cao), siết chặt kiểm soát xuất khẩu chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ lưỡng dụng, Bắc Kinh coi việc làm chủ các công nghệ lõi là điều kiện tiên quyết để duy trì khả năng vận hành của nền kinh tế cũng như hệ thống quốc phòng. Thông qua mô hình “Hệ thống toàn quốc mới”, nhà nước tập trung nguồn lực vào các phòng thí nghiệm quốc gia, các trung tâm nghiên cứu trọng điểm và các tập đoàn công nghệ chiến lược nhằm rút ngắn khoảng cách công nghệ với phương Tây.[15] Các cơ sở như Phòng thí nghiệm Vật lý lượng tử Hợp Phì không chỉ thực hiện nghiên cứu cơ bản mà còn đóng vai trò bảo đảm khả năng tự chủ trong truyền thông lượng tử, mật mã lượng tử và các hệ thống thông tin bảo mật, góp phần giảm thiểu nguy cơ hệ thống chỉ huy quốc gia bị vô hiệu hóa trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hoặc xung đột quân sự.

Song song với quá trình tự chủ công nghệ là việc tái cấu trúc toàn diện hệ thống giáo dục đại học theo hướng phục vụ trực tiếp cho chiến lược an ninh quốc gia. Giáo dục được tích hợp chặt chẽ với công nghiệp quốc phòng và đổi mới công nghệ. Điều này được thể hiện rõ qua vai trò của nhóm “Thất tử Quốc phòng” bảy trường đại học trực thuộc Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, được giao nhiệm vụ dẫn dắt các chương trình nghiên cứu về hàng không vũ trụ, vật liệu tiên tiến, kỹ thuật hạt nhân, công nghệ tàu ngầm, an ninh mạng và trí tuệ nhân tạo phục vụ quốc phòng. Cùng với đó, việc triển khai “Kế hoạch Cường cơ” từ năm 2020 đã điều chỉnh mạnh cơ cấu đào tạo đại học, giảm chỉ tiêu các ngành kinh tế và quản trị, đồng thời mở rộng đào tạo toán học, vật lý, hóa học, sinh học và kỹ thuật nhằm xây dựng nền tảng khoa học cơ bản phục vụ các lĩnh vực chiến lược. Cách tiếp cận này phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển nhân lực, từ đào tạo theo nhu cầu thị trường sang đào tạo theo yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia lâu dài.

Cùng với đó, việc thiết lập chủ quyền nhân lực thông qua chiến lược thu hút và kiểm soát nguồn nhân tài chiến lược. Bắc Kinh nhận thức rằng trong điều kiện cạnh tranh công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là yếu tố quyết định tốc độ đổi mới sáng tạo. Do đó, thay vì phụ thuộc vào hệ thống đào tạo của phương Tây, Trung Quốc chủ động xây dựng cơ chế thu hút các nhà khoa học gốc Hoa hồi hương, đồng thời phát triển hệ sinh thái nghiên cứu đủ sức cạnh tranh quốc tế. Sau khi Mỹ triển khai “China Initiative”, khiến nhiều học giả và nhà khoa học gốc Hoa đối mặt với các cuộc điều tra và kiểm soát nghiêm ngặt, Trung Quốc đã tận dụng cơ hội này để thúc đẩy quá trình hồi lưu chất xám, thu hút nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng hạt nhân và công nghệ lượng tử trở về làm việc tại các viện nghiên cứu quốc gia và doanh nghiệp công nghệ chiến lược. Đồng thời, Bắc Kinh từng bước giảm sự phụ thuộc vào hệ thống đánh giá học thuật phương Tây bằng cách xây dựng cơ chế đánh giá khoa học nội địa, hạn chế việc công bố các kết quả nghiên cứu có giá trị chiến lược trên các tạp chí quốc tế nhằm bảo vệ các công nghệ nhạy cảm liên quan đến quốc phòng và an ninh.

Việc kết nối giáo dục, công nghệ và nhân tài đã tạo ra một cấu trúc an ninh có khả năng chuyển hóa tri thức thành năng lực răn đe chiến lược. Điều này thể hiện rõ trong cách Trung Quốc ứng phó với các lệnh kiểm soát xuất khẩu chip bán dẫn của Mỹ và đồng minh. Thay vì chỉ tập trung vào việc vượt qua các biện pháp cấm vận, Bắc Kinh đồng thời khai thác lợi thế của mình trong chuỗi cung ứng nguyên liệu chiến lược để tạo ra năng lực răn đe ngược. Việc áp đặt hạn chế xuất khẩu các kim loại hiếm như gallium, germanium và antimony những nguyên liệu thiết yếu đối với sản xuất chất bán dẫn, radar và hệ thống tên lửa cho thấy Trung Quốc đang từng bước chuyển từ vị thế phòng thủ sang khả năng tạo sức ép đối với các nền kinh tế công nghệ cao.  Trong lĩnh vực năng lượng, việc dẫn đầu thế giới về chuỗi giá trị pin lithium, xe điện và năng lượng mặt trời không chỉ mang ý nghĩa phát triển kinh tế mà còn góp phần giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu qua Eo biển Malacca tuyến vận tải chiến lược được Bắc Kinh coi là một trong những điểm yếu lớn nhất về an ninh năng lượng.

Mối liên kết còn thể hiện qua quá trình hiện đại hóa quân đội và nâng cao năng lực răn đe tại Eo biển Đài Loan. Trên cơ sở chiến lược Hòa hợp Quân – Dân, Trung Quốc từng bước xóa nhòa ranh giới giữa nghiên cứu dân sự và ứng dụng quân sự, biến các thành tựu trong trí tuệ nhân tạo, thị giác máy tính, dữ liệu lớn và robot thành năng lực tác chiến thực tế của Quân Giải phóng Nhân dân. Các cơ sở đào tạo như Đại học Công nghệ Quốc phòng (NUDT), Đại học Hàng không Vũ trụ Bắc Kinh hay Đại học Kỹ thuật Cáp Nhĩ Tân trở thành nguồn cung nhân lực cốt lõi cho các chương trình phát triển tên lửa siêu thanh, hệ thống định vị Bắc Đẩu, siêu máy tính, UAV bầy đàn và các nền tảng chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD). Việc ứng dụng các thuật toán AI vào mô phỏng chiến trường, tối ưu hóa quỹ đạo tên lửa và điều khiển phương tiện không người lái cho thấy đây không chỉ thúc đẩy hiện đại hóa quân đội mà còn tạo ra phương thức tác chiến mới dựa trên ưu thế công nghệ. Trong bối cảnh vấn đề Đài Loan tiếp tục là điểm nóng chiến lược trong cạnh tranh Trung Quốc – Mỹ, mô hình này giúp Bắc Kinh từng bước xây dựng năng lực răn đe phi đối xứng, nâng cao chi phí can thiệp của các lực lượng bên ngoài và củng cố khả năng bảo vệ các lợi ích cốt lõi của mình.

Tuy nhiên, triển vọng của chiến lược sẽ phụ thuộc vào khả năng Trung Quốc cân bằng giữa yêu cầu tự chủ chiến lược với nhu cầu duy trì tính mở của hệ thống đổi mới sáng tạo. Nếu đạt được các mục tiêu đã đề ra, Trung Quốc sẽ sở hữu một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng vận hành tương đối độc lập với các chuỗi công nghệ do phương Tây kiểm soát, qua đó củng cố đáng kể vị thế trong cạnh tranh chiến lược dài hạn.

Xa hơn, tầm nhìn đến năm 2049 gắn với mục tiêu hoàn thành “phục hưng dân tộc Trung Hoa” cho thấy tham vọng đưa 3 trụ cột này trở thành nền tảng của một siêu cường đổi mới sáng tạo toàn cầu. Tuy nhiên, triển vọng này không nên được hiểu như một kết quả tất yếu. Khả năng hiện thực hóa mục tiêu sẽ phụ thuộc vào nhiều biến số đồng thời, bao gồm việc Trung Quốc có thể vượt qua các nút thắt về công nghệ nền tảng hay không; có xử lý hiệu quả các thách thức nhân khẩu học và chất lượng nguồn nhân lực hay không; có duy trì được môi trường nghiên cứu đủ sức khuyến khích sáng tạo đột phá hay không; và đặc biệt là diễn biến của cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc với Mỹ cùng các đồng minh trong những thập niên tới. Vì vậy, xét trên phương diện học thuật, ba trụ cột liên kết này đã chứng minh hiệu quả đáng kể trong việc huy động và tích hợp các nguồn lực quốc gia để nâng cao sức mạnh tổng hợp, nhưng thành công cuối cùng của chiến lược này sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa lợi thế về quy mô thành ưu thế bền vững về chất lượng đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng trước một môi trường địa chính trị ngày càng phân cực và cạnh tranh quyết liệt.

Một số soi chiếu trong trường hợp của Việt Nam

Từ thực tiễn phát triển của Trung Quốc có thể thấy, trong bối cảnh khoa học – công nghệ đang trở thành nhân tố quyết định sức mạnh quốc gia, lợi thế cạnh tranh không còn phụ thuộc chủ yếu vào quy mô nguồn lực mà nằm ở khả năng liên kết hiệu quả giữa giáo dục, khoa học – công nghệ và nhân tài thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thống nhất, phục vụ đồng thời hai mục tiêu phát triển đất nước và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đối với Việt Nam, đây cũng là định hướng đang được thể chế hóa ngày càng rõ nét trong các chủ trương của Đảng, đặc biệt thông qua Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng các nghị quyết về đổi mới giáo dục, phát triển kinh tế tư nhân và hoàn thiện thể chế phát triển. Những định hướng này cho thấy Việt Nam đang từng bước chuyển từ tư duy coi khoa học – công nghệ là yếu tố hỗ trợ tăng trưởng sang xác lập giáo dục, khoa học – công nghệ và nhân tài là nền tảng của lực lượng sản xuất mới, của nền kinh tế độc lập, tự chủ và của sức mạnh quốc gia tổng hợp.

Trong lĩnh vực giáo dục, định hướng phát triển không chỉ dừng lại ở mở rộng quy mô đào tạo hay cung ứng nguồn nhân lực cho thị trường lao động mà cần hướng mạnh tới xây dựng nền giáo dục nền tảng, toàn diện, kết hợp hài hòa giữa tri thức, kỹ năng, bản lĩnh chính trị, ý thức công dân và trách nhiệm đối với quốc gia – dân tộc.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng tư tưởng cho chiến lược phát triển con người với triết lý giáo dục toàn diện “Đức – Trí – Thể – Mỹ”, coi đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng một quốc gia phát triển bền vững. Theo Người, giáo dục không chỉ nhằm truyền thụ tri thức mà trước hết phải bồi dưỡng đạo đức, lòng yêu nước, trách nhiệm với nhân dân và Tổ quốc; đồng thời gắn học với hành, lý luận với thực tiễn để hình thành nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước. Cùng với đó, việc rèn luyện thể chất và bồi dưỡng các giá trị văn hóa, thẩm mỹ góp phần hình thành con người phát triển toàn diện cả về trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh. Tư tưởng “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người, khẳng định giáo dục là quốc sách lâu dài, là nền tảng của phát triển quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục là cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng nền giáo dục hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, đồng thời bồi dưỡng ý thức công dân, trách nhiệm đối với quốc gia – dân tộc, góp phần củng cố nền tảng phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức thượng tôn pháp luật, năng lực hội nhập quốc tế và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh các thách thức về an ninh phi truyền thống, cạnh tranh thông tin và chuyển đổi số ngày càng gia tăng, giáo dục cần trở thành không gian bồi dưỡng năng lực số, tư duy phản biện, khả năng thích ứng toàn cầu nhưng đồng thời củng cố nền tảng lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc và nhận thức đúng đắn về con đường phát triển của đất nước, góp phần tăng cường sự đồng thuận xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việt Nam hiện duy trì mức chi cho giáo dục khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước, thuộc nhóm cao trong khu vực; kết quả PISA 2022 tiếp tục duy trì ở nhóm dẫn đầu ASEAN về Toán, Khoa học và Đọc hiểu, tạo nền tảng quan trọng để chuyển dịch từ giáo dục đại trà sang giáo dục chất lượng cao. Cùng với đó, Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành bán dẫn đến năm 2030 đặt mục tiêu đào tạo khoảng 50.000 kỹ sư, cùng việc mở rộng các chương trình đào tạo về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng và công nghệ số với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới như NVIDIA, Intel, Samsung, Synopsys và Cadence, phản ánh xu hướng gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa giáo dục, nghiên cứu và phát triển quốc gia.[16]

Đối với khoa học – công nghệ, yêu cầu đặt ra là phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam, chuyển mạnh từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ, đồng sáng tạo và từng bước hình thành năng lực nghiên cứu công nghệ nguồn. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu nâng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lên khoảng 2% GDP vào năm 2030, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển mạnh các ngành công nghệ chiến lược. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, việc tập trung vào các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch, công nghệ lượng tử và công nghệ lưỡng dụng không chỉ tạo động lực tăng trưởng mới mà còn góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào công nghệ, nền tảng số hoặc chuỗi cung ứng nước ngoài trong các lĩnh vực liên quan đến chủ quyền quốc gia. Đồng thời, quá trình hợp tác quốc tế về khoa học – công nghệ cần được triển khai theo hướng chủ động tiếp thu tinh hoa nhân loại, song song với bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, an ninh dữ liệu, an ninh công nghệ và lợi ích quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt.

Đối với nhân tài, với kim chỉ nam xuyên suốt lịch sử coi “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, trọng tâm không chỉ là thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao mà là xây dựng một hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, trọng dụng và phát huy nhân tài vì lợi ích quốc gia – dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhân tài là nguồn lực quyết định đối với sự nghiệp kiến thiết và phát triển đất nước. Người khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài” và “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, qua đó nhấn mạnh vai trò trung tâm của con người trong mọi chiến lược phát triển. Theo tư tưởng của Người, trọng dụng nhân tài không chỉ là phát hiện và thu hút người có năng lực, mà còn phải biết sử dụng đúng người, đúng việc theo nguyên tắc: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì thì đặt ngay vào việc ấy.” Đây là tư tưởng quản trị nhân tài có giá trị lâu dài, gợi mở yêu cầu xây dựng cơ chế phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài công bằng, hiệu quả, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực, cống hiến vì lợi ích quốc gia – dân tộc.

Điều này đòi hỏi sự kết nối đồng bộ giữa giáo dục, nghiên cứu, doanh nghiệp và quản trị quốc gia nhằm tạo điều kiện để đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, chuyên gia công nghệ và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cùng tham gia vào quá trình phát triển đất nước. Bên cạnh các cơ chế thu hút chuyên gia, tăng quyền tự chủ cho các tổ chức khoa học và công nghệ, cần tiếp tục xây dựng môi trường nghiên cứu minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm để tài năng được phát huy trên cơ sở cống hiến và phụng sự Tổ quốc. Đây cũng là điều kiện quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nguồn lực xã hội trong thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.

Về dài hạn, kinh nghiệm quốc tế cho thấy năng lực cạnh tranh của một quốc gia không chỉ được đo bằng số lượng bằng sáng chế, quy mô đầu tư cho nghiên cứu hay vị trí trên các bảng xếp hạng quốc tế, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa tri thức thành năng lực tự chủ, sức mạnh nội sinh và chất lượng phát triển. Đối với Việt Nam, việc phát triển đồng bộ giáo dục, khoa học – công nghệ và nhân tài cần tiếp tục gắn chặt với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, củng cố quốc phòng, an ninh, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số. Quá trình này cần lấy con người làm trung tâm, coi chất lượng đổi mới sáng tạo, hiệu quả đóng góp cho xã hội, sự tiến bộ và công bằng xã hội là thước đo của phát triển, thay vì chạy theo các chỉ tiêu định lượng hay thành tích ngắn hạn. Chỉ khi ba trụ cột giáo dục, khoa học – công nghệ và nhân tài được phát triển trên nền tảng tư duy dài hạn, gắn với lợi ích quốc gia – dân tộc, trách nhiệm xã hội và khát vọng phát triển đất nước, chúng mới thực sự trở thành động lực cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố nền tảng phát triển bền vững và tăng cường sức mạnh quốc gia trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Kết luận

Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc không đơn thuần là mô hình quản trị kỹ trị, mà mang bản chất của một quyết định luận lịch sử chuyển hóa cấu trúc quyền lực. Bản thể luận của chiến lược này cấu thành từ việc chuyển hóa tri thức và con người thành vũ khí địa chính trị tối cao. Trung Quốc đang vận hành một hệ thống tập quyền đại học – doanh nghiệp để nội lực hóa hạ tầng tri thức cốt lõi, nhằm giải quyết nghịch lý phụ thuộc ngoại sinh bằng cách biến nhân tài thành các thực thể lưỡng dụng phục vụ an ninh quốc gia. Chiến lược số hóa triệt để và triển vọng đang đẩy mô hình này đến một tiệm cận lịch sử mới nơi quyền lực cứng được nuôi dưỡng bằng hạ tầng chất xám độc lập. Sự thành bại của chỉnh thể này sẽ trực tiếp định hình một trật tự lưỡng cực tri thức mới trong thế kỷ XXI, nơi an ninh không còn đo bằng biên giới, mà bằng độ sâu của chuỗi cung ứng nhân tài độc quyền./.

Tác giả: Trương Quốc Lượng

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]

Tài liệu tham khảo

[1] 共产党员网. (2023). 《党的二十大报告》音频版 | 实施科教兴国战略,强化现代化建设人才支撑. https://www.12371.cn/2023/06/20/ARTI1687246537015158.shtml

[2] Thanh Lan. (2025). Trung Quốc: Đổi mới giáo dục nhờ AI. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/trung-quoc-doi-moi-giao-duc-nho-ai-post866756.html

[3] State Council Information Office of the People’s Republic of China. (2026). China unveils major development targets for 2026-2030. http://english.scio.gov.cn/topnews/2026-03/05/content_118362307.html

[4] An, B., Xu, P., An, J., & Li, C. (2026). Trinity of education, technology, and talent: China’s path to innovation. Journal of China Economics, 4(16), 1–28. https://www.jcejournal.com.cn/EN/Y2025/V4/I16/1

[5] Ministry of Education of the People’s Republic of China. (2022). China to further promote the Double First-Class Initiative. http://en.moe.gov.cn/news/press_releases/202203/t20220301_603547.html

[6] Zou Shuo. (2025). Nation seeks to elevate its higher education system. China Daily. https://www.chinadaily.com.cn/a/202512/25/WS694c7a06a310d6866eb3052f.html

[7] Zwetsloot, R., Corrigan, J., Weinstein, E. S., Peterson, D., Gehlhaus, D., & Fedasiuk, R. (2021). China is fast outpacing U.S. STEM PhD growth (CSET Data Brief). Center for Security and Emerging Technology, Georgetown University. https://cset.georgetown.edu/wp-content/uploads/China-is-Fast-Outpacing-U.S.-STEM-PhD-Growth.pdf

[8] CGTN. (2026). China’s R&D spending hits record high: Minister. https://news.cgtn.com/news/2026-03-06/China-s-R-D-spending-hits-record-high-minister-1LhJ0QFhMyY/p.html

[9] Aaron Wininger. (2025). China Remains Top Source of Patent Cooperation Treaty (PCT) Applications in 2024. China IP Law Update. https://www.chinaiplawupdate.com/2025/03/china-again-remains-top-source-of-patent-cooperation-treaty-pct-applications-in-2024/

[10] Anh Vũ. (2025). Trung Quốc: Thu hút nhân tài khoa học hồi hương. Báo Tia Sáng. https://tiasang.com.vn/trung-quoc-thu-hut-nhan-tai-khoa-hoc-hoi-huong-5038698.html

[11] Xinhua. (2025). Chinese sci-tech minister outlines innovation plans for 2026–2030 period. The State Council of the People’s Republic of China. https://english.www.gov.cn/news/202510/24/content_WS68fb6f9bc6d00ca5f9a07016.html

[12] Li, J. (2022). Three more China chip fund executives caught in corruption probe into state-backed investments. South China Morning Post. https://www.scmp.com/tech/policy/article/3188380/three-more-china-chip-fund-executives-caught-corruption-probe-state

[13] National Bureau of Statistics of China. (2026). Statistical communiqué of the People’s Republic of China on the 2025 national economic and social development. https://www.stats.gov.cn/english/PressRelease/202602/t20260228_1962661.html

[14] Trung Hiếu. (2023). Máy bay chở khách C919 do Trung Quốc chế tạo và cuộc cạnh tranh với Mỹ. VOV. https://vov.vn/the-gioi/quan-sat/may-bay-cho-khach-c919-do-trung-quoc-che-tao-va-cuoc-canh-tranh-voi-my-post1024123.vov

[15] 孙凝晖. (2022). 新型举国体制下对国家重点实验室重组的战略思考, 37(12): 1833-1839. http://old2022.bulletin.cas.cn/publish_article/2022/12/20221216.htm

[16] Thu Phương. (2026). Chính sách mở lối cho ngành công nghiệp bán dẫn. Báo Tin tức. https://baotintuc.vn/thuc-hien-nghi-quyet-57/chinh-sach-mo-loi-cho-nganh-cong-nghiep-ban-dan-20260207082514085.htm

Tags: công nghệgiáo dụcphát triển nhân tàiTrung Quốc
ShareTweetShare
Bài trước

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần cuối)

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/09/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc trong cấu trúc an ninh và phát triển

Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc trong cấu trúc an ninh và phát triển

07/09/2026
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần cuối)

05/09/2026
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

04/09/2026
Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

02/09/2026
Sáu tháng xung đột Mỹ, Israel – Iran: Được và mất của các bên

Sáu tháng xung đột Mỹ, Israel – Iran: Được và mất của các bên

31/08/2026
Ngã ba Đông Dương trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay và những hàm ý đối với phát triển khu vực

Ngã ba Đông Dương trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay và những hàm ý đối với phát triển khu vực

29/08/2026
Tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine và một số gợi mở

Tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine và một số gợi mở

27/08/2026
Sẽ nguy hiểm nếu đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Trung Quốc

Sẽ nguy hiểm nếu đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Trung Quốc

25/08/2026

Tin Mới

Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc trong cấu trúc an ninh và phát triển

Chiến lược liên kết Giáo dục – Công nghệ – Nhân tài của Trung Quốc trong cấu trúc an ninh và phát triển

07/09/2026
8
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần cuối)

05/09/2026
112
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

04/09/2026
128
Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

02/09/2026
81

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Podcasts
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • Tiêu điểm
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.