Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Phân tích

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần cuối)

05/09/2026
in Phân tích, Quốc phòng - an ninh
A A
0
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)
0
SHARES
0
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

TIẾP NỘI DUNG PHẦN ĐẦU

Đánh giá về sức mạnh tổng thể quốc gia của Mỹ hiện nay

Sức mạnh tổng thể của Mỹ hiện nay

Sức mạnh cứng

Về sức mạnh quân sự: Với lực lượng quân sự đông đảo, đặc biệt là Mỹ đã có nhiều kinh nghiệm trong việc triển khai một lượng lớn quân đội ở nước ngoài, thông qua 750 căn cứ quân sự đặt bên ngoài lãnh thổ Mỹ. Trên đại dương, Mỹ có các hạm đội hải quân quy mô lớn có khả năng viễn chinh mạnh. Và không thể không nhắc đến năng lực không quân tầm xa của siêu cường này. Đến nay, Mỹ vẫn duy trì được khả năng gây áp lực quân sự tới bất cứ quốc gia, khu vực nào trên trái đất. Mạng lưới hậu cần quân sự đã được Mỹ trải khắp hành tinh kể từ sau thế chiến thứ hai. Hơn nữa, Mỹ còn có khả năng huy động lực lượng quân sự của các đồng minh phục vụ cho chiến lược của họ. Đây là một điểm cần lưu tâm trong sức mạnh quân sự của Mỹ. Họ có thể dùng sức mạnh cứng của chính các quốc gia đồng minh để bổ sung cho sức mạnh cứng của chính mình.

Tiếp theo, yếu tố cần có của một siêu cường là năng lực răn đe hạt nhân, Mỹ tiếp tục hiện đại hóa bộ ba răn đe hạt nhân với các chương trình như tên lửa đạn đạo liên lục địa thế hệ mới Sentinel (5,3 tỷ USD ngân sách R&D năm 2026)[1] và một hợp đồng khổng lồ trị giá hơn 76 tỷ USD để mua 9 tàu ngầm tấn công lớp Virginia Block VI và 5 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo lớp Columbia[2] (lớp tàu ngầm hạt nhân được kỳ vọng sẽ thay thế lớp Ohio). Tuy nhiên, như đã trình bày, năng lực răn đe chiến lược của Mỹ đang có dấu hiệu giảm, bộ ba hạt nhân của Mỹ đang chuyển dần sang việc sử dụng các đầu đạn hạt nhân có đương lượng nổ nhỏ và trung bình, Mỹ hoàn toàn không sử dụng các đầu đạn có đương lượng nổ lớn. Sức răn đe hạt nhân của Mỹ đang dần lùi về khả năng răn đe mang tính chiến thuật.

Thứ ba, với học thuyết quân sự của Mỹ, siêu cường này vẫn chú trọng nhiều vào việc xây dựng các lực lượng đặc biệt có khả năng triển khai các chiến dịch chớp nhoáng. Mỹ có khả năng tập trung mọi nguồn lực, thế mạnh về công nghệ, tình báo, sức ép ngoại giao, kết hợp với các đòn phủ đầu, tấn công vào đầu não của đối phương. Do vậy, trong một trận chiến ngắn ngủi, Mỹ có lợi thế lớn. Nhưng nếu các đối thủ có khả năng buộc Mỹ phải kéo dài chiến tranh, thế mạnh quân sự của Mỹ sẽ bị suy yếu. Cũng có thể nói rằng, Mỹ chú trọng phát triển sức mạnh cứng theo “điểm”, chưa thực sự ưu tiên phát triển theo “diện”.

Một điểm hạn chế khác cần nhắc lại, nền tảng công nghiệp quốc phòng của Mỹ, đặc biệt trong các chương trình vũ khí mang tính chiến lược đang bộc lộ độ trễ đáng kể so với nhu cầu răn đe đa mặt trận hiện nay. Khi gặp đối thủ mạnh, chịu thiệt hại nặng, quá trình phục hồi sức mạnh cứng của Mỹ đang có vấn đề. Bên cạnh đó, quy mô lực lượng thường trực (khoảng 1,3 triệu quân tại ngũ) đang chịu áp lực tuyển quân ngày càng khó khăn trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh và một bộ phận thế hệ trẻ Mỹ có xu hướng ít mặn mà với nghĩa vụ quân sự.

Về sức mạnh kinh tế: Mỹ vẫn là nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo GDP danh nghĩa, tiếp tục dẫn đầu về đổi mới sáng tạo công nghệ (đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, bán dẫn thiết kế, công nghệ sinh học), sở hữu đồng USD vẫn giữ vai trò đồng tiền dự trữ, thanh toán quốc tế chủ đạo. Về khả năng chi cho quốc phòng của Mỹ, ngân sách quốc phòng Mỹ năm tài khóa 2026 đạt khoảng 1.045 tỷ USD (bao gồm 893 tỷ USD ngân sách thường niên và 152,3 tỷ USD bổ sung qua đạo luật hòa giải ngân sách), tương đương khoảng 3,4% GDP[3] – cao hơn nhiều so với ngưỡng 2% GDP mà NATO yêu cầu các thành viên, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức đỉnh 13,9% GDP năm 1952 hay mức trung bình lịch sử 5,9% GDP. Theo số liệu SIPRI, chi tiêu quốc phòng Mỹ năm 2025 (khoảng 954 tỷ USD) chiếm khoảng 33-34% tổng chi tiêu quân sự toàn cầu – lớn hơn tổng chi tiêu quốc phòng của 9 quốc gia xếp sau cộng lại, và gấp khoảng 3 lần ngân sách quốc phòng chính thức của Trung Quốc[4] (khoảng 277-336 tỷ USD, dù SIPRI ước tính chi tiêu thực tế của Trung Quốc có thể lên tới 330-450 tỷ USD nếu tính đầy đủ các khoản ẩn).

Tuy nhiên, điểm yếu mang tính cấu trúc ngày càng rõ nét là nợ công: tỷ lệ nợ công/GDP đã vượt mốc 120% vào đầu năm 2025 – so với chỉ hơn 30% vào đầu thập niên 1980 thời Reagan. Hiện nay, nợ công của Mỹ đã chạm ngưỡng 40.000 tỷ đô la – tạo áp lực tài khóa lớn, buộc phải cân đối gay gắt giữa chi tiêu quốc phòng, phúc lợi xã hội và trả nợ. Đây là lý do vì sao giới chuyên gia ngân sách quốc phòng cảnh báo ngân sách FY2027 có thể phải cắt giảm mạnh, ngay cả sau khi FY2026 vừa được nâng lên mức kỷ lục.

Ngoài khả năng cung ứng tài chính cho quốc phòng, Mỹ cũng có khả năng tổ chức chiến tranh kinh tế, làm suy yếu các nguồn lực kinh tế của đối thủ. Đây là công cụ Mỹ vẫn thường sử dụng trong các cuộc chiến trong quá khứ, hiện tại và tất nhiên là cả tương lai sau này. Vấn đề của Mỹ hiện nay là một chiến lược ngăn chặn Trung Quốc, và Nga cùng các nước phi phương Tây xây dựng một trật tự kinh tế mới, thoát khỏi mô hình ảnh hưởng của Mỹ.

Sức mạnh mềm (soft power)

Sức mạnh mềm của Mỹ – vốn từng được xem là tài sản chiến lược độc nhất vô nhị, dựa trên hệ thống giá trị dân chủ, tự do, mô hình giáo dục đại học hàng đầu thế giới, ngành công nghiệp văn hóa – giải trí toàn cầu (Hollywood, âm nhạc, công nghệ truyền thông xã hội) – đang cho thấy dấu hiệu suy giảm tương đối trong giai đoạn 2025-2026, xuất phát từ một số yếu tố:

Một là, cách tiếp cận đối ngoại theo hướng đơn phương, tạo quá nhiều ràng buộc và gây sức ép chính trị trong các quan hệ đồng minh (điển hình là việc gắn viện trợ, tình báo cho Ukraine với các điều kiện chính trị cụ thể; hay việc công khai theo đuổi ý tưởng sáp nhập Greenland từ Đan Mạch – một đồng minh NATO thân cận) đã làm suy giảm hình ảnh Mỹ như một đối tác an ninh đáng tin cậy trong con mắt nhiều đồng minh truyền thống.

Hai là, việc sử dụng lực lượng quân sự để trực tiếp can thiệp, bắt giữ nguyên thủ quốc gia có chủ quyền (trường hợp Maduro) – dù được biện minh bằng cáo buộc buôn bán ma túy, khủng bố – đã làm dấy lên tranh cãi pháp lý và nhân quyền quốc tế về tính hợp pháp của việc sử dụng vũ lực đơn phương, gợi lại học thuyết “Monroe mới” mang tính can thiệp vào công việc nội bộ khu vực Mỹ Latinh, có nguy cơ làm xói mòn hình ảnh “ngọn hải đăng dân chủ” mà Mỹ vẫn tự nhận.

Ba là, những bất ổn chính trị nội bộ. Cuối năm 2025, các bất đồng trong giới tinh hoa đã gây tác động tới sự vận hành của chính phủ Mỹ, khiến chính phủ liên bang phải đóng cửa một đợt dài nhất lịch sử Mỹ. Các cơ quan liên bang đã đình trệ hoạt động kể từ khi Quốc hội không thể phê duyệt ngân sách vào ngày 30/9 năm nay. Tình trạng bế tắc về ngân sách này đang leo thang thành một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đe dọa tới việc thực thi các chính sách[5]. Những biểu hiện này tạo ấn tượng về một hệ thống chính trị đang gặp khó khăn trong việc duy trì tính ổn định, hiệu quả quản trị – một trong những trụ cột quan trọng của sức mạnh mềm kiểu Mỹ trước đây.

Dù vậy, cần nhìn nhận sức mạnh mềm của Mỹ vẫn còn những trụ cột rất vững chắc mà chưa quốc gia nào có thể thay thế trong ngắn – trung hạn: sức hút từ hệ thống giáo dục đại học toàn cầu vẫn tiếp tục thu hút hàng trăm nghìn du học sinh quốc tế mỗi năm; vị thế dẫn đầu toàn cầu về đổi mới công nghệ, đặc biệt là làn sóng phát triển trí tuệ nhân tạo tạo sinh (generative AI) do các tập đoàn công nghệ Mỹ dẫn dắt; mạng lưới liên minh quân sự – kinh tế rộng khắp (NATO, các hiệp ước song phương ở châu Á) vẫn được duy trì dù có những trục trặc cục bộ; đồng USD vẫn thống trị hệ thống tài chính – thương mại toàn cầu. Và điều quan trọng, có những lĩnh vực gây ảnh hưởng mạnh không phải vì sự ưu việt tự thân của nó, mà sức hút đó được tạo ra một phần bởi mạng lưới truyền thông hùng mạnh của Mỹ.

Cụ thể hơn, về sức mạnh khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo: Đây tiếp tục là một trong những trụ cột vững chắc nhất của sức mạnh tổng thể quốc gia Mỹ, thể hiện qua việc phần lớn các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, bán dẫn thiết kế (dù sản xuất phần lớn đặt tại Đài Loan, Hàn Quốc) đều có trụ sở tại Mỹ, thu hút phần lớn dòng vốn đầu tư mạo hiểm toàn cầu vào công nghệ cao. Tuy nhiên, điểm hạn chế nằm ở sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bán dẫn tiên tiến từ bên ngoài (đặc biệt là năng lực sản xuất chip tiên tiến nhất vẫn tập trung tại Đài Loan) – một điểm dễ tổn thương chiến lược nếu xảy ra biến động lớn, đồng thời cũng lý giải vì sao Mỹ đặc biệt coi trọng việc duy trì ổn định tại khu vực này như một phần của chiến lược bảo vệ chuỗi cung ứng công nghệ then chốt.

Về sức mạnh ngoại giao và mạng lưới liên minh: Mỹ vẫn duy trì mạng lưới liên minh, đối tác rộng khắp nhất thế giới (NATO với 32 thành viên, các hiệp ước phòng thủ song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Australia, cùng hệ thống đối tác chiến lược đang mở rộng ở Đông Nam Á, Nam Á). Đây là tài sản chiến lược mà không đối thủ cạnh tranh nào (kể cả Trung Quốc) có thể sánh được về quy mô và độ sâu hợp tác quân sự – an ninh. Tuy nhiên, như đã phân tích, việc gắn viện trợ và hợp tác an ninh với các điều kiện chính trị ngày càng rõ nét (trường hợp Ukraine), cùng xu hướng gia tăng yêu cầu đồng minh phải chia sẻ gánh nặng tài chính nhiều hơn, đang tạo ra những vướng mắc nhất định trong quan hệ với một số đồng minh truyền thống, đặc biệt tại châu Âu, thúc đẩy các cuộc thảo luận nội bộ EU về việc tăng cường “quyền tự chủ chiến lược”, giảm bớt sự phụ thuộc an ninh vào Mỹ trong dài hạn.

Về sức mạnh dân số và nguồn nhân lực: Dân số là một yếu tố quan trọng cấu thành quyền lực của một quốc gia. So với các đối thủ cạnh tranh chiến lược chính, Mỹ có lợi thế về cơ cấu dân số tương đối trẻ hơn (nhờ dòng nhập cư liên tục) so với Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc – những nước đang đối mặt với già hóa dân số nhanh. Đây là lợi thế dài hạn quan trọng cho tiềm lực kinh tế – quân sự của Mỹ đến giữa thế kỷ XXI. Tuy nhiên, chính sách nhập cư ngày càng thắt chặt dưới chính quyền hiện nay có thể làm suy giảm phần nào lợi thế nhân khẩu học này về trung – dài hạn nếu không được cân đối hợp lý với nhu cầu thu hút nhân tài, lao động kỹ thuật cho các ngành công nghiệp then chốt, bao gồm cả công nghiệp quốc phòng.

Dự báo xu hướng phát triển của Mỹ đến năm 2030 và tầm nhìn 2045

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các xu hướng đã bộc lộ, có thể đưa ra một số dự báo như sau:

Đến năm 2030: Trên danh nghĩa tương đối, Mỹ vẫn sẽ tiếp tục duy trì vị trí siêu cường quân sự số một thế giới ở khía cạnh: chi tiêu quốc phòng tuyệt đối và năng lực triển khai lực lượng toàn cầu, nhưng khoảng cách tương đối so với Trung Quốc về năng lực công nghiệp quốc phòng công nghệ cao sẽ tiếp tục thu hẹp nếu Mỹ không giải quyết được các điểm nghẽn cấu trúc về công nghiệp quốc phòng đã phân tích ở trên. Riêng các lĩnh vực đóng tàu hải quân, tên lửa siêu vượt âm và quy mô sản xuất quân sự, Trung Quốc sẽ từng bước vượt qua Mỹ. Năng lực răn đe của Mỹ cơ bản sẽ không thay đổi quá nhiều, và quá trình hiện đại hóa lực lượng quân sự của Mỹ cũng khó có thể đạt được các bước tiến lớn trong thời gian ngắn như vậy. Hơn nữa, quá trình phục hồi của Mỹ sau các hoạt động quân sự vừa qua cũng sẽ kéo lùi tốc độ hiện đại hóa quân sự của Mỹ, các dự án tham vọng mới có khả năng sẽ chậm trễ, thậm chí bị đình chỉ.

Nợ công tiếp tục là biến số rủi ro rất lớn, dự báo sẽ chạm ngưỡng 50.000 tỷ đô la nợ công vào năm 2030. Nước Mỹ sẽ ngày càng chia rẽ bởi mâu thuẫn giữa ‘áp lực buộc phải cắt giảm ngân sách quốc phòng’ trong khi vẫn phải ‘duy trì cam kết răn đe đa khu vực’ (châu Âu, Trung Đông, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, và có thể cả Tây Bán cầu sau tiền lệ Venezuela) sẽ ngày càng gay gắt. Washington sẽ phải lựa chọn ưu tiên chiến lược rõ ràng hơn, có thể theo hướng giảm can dự trực tiếp ở một số khu vực để tập trung nguồn lực cho khu vực được coi là ưu tiên cao nhất (nhiều khả năng vẫn là Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, do đây là nơi diễn ra cạnh tranh chiến lược dài hạn với Trung Quốc). Kịch bản nhiều khả năng xảy ra là mọi thứ đều tăng: nợ công vẫn gia tăng, ngân sách quốc phòng vẫn gia tăng, sự can dự của Mỹ ngoài lãnh thổ gia tăng và sự chia rẽ trong lòng nước Mỹ cũng sẽ gia tăng.

Về công nghệ, giai đoạn 2026-2030 sẽ chứng kiến việc quân đội Mỹ đẩy nhanh tích hợp AI vào hệ thống chỉ huy – kiểm soát, tác chiến không người lái quy mô lớn, nhằm bù đắp một phần cho hạn chế về quy mô lực lượng con người và tốc độ sản xuất vũ khí truyền thống – đây được xem là hướng đi chiến lược để duy trì ưu thế bất đối xứng trước đối thủ có ưu thế về quy mô sản xuất công nghiệp truyền thống.

Tầm nhìn đến 2045: Với giả định không có thay đổi đột biến (chiến tranh lớn trực tiếp giữa các cường quốc, khủng hoảng tài chính đặc biệt nghiêm trọng, hoặc đột phá công nghệ mang tính cách mạng làm thay đổi hoàn toàn bản chất chiến tranh), nhiều khả năng cục diện so sánh sức mạnh tổng thể quốc gia trên toàn cầu sẽ dịch chuyển theo hướng đa cực hóa rõ nét hơn. Trong cục diện đó, Mỹ và Trung Quốc có thể tạo ra một mạng lưới quyền lực cân bằng, Nga cũng sẽ là một đối trọng lớn về mặt quân sự, khoa học và chính trị mặc dù có sức mạnh kinh tế yếu hơn hai siêu cường còn lại. Có nghĩa rằng, Mỹ không còn là một cực mạnh nhất, có vị thế áp đảo tuyệt đối như giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh. Washington sẽ phải chia sẻ không gian ảnh hưởng chiến lược với Trung Quốc và ở mức độ thấp hơn là với các cực quyền lực khu vực khác (như Nga, Ấn Độ, một Liên minh châu Âu có thể tự chủ quốc phòng hơn). Yếu tố quyết định quỹ đạo phát triển của Mỹ trong giai đoạn này sẽ là khả năng giải quyết bài toán nợ công, khả năng tái thiết nền tảng công nghiệp quốc phòng và duy trì vị thế dẫn đầu công nghệ (đặc biệt AI, bán dẫn, công nghệ lượng tử) và đặc biệt là khả năng bảo vệ vị thế của đồng đô la trước sự cạnh tranh quyết liệt từ Trung Quốc.

Nhưng nếu xuất hiện một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi trong thập niên tới, mọi chuyện có thể đảo lộn phụ thuộc vào các diễn biến chiến tranh.

Có thể hình dung ba kịch bản chính cho quỹ đạo phát triển sức mạnh tổng thể quốc gia Mỹ đến năm 2030 và hướng tới 2045:

Kịch bản thứ nhất (khả năng cao nhất) – “Điều chỉnh và thích nghi”: Mỹ tiến hành cải cách từng bước nền tảng công nghiệp quốc phòng, kiểm soát dần đà tăng nợ công (thực tế là nỗ lực “giảm gia tốc”, chứ không thể chấm dứt quá trình tăng) thông qua cắt giảm chi tiêu có chọn lọc, đồng thời tiếp tục duy trì ưu thế công nghệ – quân sự tổng thể nhưng với biên độ vẫn bị thu hẹp dần so với Trung Quốc. Sức mạnh mềm phục hồi một phần khi các đồng minh dần thích nghi với phong cách đối ngoại thực dụng mới của Mỹ, miễn là Washington duy trì được tính nhất quán tối thiểu trong các cam kết an ninh cốt lõi.

Kịch bản thứ hai (ngắn hạn khó xảy ra, nhưng trung hạn có thể xảy ra)– “quá trình suy giảm bắt đầu tăng tốc”. Áp lực tài khóa từ nợ công buộc Mỹ phải cắt giảm mạnh ngân sách quốc phòng trong khi các điểm nghẽn công nghiệp chưa được giải quyết dứt điểm, kết hợp với việc tiếp tục xói mòn lòng tin của đồng minh do chính sách áp đặt cực đoan, dẫn đến việc một số đồng minh chủ chốt (đặc biệt tại châu Âu) đẩy nhanh quá trình tự chủ chiến lược, làm suy giảm đáng kể mạng lưới liên minh – vốn là một trụ cột quan trọng của sức mạnh tổng thể quốc gia Mỹ. Đồng thời, các đối thủ của Mỹ tạo ra một bước phát triển đột phá gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức ảnh hưởng của Mỹ.

Kịch bản thứ ba (kịch bản khó xảy ra nhất) – “Củng cố mạnh mẽ”: Một cú sốc chiến lược lớn mà ở đó, Mỹ có thể giành lợi thế (ví dụ khủng hoảng nghiêm trọng tại eo biển Đài Loan) tạo động lực chính trị đủ mạnh để Quốc hội Mỹ đồng thuận thông qua các gói đầu tư quy mô lớn, dài hạn cho công nghiệp quốc phòng và hiện đại hóa quân đội tương tự như giai đoạn đầu Chiến tranh Lạnh, giúp Mỹ củng cố nhanh chóng năng lực răn đe và duy trì vị thế dẫn đầu công nghệ quân sự trong nhiều thập kỷ tới.

Trong cả ba kịch bản, một điểm chung có thể dự báo với độ tin cậy tương đối cao là: Mỹ sẽ tiếp tục là cường quốc quân sự – kinh tế hàng đầu thế giới ít nhất đến năm 2045, nhưng mức độ áp đảo tuyệt đối sẽ không còn; thay vào đó là một trật tự đa cực ngày càng cân bằng, Mỹ không còn là số 1 duy nhất, thậm chí phải nhượng bộ, chia sẻ ảnh hưởng chiến lược tại một số khu vực, lĩnh vực cụ thể với Trung Quốc và các cường quốc khu vực khác. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Trung Quốc hay một đối thủ khác có thể dễ dàng soán ngôi Mỹ trong ngắn hạn. Sự va chạm toàn diện gia tăng giữa các trung tâm quyền lực thời gian tới sẽ làm bức tranh chính trị quốc tế sẽ trở nên ngột ngạt hơn.

Tác động, ảnh hưởng đối với cục diện thế giới, khu vực và Việt Nam

Đối với cục diện thế giới: Cách tiếp cận gây áp lực mạnh trong các mối quan hệ đồng minh và sẵn sàng sử dụng vũ lực đơn phương, kể cả nhằm vào các mục tiêu có chủ quyền quốc gia (Iran, Venezuela) khi được coi là cần thiết cho lợi ích Mỹ, đang góp phần định hình lại trật tự quốc tế theo hướng thực dụng hơn, ít bị ràng buộc bởi các chuẩn mực đa phương truyền thống. Điều này vừa tạo cơ hội cho Mỹ hành động linh hoạt, quyết đoán hơn trong ngắn hạn, vừa tiềm ẩn rủi ro làm gia tăng tâm lý bất an chiến lược ở nhiều quốc gia vừa và nhỏ, thúc đẩy xu hướng đa dạng hóa quan hệ đối ngoại – an ninh, giảm phụ thuộc vào một cường quốc duy nhất, đồng thời có thể khuyến khích một số nước đẩy nhanh chương trình phát triển vũ khí hạt nhân hoặc năng lực răn đe riêng để tự bảo vệ trước rủi ro bị can thiệp tương tự.

Đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Việc Mỹ phải phân tán một phần đáng kể nguồn lực chiến lược (như 35% phi đội B-2) cho các chiến dịch ở Trung Đông và Tây Bán cầu trong giai đoạn 2025-2026 có thể tạo ra khoảng trống tạm thời hoặc làm chậm tốc độ tăng cường hiện diện quân sự của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương so với kế hoạch, tạo dư địa để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng, đặc biệt tại các khu vực tranh chấp như Biển Đông, eo biển Đài Loan. Đồng thời, tiền lệ về việc Mỹ sẵn sàng dùng vũ lực quyết đoán, chớp nhoáng để đạt mục tiêu chiến lược cụ thể (như trường hợp Venezuela) cũng gửi đi tín hiệu răn đe nhất định tới các đối thủ tiềm tàng trong khu vực.

Đối với Việt Nam: Là quốc gia theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và chủ trương “bốn không” về quốc phòng, những diễn biến trên đặt ra cả cơ hội và thách thức cho Việt Nam. Về cơ hội, việc quan hệ Việt – Mỹ tiếp tục được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện (từ năm 2023) tạo nền tảng thuận lợi để Việt Nam tranh thủ hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục với Mỹ, đồng thời có thể tham khảo kinh nghiệm về hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, đào tạo nhân lực chất lượng cao. Về thách thức, tính bất định, khó đoán định trong chính sách đối ngoại – an ninh của Mỹ dưới cách tiếp cận “bề trên” với các đối tác đòi hỏi Việt Nam phải đặc biệt thận trọng, tránh lệ thuộc chiến lược vào bất kỳ đối tác nào, kiên trì đường lối cân bằng quan hệ với các nước lớn, đồng thời phải tính đến rủi ro bị cuốn vào cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ngày càng gay gắt tại khu vực.

Khuyến nghị chính sách, giải pháp của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ

Thứ nhất, tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, không chọn bên trong cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung, chủ động, tích cực làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt – Mỹ trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau, không để quan hệ song phương trở thành công cụ trong cạnh tranh nước lớn. Duy trì mối quan hệ song phương trên cơ sở phát triển lợi ích chính đáng của hai nước, không ảnh hưởng tới lợi ích chính đáng của bên thứ ba.

Thứ hai, tận dụng hợp lý các lĩnh vực hợp tác cùng có lợi với Mỹ (kinh tế – thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục – đào tạo, khắc phục hậu quả chiến tranh, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh biển) trong khi duy trì thận trọng, đánh giá kỹ lưỡng đối với các đề xuất hợp tác quốc phòng – an ninh nhạy cảm, đảm bảo phù hợp với nguyên tắc “bốn không” và lợi ích chiến lược lâu dài của đất nước. Hiện nay, các mô hình hợp tác an ninh “tiểu đa phương” đang được Mỹ tích cực thúc đẩy, Việt Nam cần tiếp cận một cách thận trọng, chủ động điều hướng nội hàm hợp tác, đưa các cơ chế hợp tác trong tương lai vận hành theo đúng quỹ đạo đường lối đối ngoại truyền thống của Việt Nam.

Thứ ba, chủ động nghiên cứu, theo dõi sát diễn biến chính sách đối ngoại – an ninh của Mỹ (vốn đang có nhiều biến động, khó đoán định hơn giai đoạn trước), xây dựng các kịch bản ứng phó linh hoạt, tránh bị động trước những thay đổi đột ngột trong chính sách của các đời chính quyền Mỹ kế tiếp. Các chương trình hợp tác dài hạn với Mỹ cần tính tới kịch bản có thể bị đảo ngược bởi ý chí chính trị của các nhiệm kỳ Tổng thống kế tiếp, từ đó xây dựng các lộ trình và nội hàm hợp tác phù hợp, giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bị đình trệ, gián đoạn.

Thứ tư, đẩy mạnh tự chủ chiến lược thông qua việc củng cố nội lực đất nước trên mọi phương diện – kinh tế, quốc phòng, khoa học công nghệ, đối ngoại – làm nền tảng vững chắc để duy trì vị thế độc lập, tự chủ trong quan hệ với các nước lớn, không để bất kỳ biến động nào trong quan hệ song phương với Mỹ (hoặc với bất kỳ đối tác nào khác) ảnh hưởng tới ổn định chiến lược của đất nước. Trong ngắn hạn, Việt Nam có thể ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực có thể đem lại các nguồn lực cho chiến lược tự chủ trong tương lai, hạn chế các lĩnh vực không tạo ra các giá trị lâu dài.

Thứ năm, tích cực tham gia, đóng góp có trách nhiệm vào các cơ chế đa phương khu vực (ASEAN, các diễn đàn an ninh khu vực) nhằm thúc đẩy xây dựng, củng cố trật tự khu vực dựa trên khuôn khổ luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình – qua đó góp phần kiềm chế xu hướng sử dụng vũ lực đơn phương giải quyết tranh chấp quốc tế mà một số diễn biến gần đây (như trường hợp Venezuela) đã bộc lộ, đồng thời bảo vệ tốt hơn lợi ích của các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam.

Thứ sáu, tăng cường công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo về nước Mỹ trong đội ngũ các cơ quan nghiên cứu, tham mưu chiến lược, các viện nghiên cứu quan hệ quốc tế của Việt Nam, xây dựng cơ chế theo dõi, cập nhật thường xuyên các diễn biến trong chính sách đối nội – đối ngoại, quốc phòng – an ninh của Mỹ, qua đó nâng cao chất lượng công tác tham mưu, hoạch định chính sách đối với Mỹ nói riêng và với các nước lớn nói chung, bảo đảm tính chủ động, kịp thời trong ứng phó trước những biến động nhanh, khó lường của tình hình quốc tế.

Thứ bảy, trong hợp tác kinh tế – thương mại với Mỹ – lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với sức mạnh tổng thể quốc gia và cũng là lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các biện pháp thuế quan, kiểm soát xuất khẩu công nghệ mà chính quyền Mỹ hiện nay áp dụng khá thường xuyên – Việt Nam cần tiếp tục đàm phán, xử lý hài hòa các vấn đề thương mại song phương trên tinh thần cùng có lợi, minh bạch, đồng thời đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa chuỗi cung ứng để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc quá mức vào một thị trường, một đối tác kinh tế duy nhất, kể cả đó là nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Thứ tám, về hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, giáo dục – đào tạo và giao lưu nhân dân – những lĩnh vực đã và đang là nền tảng vững chắc, ít gây tranh cãi nhất trong quan hệ Việt – Mỹ, cần tiếp tục được ưu tiên thúc đẩy, mở rộng, coi đây là “vùng đệm chiến lược” giúp duy trì đà phát triển tích cực của quan hệ song phương ngay cả trong những giai đoạn quan hệ chính trị – an ninh có thể xuất hiện biến động, khác biệt. Tuy nhiên, hợp tác trên các lĩnh vực này cần bảo đảm gìn giữ được bản sắc riêng Việt Nam, tránh nguy cơ bị Mỹ hóa văn hóa, mất tự chủ về tính định hướng giáo dục.

Kết luận

Các hoạt động quân sự gần đây có liên quan tới Mỹ như hỗ trợ tình báo, nguồn lực quân sự cho Ukraine, chiến dịch chớp nhoáng bắt giữ Tổng thống Venezuela, và các hoạt động quân sự chống lại Iran – đã phác họa một bức tranh Quân đội Mỹ vẫn còn ưu thế về công nghệ, tình báo, khả năng triển khai lực lượng toàn cầu và tổ chức tác chiến liên ngành, vừa bộc lộ những giới hạn đáng kể về nền tảng công nghiệp quốc phòng, năng lực duy trì hiệu quả chiến lược dài hạn sau các đòn đánh quân sự, và độ tin cậy như một đối tác an ninh trong bối cảnh chính sách ngày càng mang tính “áp đặt”. Học thuyết quân sự Mỹ đang có sự điều chỉnh rõ nét theo hướng ưu tiên các chiến dịch quy mô hạn chế, chính xác, dứt điểm nhanh, gắn chặt với mục tiêu chính trị cụ thể, thay vì các chiến dịch kéo dài, xây dựng quốc gia kiểu trước đây.

Trong bức tranh rộng hơn về sức mạnh tổng thể quốc gia, trong ngắn hạn, Mỹ tiếp tục là siêu cường số một thế giới về cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm, nhưng đang phải đối mặt với những thách thức cấu trúc ngày càng lớn – đặc biệt là gánh nặng nợ công, độ trễ trong tái thiết công nghiệp quốc phòng, và sự xói mòn tương đối về hình ảnh, uy tín quốc tế do cách tiếp cận đối ngoại thực dụng, đơn phương gia tăng. Những xu hướng này sẽ tiếp tục định hình cục diện thế giới, khu vực trong giai đoạn tới theo hướng đa cực hóa rõ nét hơn. Và đến năm 2045, trạng thái cân bằng có thể được thiết lập. Khái niệm “siêu cường số một thế giới” sẽ trở nên mờ nhạt, không còn phù hợp với bất cứ cường quốc nào. Mỹ và Trung Quốc sẽ cùng tồn tại trong một trật tự mà họ có vị thế ngang hàng nhau.

Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu, đánh giá khách quan, toàn diện về quân đội Mỹ và sức mạnh tổng thể quốc gia Mỹ có ý nghĩa quan trọng cả về mặt tham khảo kinh nghiệm xây dựng quân đội, củng cố tiềm lực quốc phòng, lẫn về mặt hoạch định chính sách đối ngoại, bảo đảm giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn ngày càng phức tạp, khó lường./.

HẾT

Tác giả: Hoàng Hải

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]

Tài liệu tham khảo:

[1] Thu Thùy (2026), Mỹ lần đầu hé lộ hình ảnh về tên lửa hạt nhân liên lục địa thế hệ mới Sentinel, https://viettimes.vn/my-lan-dau-he-lo-hinh-anh-ve-ten-lua-hat-nhan-lien-luc-dia-the-he-moi-sentinel-post202063.html

[2] Naval News (2026), In its largest-ever submarine deal, the US Navy awards $76.6B to GDEB and HII for 9 Block VI Virginia-class attack subs and 5 Columbia-class SSBNs, https://www.navalnews.com/naval-news/2026/07/us-navy-awards-historic-76-6b-contract-for-9-block-vi-virginia-ssns-and-5-columbia-ssbns/

[3] US Military Spending 2026, https://militaryspend.org/us-military-spending-2026

[4] Global military spending rise continues as European and Asian expenditures surge, https://www.sipri.org/media/press-release/2026/global-military-spending-rise-continues-european-and-asian-expenditures-surge

[5] Báo Điện tử Chính phủ (2025), Chính phủ Mỹ đóng cửa: Đợt dài nhất lịch sử, https://baochinhphu.vn/chinh-phu-my-dong-cua-cham-moc-dai-nhat-lich-su-102251105062434623.htm

Tags: Quân đội Mỹsức mạnh mềm của MỹSức mạnh Mỹ
ShareTweetShare
Bài trước

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/09/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần cuối)

05/09/2026
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

04/09/2026
Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

02/09/2026
Sáu tháng xung đột Mỹ, Israel – Iran: Được và mất của các bên

Sáu tháng xung đột Mỹ, Israel – Iran: Được và mất của các bên

31/08/2026
Ngã ba Đông Dương trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay và những hàm ý đối với phát triển khu vực

Ngã ba Đông Dương trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay và những hàm ý đối với phát triển khu vực

29/08/2026
Tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine và một số gợi mở

Tác chiến phản gián của Nga trong xung đột Nga – Ukraine và một số gợi mở

27/08/2026
Sẽ nguy hiểm nếu đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Trung Quốc

Sẽ nguy hiểm nếu đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Trung Quốc

25/08/2026
Đua tranh ba bên Trung Quốc – Đài Loan – Philippines tại Biển Đông và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Đua tranh ba bên Trung Quốc – Đài Loan – Philippines tại Biển Đông và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

22/08/2026

Tin Mới

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần cuối)

05/09/2026
0
Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

Sức mạnh tổng thể của Mỹ nhìn từ các cuộc xung đột gần đây: Một số dự báo đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam (Phần đầu)

04/09/2026
8
Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

Tầm bắn 15.000km: Tên lửa Iran liệu có thể đe dọa tới lãnh thổ Mỹ?

02/09/2026
66
Sáu tháng xung đột Mỹ, Israel – Iran: Được và mất của các bên

Sáu tháng xung đột Mỹ, Israel – Iran: Được và mất của các bên

31/08/2026
166

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Podcasts
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • Tiêu điểm
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.