Tóm tắt: Tính độc lập tương đối là truyền thống và đặc điểm nổi bật trong ngoại giao của Pháp. Nga giữ vị trí quan trọng và chính sách của Pháp đối với Nga trong một thời gian dài đã khác biệt với hầu hết các nước phương Tây. Quan hệ Pháp-Nga trở thành mối quan hệ song phương phức tạp, vừa căng thẳng vừa là điểm sáng hợp tác trong bối cảnh đối đầu phương Tây - Nga. Ngay từ khi khủng hoảng Ukraine nổ ra năm 2014, Pháp vẫn áp dụng các biện pháp song song vừa trừng phạt vừa hợp tác với Nga, hy vọng đưa Nga vào khuôn khổ an ninh chung châu Âu. Sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ năm 2022, Pháp đã chuyển từ vai trò trung gian hòa giải sang vai trò ủng hộ Ukraine chống lại Nga. Sự chuyển hướng trong chính sách đối với Nga của Pháp cũng khiến quan hệ song phương có sự thay đổi về chất. Nga đã chuyển từ điểm tựa chiến lược cho ngoại giao độc lập của Pháp thành một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến “chiến lược tự chủ châu Âu”. Nhiều nguyên nhân đã dẫn đến sự thay đổi vai trò của Pháp và sự chuyển hướng trong chính sách đối với Nga. Điều này phần nào đã phản ánh giới hạn của ngoại giao độc lập của Pháp. Quan hệ Pháp-Nga cho thấy một sự tái cân bằng mới, giữa cứng rắn và đối thoại, giữa độc lập và phụ thuộc. Trong tương lai, chính sách của Pháp đối với Nga có thể sẽ phản ánh thêm sự cân nhắc tổng hợp giữa lợi ích an ninh ngắn hạn và lợi ích chiến lược dài hạn. Sự phát triển và thay đổi của nó cũng sẽ tác động sâu sắc đến chính sách của Liên minh châu Âu (EU) đối với Nga, cũng như cấu trúc quyền lực và trật tự an ninh của lục địa Á-Âu trong tương lai.
Đặc điểm nổi bật nhất trong ngoại giao Pháp so với các thành viên EU là tính độc lập. Pháp có nhiều danh phận như đồng minh phương Tây, thành viên NATO, thành viên cốt lõi của EU, và đồng thời cũng là một bên đang tìm kiếm không gian điều chỉnh chính sách trong cấu trúc an ninh châu Âu dưới ảnh hưởng sâu sắc của Mỹ. De Gaulle từng nói: “Nước Pháp phải là chính mình, nước Pháp phải là nước Pháp, chứ không phải hòa tan vào những thứ khác, đánh mất linh hồn và bản sắc của mình.” Ngoại giao độc lập của Pháp là một đặc điểm nổi bật giúp phân biệt với các cường quốc phương Tây khác, và đặc tính độc lập trong ngoại giao của Pháp cũng được thể hiện cụ thể trong chính sách đối với Nga. Giới học thuật thường cho rằng thời kỳ De Gaulle cầm quyền là điểm khởi đầu lịch sử để Pháp khẳng định nền ngoại giao độc lập của một cường quốc. So với những bất ổn trong nội bộ nước Pháp, chính sách đối ngoại của Pháp tương đối ổn định và liên tục hơn. Georges Pompidou giữ chức Tổng thống Pháp giai đoạn 1969-1974, và chính sách đối ngoại của ông thường được mô tả là “chủ nghĩa de Gaulle không có de Gaulle”. Giới học thuật cho rằng Pompidou không thay đổi bản chất ngoại giao của Pháp, mà kế thừa cốt lõi trong chính sách ngoại giao của de Gaulle, kiên định bảo vệ nền độc lập của Pháp, nhưng phương thức linh hoạt và thận trọng hơn. Valéry Giscard d’Estaing trong giai đoạn 1974-1981 tiếp tục đi theo đường lối ngoại giao độc lập, phản đối việc chấp nhận bất kỳ sự sắp đặt nào của các siêu cường. Hơn nữa, có học giả cho rằng chính sách của ông mang đặc điểm của “chủ nghĩa quốc tế”.
Trong thời kỳ François Mitterrand cầm quyền, đã từng xảy ra hiện tượng “đồng trị” – tức Tổng thống và Thủ tướng thuộc hai phe phái đối lập. Mitterrand trong thời kỳ cầm quyền tiếp tục duy trì nền độc lập của Pháp, sử dụng chiến lược cân bằng để xử lý quan hệ Đông-Tây, nhằm mưu cầu địa vị cường quốc cho Pháp. Trong giai đoạn này, do bị giới hạn bởi thực lực của bản thân Pháp, mặc dù ngoại giao độc lập đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng cũng tồn tại những hạn chế. Tương tự, Jacques Chirac cũng trải qua thời kỳ “đồng trị” trong nhiệm kỳ của mình. Trong thời gian cầm quyền 1995-2007, Chirac kế thừa và phát triển chủ nghĩa de Gaulle, nhưng cũng có những điều chỉnh lớn trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt nổi bật trong phát triển quan hệ Pháp-Mỹ, thể hiện tính thực dụng trong chính sách đối ngoại của ông. Chính sách đối với Mỹ trong nhiệm kỳ của Nicolas Sarkozy (2007-2012) đã gây ra nhiều tranh luận; một số học giả cho rằng Sarkozy quá thân Mỹ, nhưng một bộ phận không nhỏ học giả lại cho rằng Sarkozy đã kế thừa chủ nghĩa de Gaulle, và việc trở lại cơ cấu tích hợp quân sự NATO chỉ là sự tiếp nối của sự cân nhắc lâu dài của Pháp trong quan hệ châu Âu và Đại Tây Dương. Trong thời kỳ François Hollande cầm quyền (2012-2017), Pháp coi trọng chống khủng bố và nâng cao năng lực hành động quân sự, đặc biệt tăng cường ngoại giao châu Á và ngoại giao kinh tế, tăng cường quan hệ với các nước mới nổi, nhằm nâng cao vị thế quốc tế của Pháp. Kể từ năm 2017, Emmanuel Macron đã kế thừa truyền thống ngoại giao của chủ nghĩa de Gaulle, cho rằng “(Pháp) nên giữ vững độc lập tự chủ, tiến hành đối thoại mang tính xây dựng với tất cả các bên”. Ông nỗ lực cân bằng quan hệ giữa các cường quốc, đồng thời chú trọng dựa vào sức mạnh của châu Âu, chính sách ngoại giao của ông mang phong cách cổ điển linh hoạt.
Trong thực tế hội nhập châu Âu ngày càng sâu rộng, Pháp cũng cố gắng đi đầu trong việc đề xuất “tự chủ chiến lược”. Mặc dù ngoại giao độc lập của Pháp được kế thừa và cốt lõi tư tưởng của nó cũng được lan tỏa ở châu Âu ở một mức độ nhất định, nhưng thực tiễn ngoại giao độc lập của Pháp vẫn tồn tại những giới hạn, chịu ảnh hưởng của mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia và danh phận thuộc về khối liên minh phương Tây.
Nga, với tư cách là một cường quốc cùng nằm trên lục địa Á-Âu, Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cường quốc hạt nhân, giữ vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Pháp. Quan hệ Pháp-Nga là mối quan hệ song phương phức tạp trong thực tiễn ngoại giao độc lập của Pháp. Nhận thức và định hướng chính sách của Pháp đối với Nga cũng thể hiện sự cân nhắc chiến lược mạnh mẽ và màu sắc hiện thực chủ nghĩa rõ rệt. Từ việc vượt qua logic phe phái trong tiếp xúc chiến lược giữa Pháp và Liên Xô sau Thế chiến II, đến việc coi Nga là mắt xích quan trọng trong xây dựng cấu trúc an ninh châu Âu sau Chiến tranh Lạnh, Pháp trong một thời gian dài đã theo đuổi chính sách đối với Nga khác biệt với hầu hết các nước phương Tây. Chính sách này nhấn mạnh ưu tiên đối thoại trước đối đầu, hợp tác an ninh ưu tiên hơn bài trừ về thể chế, và cố gắng duy trì sự cân bằng động giữa EU, NATO và quan hệ Pháp-Nga. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang năm 2022 đã tác động sâu sắc đến chính sách lâu đời của Pháp đối với Nga, khiến Pháp phải đối mặt với nhiều áp lực trong quan hệ với Nga. Quan hệ song phương cũng phải đối mặt với những thách thức chưa từng có.I. Tổ
Điều chỉnh chính sách của Pháp đối với Nga sau Chiến tranh Lạnh: Từ điểm tựa chiến lược đến đối đầu liên tục
Nga từng là điểm tựa chiến lược nhằm giảm ảnh hưởng Mỹ
De Gaulle trong thời kỳ cầm quyền đã đề xuất tầm nhìn về “châu Âu từ Đại Tây Dương đến dãy Ural”, và chính sách phương Đông “hòa dịu, thấu hiểu, hợp tác” mà ông theo đuổi là một khía cạnh quan trọng trong chiến lược giảm ảnh hưởng Mỹ của ông. Một mặt, Pháp trực tiếp thách thức vị thế bá chủ của Mỹ trong các lĩnh vực quốc phòng, tiền tệ; mặt khác, Pháp chủ trương phát triển độc lập quan hệ với Liên Xô và Đông Âu. Do đó, quan hệ đặc biệt Pháp-Xô đã trở thành một biểu hiện để Pháp phát huy vai trò đặc biệt trên vũ đài thế giới, nâng cao vị thế quốc tế của Pháp, đồng thời những tiến triển của Pháp ở phương Đông cũng tăng cường hiệu quả giảm ảnh hưởng Mỹ, giúp Pháp có thêm không gian hành động giữa hai siêu cường. Đối với Pháp, để trở lại cường quốc hàng đầu thế giới cần duy trì quan hệ tốt với Liên Xô, vì vậy Liên Xô là một cường quốc quan trọng đối với Pháp. Trong Chiến tranh Lạnh, Pháp áp dụng chính sách cân bằng giữa hai siêu cường, nhờ đó nâng cao vị thế tương đối của đất nước trong chính trị quốc tế.
Đầu thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, cùng với sự sụp đổ của Liên Xô, cục diện lưỡng cực vốn đã tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Tổng thống Pháp khi đó là Jacques Chirac chủ trương xây dựng thế giới đa cực, xây dựng châu Âu thành một cực độc lập tự chủ, nhằm thay đổi cục diện Mỹ “độc tôn”. Chirac tại Hội nghị thường niên các đại sứ Pháp ở nước ngoài ngày 26 tháng 8 năm 1999 tuyên bố: “Pháp hy vọng thúc đẩy tiến trình đa cực hóa không thể cưỡng lại của thế giới, châu Âu sẽ tự nhiên tìm thấy vị trí của mình trong đó… khẳng định bản sắc của Pháp, bảo vệ lợi ích của Pháp, xây dựng một châu Âu đoàn kết, hùng mạnh, thịnh vượng, xây dựng một thế giới đa cực hài hòa, hòa bình, an ninh, làm chủ toàn cầu hóa vì lợi ích của tất cả mọi người – đó là những mục tiêu của chúng ta. Tổng thống Cộng hòa, Thủ tướng và Chính phủ đang nỗ lực hết mình để đạt được những mục tiêu này.” Nga đối với Pháp là một trong những lực lượng quan trọng cần liên kết để hiện thực hóa đa cực hóa. Chirac trong chuyến thăm Nga đã chỉ ra: “Nga nên trở thành đối tác trọng điểm của EU… Ngoài châu Âu, Nga và Pháp phải hành động cùng nhau trên phạm vi toàn cầu. Chỉ có nỗ lực chung mới có thể ứng phó với những vấn đề lớn của thời đại này.” Năm 2002, Chirac tuyên bố: “Sau khi Liên Xô tan rã, Pháp đã hy vọng rằng Nga, một cường quốc vĩ đại trong lịch sử nhân loại, có thể tìm lại vị trí của mình trên lục địa châu Âu.”
Trong nhận thức và định vị này về Nga, Pháp đã trở thành một “kẻ dị biệt” trong EU và NATO. Ví dụ, về vấn đề mở rộng EU, Pháp trong một thời gian dài không mấy tích cực, ngoài lo ngại việc EU mở rộng không ngừng sẽ làm chậm quá trình hội nhập, và có thể làm giảm quyền chi phối của Pháp trong EU. Các nhà lãnh đạo Pháp còn lo ngại các nước thành viên mới gia nhập EU sẽ làm suy yếu tầm nhìn chiến lược xây dựng “châu Âu của người châu Âu” của mình, đồng thời xét đến quá trình mở rộng EU bao phủ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, mà quá trình mở rộng này có thể chọc giận Nga và gây tổn hại đến quan hệ Pháp-Nga. Ngoài ra, về vấn đề mở rộng NATO, Pháp cũng tỏ ra thận trọng vì cân nhắc đến quan hệ với Nga. Tại Hội nghị thượng đỉnh Bucharest năm 2008, Pháp đã phản đối việc Ukraine và Gruzia gia nhập NATO, Pháp và Đức đều cho rằng đó là ranh giới đỏ của Nga, tốt nhất không nên chạm vào. Vì vậy, do sự trì hoãn trong vấn đề mở rộng liên minh và sự quan tâm đến lợi ích của Nga, Pháp từng được coi là nước tương đối thân Nga trong EU và NATO.
Không những vậy, Nga còn là đối tác kinh tế thương mại quan trọng của Pháp. Vào những năm 1990, kim ngạch thương mại Pháp-Nga trung bình chỉ chiếm 1% tổng kim ngạch ngoại thương của Pháp; năm 2000, nhập khẩu của Pháp từ Nga cao hơn 50% so với năm 1996. Trong giai đoạn 2013-2024, kim ngạch thương mại xuất nhập khẩu giữa Pháp và Nga có biến động khá rõ rệt. Xét về cơ cấu nhập khẩu, hydrocarbon cũng như kim loại, sản phẩm luyện kim chiếm tỷ trọng khá cao; sản phẩm xuất khẩu chủ yếu bao gồm thiết bị vận tải, hóa chất, nước hoa và mỹ phẩm, máy móc, dược phẩm cũng như máy tính, sản phẩm điện tử và quang học, v.v. Do hydrocarbon chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại, nên nhìn chung Pháp duy trì thâm hụt thương mại với Nga. Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp Pháp ngoài việc coi Nga là thị trường tiêu thụ, còn tham gia sâu vào các dự án hợp tác như đào tạo, thu mua cũng như chuyển giao công nghệ tại Nga. Năm 2015, Pháp đã trở thành nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Nga, và tập đoàn Auchan của Pháp cũng trở thành nhà tuyển dụng nước ngoài lớn nhất tại Nga. Cuộc khủng hoảng Ukraine năm 2014 bùng nổ đã ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế thương mại Pháp-Nga trong ngắn hạn nhưng mức độ ảnh hưởng có hạn, kim ngạch thương mại sau khi giảm mạnh lại có sự phục hồi. Đáng chú ý là trong giai đoạn 2015-2020, bất chấp lệnh cấm vận của EU, Pháp vẫn bán sản phẩm quốc phòng cho Nga và tuyên bố đó là các hợp đồng được ký trước khi các biện pháp trừng phạt có hiệu lực.
Xu hướng thương mại Pháp – Nga (đơn vị: triệu đôla)

Chú thích: ⚫ Xuất khẩu từ Pháp sang Nga ⚪ Nhập khẩu từ Nga về lại Pháp
Mặc dù Pháp là một trong những nước thành viên cốt lõi của EU, nhưng quan hệ giữa EU và Nga khác biệt đáng kể so với quan hệ giữa Pháp và Nga. Nguyên nhân cốt lõi hạn chế sự phát triển của quan hệ EU-Nga nằm ở tính bất đối xứng cao của quan hệ hai bên.
Thứ nhất, EU cố gắng lấy mình làm khuôn mẫu để tái định hình nền kinh tế, chính trị và chế độ pháp luật của Nga. Tuy nhiên, Nga mong muốn được đối xử như một đối tác bình đẳng, chứ không phải thụ động chấp nhận luật chơi của EU như các nước Trung và Đông Âu khác khi gia nhập EU. Trong tiến trình phát triển quan hệ Pháp-Nga, trong phần lớn thời gian, sự khác biệt về ý thức hệ giữa Pháp và Nga đã bị làm mờ, hợp tác song phương hoặc đa phương theo định hướng hiện thực chủ nghĩa trở thành dòng chính, cả hai đều coi đối phương là lực lượng quan trọng trong xây dựng thế giới đa cực.
Thứ hai, sự phát triển và lớn mạnh của EU chủ yếu nằm ở việc mở rộng thành viên và tăng cường mức độ hội nhập, điều này dẫn đến sự đối kháng nhất định giữa EU và Nga ở không gian hậu Xô Viết. Trong khi đó, Pháp hy vọng việc tăng cường hội nhập trong lòng EU phải phải đi trước việc mở rộng. Nhưng hầu như, Pháp luôn bị động trong các vấn đề mở rộng EU về phía Đông, ngay cả trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, Pháp cũng có thái độ dè dặt đối với việc Ukraine gia nhập EU. Cuối cùng, trong nội bộ EU có sự khác biệt lớn về thái độ đối với Nga, ví dụ như các nước Ba Lan, các nước Baltic luôn chủ trương cứng rắn với Nga, còn Đức thì đặt hy vọng vào chính sách “lấy thương mại thúc đẩy thay đổi” đối với Nga, nhằm đẩy nhanh quá trình “Âu hóa” Nga, đồng thời cân nhắc đến lợi ích địa chính trị và an ninh của Nga. Chính sách đối ngoại của Pháp đối với Nga chủ yếu phục vụ cho mục tiêu muốn trở thành cường quốc hàng đầu thế giới của mình, Pháp không giống như Ba Lan và các nước Baltic là phe “chống Nga” cứng rắn, cũng không giống như Đức có quan hệ kinh tế thương mại quá mật thiết với Nga hoặc muốn lợi dụng điều đó để thúc đẩy “Âu hóa” Nga, mà là tùy thời thế, áp dụng chính sách đối ngoại linh hoạt. Trước khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, Pháp đã lợi dụng vị thế đặc biệt của mình trong cấu trúc Đông-Tây, Nam-Bắc, coi Nga là điểm tựa chiến lược để xây dựng thế giới đa cực hóa. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, Pháp nhanh chóng tham gia vào khối châu Âu trừng phạt Nga, muốn nhân đó nâng cao năng lực lãnh đạo của mình tại châu Âu. Ngoài ra, sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, mặc dù trong EU vẫn còn các nước thành viên như Hungary có tiếng nói khác về một số vấn đề liên quan đến Nga, nhưng trong chính sách đối với Nga, bất đồng quan điểm bên trong EU đã giảm bớt so với trước đây, sự đoàn kết giữa các nước thành viên cũng được tăng cường.
Ngoại giao Pháp đối với Nga trước xung đột Nga-Ukraine: Trừng phạt song hành với hợp tác
Trước khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang năm 2022, Nga là đối tác chiến lược quan trọng của Pháp, Pháp hy vọng dựa vào Nga để tăng cường tính độc lập tương đối với Mỹ. Trong thời kỳ Chirac cầm quyền, Pháp cố gắng lợi dụng Nga để cân bằng ảnh hưởng của Mỹ. Khi Sarkozy cầm quyền, năm 2008 xảy ra chiến tranh Nga-Gruzia, Pháp đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm trung gian hòa giải. Trong thời kỳ Hollande cầm quyền, “Khuôn khổ Normandy” với sự tham gia của Pháp, Đức, Nga, Ukraine nhằm mục đích hòa giải cuộc khủng hoảng Ukraine. Sau khi Macron lên nắm quyền, năm 2019 ông thậm chí còn công khai tuyên bố NATO đã “chết não”, kêu gọi thiết lập quan hệ đối tác giữa EU và Nga dựa trên cấu trúc an ninh tin cậy mới. Năm 2020, Macron cho rằng: nếu không thúc đẩy tầm nhìn chính trị nhằm dần xây dựng lại lòng tin với Nga, thì công dân châu Âu sẽ không thể có khuôn khổ an ninh thực chất. Ngoài ra, Pháp ủng hộ Nga tham gia đối thoại trong cơ chế đa phương cũng như giữa EU và Nga. Việc xích lại gần Nga là sự cân nhắc chiến lược của Pháp, Pháp muốn độc lập với Mỹ, vì Mỹ ngày càng trở nên kém tin cậy, để thực hiện tự chủ chiến lược cần tăng cường hợp tác với Nga. Cần lưu ý rằng, mặc dù từ sau Chiến tranh Lạnh đến trước khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ năm 2022, Pháp nhìn chung coi Nga là đối tác xây dựng châu Âu, có vai trò quan trọng trong việc cân bằng Mỹ, nhưng việc coi Nga là điểm tựa chiến lược đối ngoại của Pháp cũng có giới hạn của nó. Khi cuộc khủng hoảng Ukraine nổ ra năm 2014, mặc dù các vấn đề liên quan đến các đối tác phía Đông của EU như Ukraine không phải là trọng tâm trong ngoại giao của Pháp vào thời điểm đó, nhưng trong bối cảnh EU trừng phạt Nga, Pháp vẫn tham gia vào các biện pháp trừng phạt Nga của EU, quan hệ Pháp-Nga và EU-Nga có biến động.
Sau cuộc khủng hoảng Ukraine năm 2014 bùng nổ, “Tam giác Weimar” gồm Pháp, Đức, Ba Lan đã tham gia hòa giải cuộc khủng hoảng Ukraine. Cùng năm đó, các nguyên thủ quốc gia Pháp, Đức, Nga, Ukraine gặp nhau, thiết lập “Khuôn khổ Normandy”, và tiếp tục thúc đẩy sự hình thành của Thỏa thuận Minsk và Thỏa thuận Minsk mới. Trong “Khuôn khổ Normandy”, Đức được cho là đóng vai trò chính trong việc thiết lập chương trình nghị sự và giành được sự ủng hộ của EU và các nước thành viên, còn Pháp “lãnh đạo từ phía sau”, nhưng sự tham gia của Pháp đã giúp Đức tăng cường tính hợp pháp khi thực thi quyền lãnh đạo EU. Nhìn chung, về vấn đề khủng hoảng Ukraine, Tổng thống Pháp khi đó là François Hollande đã áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt là trừng phạt và đối thoại đối với Nga. Một mặt, áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với Nga trong khuôn khổ EU. Các biện pháp trừng phạt này bao gồm hạn chế Nga tiếp cận thị trường vốn EU, cấm vận xuất nhập khẩu vũ khí và vật liệu liên quan đến Nga, xuất khẩu một số thiết bị và công nghệ liên quan đến năng lượng sang Nga cần được sự cho phép trước của cơ quan có thẩm quyền của các nước thành viên, v.v. Nga bị đình chỉ tư cách thành viên G8, quan hệ song phương giữa Pháp và Nga bị ảnh hưởng thêm. Ngoài ra, Pháp còn hủy bỏ việc bàn giao tàu tấn công đổ bộ lớp Mistral cho Nga. Mặt khác, cuộc khủng hoảng Ukraine năm 2014 bùng nổ cũng là thời điểm Pháp phải đối mặt với vấn đề khủng bố ngày càng nghiêm trọng. Khi Pháp tăng cường chống khủng bố, Pháp và Nga tiếp tục trao đổi thông tin tình báo chống khủng bố và tương tác cấp cao, quan hệ Pháp-Nga có sự hòa dịu trong thời gian ngắn. Tháng 8 năm 2019, Tổng thống Pháp đã bày tỏ ý định tiến hành đối thoại sâu sắc với Nga trong khuôn khổ chương trình nghị sự về tin cậy và an ninh. Có thể nói, cho đến trước khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ năm 2022, Pháp vẫn tích cực thúc đẩy việc đưa Nga vào khuôn khổ an ninh châu Âu.
Sự chuyển hướng chính sách của Pháp đối với Nga dưới tác động của xung đột Nga-Ukraine năm 2022
Thứ nhất, sự thay đổi vai trò – Từ người hòa giải khủng hoảng sang người ủng hộ “viện trợ Ukraine, chống Nga”. Vào đêm trước cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang cuối năm 2021, Pháp đã cố gắng thông qua các hình thức như điện đàm cấp nguyên thủ, hội nghị trực tuyến, các cuộc gặp và hội đàm với các nhà lãnh đạo Nga, Mỹ, Đức, Ukraine và EU để tiến hành tham vấn, hạ nhiệt tình hình Nga-Ukraine, tránh xung đột quy mô lớn hơn, nhằm bảo vệ lợi ích an ninh và kinh tế của Pháp. Tháng 1 năm 2022, Macron phát biểu tại Nghị viện châu Âu chỉ ra rằng châu Âu nên tiến hành đối thoại với Nga và tìm kiếm giải pháp chính trị cho vấn đề Ukraine. Xung đột Nga-Ukraine bùng nổ năm 2022 đánh dấu sự kết thúc cho những nỗ lực điều chỉnh chính sách đối với Nga của Pháp. Danh phận của Pháp cũng từ người hòa giải chuyển sang người ủng hộ viện trợ Ukraine chống Nga. Khi Nga tuyên bố phát động chiến dịch quân sự đặc biệt nhằm vào Ukraine, Macron ngay lập tức tuyên bố Pháp đứng về phía Ukraine, vừa lên án Nga, vừa cung cấp cho Ukraine một loạt hỗ trợ bao gồm hỗ trợ tài chính, viện trợ quân sự, viện trợ nhân đạo. Pháp cũng cùng với các đối tác phương Tây tiến hành các biện pháp trừng phạt đối với Nga. Mặc dù trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột, Pháp vẫn chưa hoàn toàn từ bỏ đối thoại với Nga song song với trừng phạt, nhưng tiếng nói này ngày càng yếu đi khi cuộc khủng hoảng Ukraine kéo dài leo thang, và thái độ đối với Nga ngày càng cứng rắn. Pháp cũng chuyển từ việc ban đầu phản đối Ukraine gia nhập EU và NATO, sang ủng hộ Ukraine gia nhập EU và tôn trọng lựa chọn con đường an ninh của Ukraine. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, Pháp cũng luôn cố gắng đóng vai trò “lãnh đạo châu Âu” trong việc viện trợ cho Ukraine của EU, tích cực điều phối lập trường của EU và các nước châu Âu về vấn đề Nga-Ukraine. Một mặt, Pháp ủng hộ EU thực thi các biện pháp trừng phạt đối với Nga, cũng cung cấp một số viện trợ nhất định cho Ukraine thông qua EU, và ủng hộ EU trao quy chế ứng cử viên cho Ukraine và Moldova; mặt khác, theo sáng kiến của Pháp, các nhà lãnh đạo châu Âu đã nhiều lần triệu tập hội nghị tại Paris để thảo luận về tình hình Ukraine và các vấn đề an ninh châu Âu, Pháp còn đề xuất thành lập “Cộng đồng chính trị châu Âu”, vừa đưa Ukraine vào cộng đồng này, vừa có ý định loại Nga ra ngoài.
Thứ hai, sự chuyển hướng chính sách dẫn đến sự thay đổi về chất trong quan hệ song phương. Sau xung đột Nga-Ukraine năm 2022, trong lĩnh vực kinh tế thương mại, hợp tác Pháp-Nga bước vào giai đoạn đóng băng, một số lượng lớn các công ty Pháp rút khỏi Nga. Tính đến tháng 11 năm 2025, số lượng công ty Pháp hoạt động tại Nga chưa đến một phần ba so với trước khi xung đột bùng nổ. Tuy nhiên, thương mại uranium giữa Pháp và Nga vẫn tiếp tục, mặc dù tỷ trọng nhập khẩu uranium của Pháp từ Nga đã giảm từ 67% năm 2022 xuống 24% năm 2024, Pháp vẫn có sự phụ thuộc nhất định vào Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Nga. Trong an ninh quốc phòng, Pháp cũng tăng cường phòng bị đối với Nga, Chính phủ Pháp lần đầu tiên công khai quy kết nhiều vụ tấn công mạng lớn cho quân đội Nga, tuyên bố phải đề phòng các cuộc chiến tranh thông tin tiềm tàng của Nga, và thắt chặt đáng kể chính sách thị thực, nhằm đề phòng Nga có thể thực hiện các hành động “đe dọa” an ninh quốc gia Pháp. Trong quan hệ đối ngoại, Pháp từng cân nhắc đến lợi ích và sự hiện diện của Nga trong các vấn đề hợp tác với Trung Á, do Nga có ảnh hưởng quan trọng tại khu vực này. Sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ năm 2022, giá trị địa chính trị và địa kinh tế của Trung Á trở nên nổi bật, Pháp tăng cường tương tác ngoại giao và hợp tác thực chất với các nước Trung Á, tập trung vào các vấn đề như khoáng sản, năng lượng và xây dựng hành lang vận tải xuyên Biển Caspi, tìm cách nâng cao ảnh hưởng tại Trung Á, trong khi các nước Trung Á tìm kiếm thêm không gian phát triển thông qua ngoại giao đa phương cân bằng, quan hệ giữa hai bên đang mở ra một giai đoạn cơ hội mới.
Thứ ba, Nga đã chuyển mình từ một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nền ngoại giao độc lập của Pháp trở thành một yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quyền tự chủ chiến lược của châu Âu. Pháp từng cố gắng xây dựng một kiến trúc an ninh châu Âu trong đó có Nga, sau xung đột Nga-Ukraine, tầm nhìn an ninh châu Âu của Pháp không chỉ không bao gồm Nga, mà thậm chí có thể là chống lại Nga. Xung đột Nga-Ukraine khiến người châu Âu phải suy nghĩ lại về các vấn đề an ninh quốc phòng và an ninh năng lượng của chính họ. EU cố gắng tách khỏi Nga về năng lượng, tăng cường đa dạng hóa nguồn cung năng lượng. Macron cũng nắm bắt thời cơ thuận lợi để thúc đẩy tự chủ phòng thủ châu Âu. Trong thời kỳ Pháp giữ chức Chủ tịch luân phiên EU, Hội đồng EU đã thông qua kế hoạch hành động “La bàn chiến lược”. Macron còn công khai tuyên bố rằng Nga là mối đe dọa đối với Pháp và châu Âu. Vào thời điểm này, Nga bị Pháp coi là nhân tố bất ổn thách thức an ninh châu Âu, chứ không phải là người kiến tạo an ninh chung hoặc thế giới đa cực.
Về vấn đề đàm phán hòa bình Nga-Ukraine, Pháp cũng muốn trở thành người phát ngôn của EU, ngoài việc ủng hộ các yêu sách then chốt của Ukraine, còn muốn có những đóng góp trong tiến trình đàm phán. Khi Mỹ bỏ qua châu Âu để đối thoại với Nga, Pháp cùng các đối tác châu Âu yêu cầu phải được “ngồi vào bàn” tham gia đàm phán hòa bình Nga-Ukraine. Tính đến tháng 2 năm 2026, về hai vấn đề then chốt trong đàm phán hòa bình Nga-Ukraine (lãnh thổ và an ninh của Ukraine), một mặt Pháp vẫn kiên định ủng hộ toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, và một lần nữa nhấn mạnh trong tuyên bố của các nhà lãnh đạo G7 ngày 24 tháng 2 năm 2026 “kiên định ủng hộ Ukraine bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, quyền sinh tồn, tự do, chủ quyền và độc lập”. Mặt khác, Pháp còn chủ trương cung cấp bảo đảm an ninh mạnh mẽ cho Ukraine, đề xuất cùng với Anh cử quân đến Ukraine. Tháng 1 năm 2026, các nhà lãnh đạo Pháp, Anh, Đức cùng đồng chủ trì Hội nghị thượng đỉnh “Liên minh Tình nguyện” tại Điện Élysée, 35 nước thành viên, Ukraine và Mỹ cùng thông qua Tuyên bố Paris, đạt được đồng thuận về việc thiết lập một cơ chế giám sát ngừng bắn do Mỹ dẫn đầu với sự tham gia của nhiều nước, và thành lập một lực lượng bảo đảm an ninh đa quốc gia bao gồm các lực lượng hải, lục, không quân cho Ukraine.
Động lực thúc đẩy sự chuyển hướng chính sách của Pháp đối với Nga sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ
Xung đột Nga-Ukraine đã thay đổi sâu sắc cục diện địa chính trị châu Âu, khiến cấu trúc an ninh và cân bằng lực lượng của khu vực này trải qua những chấn động dữ dội, và chính sách đối ngoại của nhiều nước trong khu vực cũng có những thay đổi lớn. Chính trong bối cảnh này và dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, Pháp đã điều chỉnh vai trò của mình trong cuộc khủng hoảng Ukraine cũng như chính sách đối với Nga.
Trước hết, nguyên nhân căn bản khiến Pháp chuyển hướng chính sách đối với Nga là Pháp cần tăng cường năng lực lãnh đạo tại châu Âu. Khi hội nhập châu Âu ngày càng sâu rộng, ngoại giao độc lập của Pháp cần dựa vào sức mạnh của châu Âu mới có thể phát huy ảnh hưởng lớn hơn, do đó, năng lực lãnh đạo của Pháp tại châu Âu là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, vai trò cầu nối đối thoại ban đầu của Pháp trong vấn đề Nga đã vấp phải sự chỉ trích. Sau khi Macron lên nắm quyền, trước hết ông tiếp nối phong cách hành động độc đáo của các nhà lãnh đạo Pháp trong chính sách đối với Nga và NATO, muốn cùng Nga xây dựng khuôn khổ an ninh châu Âu. Trước và trong giai đoạn đầu của xung đột Nga-Ukraine, Pháp không bao giờ từ bỏ đối thoại với Nga, muốn trở thành người hòa giải giữa Nga và Ukraine. Hành động này đã bị các đồng minh phương Tây chỉ trích sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, gây ra sự nghi ngờ và bất mãn lan rộng. Tháng 6 năm 2022, Macron từng nói rằng Nga “không nên bị sỉ nhục”, điều này càng bị Ukraine và một số nước vùng Baltic và Đông Âu bác bỏ, những nước này từng coi Nga là mối đe dọa trước khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ, phát ngôn của Macron cũng gây chấn động ở châu Âu. Vì vậy, Macron buộc phải điều chỉnh lập trường của mình, từ tháng 9 năm 2022 bắt đầu bày tỏ quan điểm về Nga và Ukraine bằng giọng điệu thống nhất hơn với các nước phương Tây khác. Ngoài ra, Pháp còn tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước ở không gian hậu Xô Viết, và thông qua đối thoại sâu sắc hơn với các nước Đông Âu để tập hợp sự đồng thuận trong nội bộ EU. Trước cuộc bầu cử Quốc hội Moldova năm 2025, các nhà lãnh đạo Pháp, Đức, Ba Lan cùng đến thăm Moldova nhằm tăng cường ủng hộ “phe thân Âu” của Moldova. Tuy nhiên, từ những tuyên bố chiến lược dài hạn đối với Nga, Pháp dường như không có ý định đánh bại hoàn toàn Nga. Macron tuyên bố, “Điều đó (đánh bại hoàn toàn Nga) chưa bao giờ là lập trường của Pháp, và sẽ không bao giờ là như vậy.”
Thứ hai, Macron cần thể hiện thái độ cứng rắn với Nga, để phân biệt với các lực lượng cực hữu, củng cố năng lực lãnh đạo trong nội bộ nước Pháp. Trong một thời gian dài, các đảng phái cực hữu của Pháp có quan hệ tương đối mật thiết với Nga. Trước cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2017, Putin đã từng mời lãnh đạo đảng cực hữu “Liên minh Dân tộc” của Pháp là Marine Le Pen gặp mặt. Nhiệm kỳ thứ hai của Macron khởi đầu không thuận lợi, rơi vào tình thế khó khăn khi không giành được đa số tuyệt đối ghế trong Quốc hội, công việc của chính phủ bị cản trở nghiêm trọng, đối mặt với nhiều thách thức. Để ngăn chặn các lực lượng cực hữu mở rộng, Macron còn tuyên bố giải tán Quốc hội và tổ chức bầu cử Quốc hội sớm vào năm 2024. Sau xung đột Nga-Ukraine, việc tương tác quá mức với Nga bị dư luận trong nước Pháp coi là “vết nhơ” của đảng cực hữu “Liên minh Dân tộc”. Trong bối cảnh “viện trợ Ukraine chống Nga” trở thành xu hướng chính sách chính, Macron đã phơi bày “vết nhơ chính trị” của đảng Liên minh Dân tộc Pháp, và phân biệt rõ ràng với các đảng cực hữu trong thái độ đối với Nga, nhằm củng cố nền tảng cầm quyền của mình.
Thứ ba, một trong những động lực khiến Pháp điều chỉnh chính sách đối với Nga là thúc đẩy hội nhập phòng thủ chung châu Âu. Trong một thời gian dài, tiến trình hội nhập phòng thủ chung châu Âu diễn ra chậm chạp, hầu hết các nước châu Âu có xu hướng dựa vào sự bảo đảm an ninh do NATO cung cấp. Nhưng Pháp xuất phát từ lợi ích của bản thân và tầm nhìn xây dựng một châu Âu độc lập và hùng mạnh, không muốn dựa vào NATO do Mỹ lãnh đạo, đã bắt đầu nỗ lực xây dựng nền phòng thủ độc lập của châu Âu từ những năm 1950, sau đó chuyển sang thúc đẩy xây dựng trụ cột châu Âu trong NATO. Ngày 1 tháng 1 năm 2022, Pháp một lần nữa đảm nhận chức Chủ tịch luân phiên EU, một trong những chương trình nghị sự quan trọng của nó là thúc đẩy hội nhập phòng thủ châu Âu. Sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ, nhiều nước châu Âu lo ngại Nga trong tương lai sẽ mở rộng phạm vi hoạt động quân sự ở không gian hậu Xô Viết, đặc biệt là sau khi nhiệm kỳ thứ hai của Trump bắt đầu, hầu hết các nước châu Âu ngày càng cảm thấy NATO không còn đáng tin cậy như trước, vừa tăng chi tiêu quốc phòng, vừa càng đồng tình hơn với tính cấp thiết của việc xây dựng nền phòng thủ độc lập châu Âu. Trong bối cảnh đó, việc Pháp điều chỉnh chính sách đối với Nga, phóng đại mối đe dọa từ Nga, sẽ giúp thúc đẩy kế hoạch phòng thủ chung châu Âu.
Cuối cùng, yếu tố bối cảnh khiến Pháp điều chỉnh chính sách đối với Nga là sự cạnh tranh giữa Pháp và Nga tại châu Phi ngày càng gia tăng. Pháp từng có nhiều thuộc địa rộng lớn ở châu Phi, coi châu Phi là “vườn sau” của mình, có ảnh hưởng quân sự và tài chính lớn tại khu vực này, quan hệ với châu Phi luôn là trọng tâm trong ngoại giao Pháp. Pháp từng cho rằng cải thiện quan hệ với Nga sẽ giúp Pháp phát huy vai trò lớn hơn ở Trung Đông và châu Phi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Nga tại châu Phi ngày càng mở rộng, trong khi ảnh hưởng của Pháp tại châu Phi suy giảm. Pháp cho rằng Nga đã tiếp tay cho các phong trào chống Pháp ở khu vực Sahel, bằng cách cung cấp bảo đảm an ninh cho chính quyền địa phương để đổi lấy đặc quyền khai thác khoáng sản có lợi nhuận cao, tồn tại sự cạnh tranh an ninh khá rõ rệt với Nga tại châu Phi.
Ngoài ra, Pháp tìm thấy các hành lang vận tải và nguồn năng lượng khoáng sản mới, cũng khiến việc điều chỉnh chính sách đối với Nga trở nên khả thi. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, châu Âu cần gấp tìm các hành lang vận tải mới không phụ thuộc vào Nga. Hiện nay, Pháp ủng hộ hành lang vận tải xuyên Biển Caspi. Pháp ủng hộ Ủy ban châu Âu cung cấp tài chính cho phát triển hành lang này, và thông qua nhiều kênh như Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu và Ngân hàng Đầu tư châu Âu để bày tỏ sự ủng hộ, ngoài ra, các công ty Pháp cũng tích cực tham gia xây dựng hành lang vận tải xuyên Biển Caspi, như tập đoàn vận tải biển CMA CGM của Pháp đã bố trí các trung tâm logistics then chốt tại Kazakhstan và ven Biển Caspi, đồng thời thành lập văn phòng đại diện tại Almaty, trong khi đầu máy do công ty Alstom của Pháp sản xuất tại nhà máy Astana cũng sẽ được sử dụng cho vận tải đường sắt của hành lang vận tải xuyên Biển Caspi. Đồng thời, Pháp cũng đang dần giảm sự phụ thuộc vào năng lượng khoáng sản của Nga, đặc biệt là sự phụ thuộc vào uranium của Nga, đồng thời tăng cường hợp tác với các nước như Kazakhstan, nhằm tăng cường tính độc lập trong năng lượng khoáng sản. Các hành lang vận tải và nguồn năng lượng khoáng sản mới cũng tạo thêm động lực để Pháp thay đổi thái độ đối với Nga.
Đặc điểm tái cân bằng trong ngoại giao Pháp đối với Nga dưới tác động của ngoại giao độc lập
Ngoại giao độc lập của Pháp tác động đến xu hướng quan hệ Pháp-Nga, và sự thay đổi trong quan hệ Pháp-Nga cũng phản ánh giới hạn của ngoại giao độc lập Pháp. Trong Chiến tranh Lạnh, Pháp đã áp dụng chiến lược cân bằng với Nga, tức là tìm kiếm sự cân bằng giữa hai khối Mỹ-Xô. Sau Chiến tranh Lạnh, Pháp áp dụng chiến lược cân bằng mới, một mặt thúc đẩy hội nhập châu Âu và trở lại cơ cấu tích hợp quân sự NATO, mặt khác cũng coi trọng các yêu sách và lợi ích của Nga ở không gian hậu Xô Viết. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, trong bối cảnh địa chính trị mới, Pháp điều chỉnh chính sách đối với Nga dưới áp lực cấu trúc từ EU và NATO. Trong bối cảnh này, sự tái cân bằng trong ngoại giao Pháp đối với Nga thể hiện ba đặc điểm sau.
Thứ nhất, trong diễn ngôn, thể hiện sự cân bằng động giữa cứng rắn và đối thoại. Nhìn xuyên suốt lịch sử quan hệ Pháp-Nga, lợi ích chung giữa Pháp và Nga càng nhiều, quan hệ giữa hai bên càng gắn bó. Ngược lại, khi Pháp cho rằng mối đe dọa từ Nga đối với bản thân và châu Âu gia tăng, Pháp sẽ có thái độ cứng rắn hơn. Trước xung đột Nga-Ukraine, Pháp áp dụng chính sách chủ yếu là đối thoại với Nga, kết hợp với trừng phạt cứng rắn. Trong giai đoạn đầu của xung đột Nga-Ukraine, Pháp vẫn kiên trì trừng phạt Nga, đồng thời tích cực đối thoại với Nga. Nhưng khi cuộc xung đột Nga-Ukraine kéo dài, dưới tác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, Pháp ngày càng cứng rắn với Nga, ngày càng ít đề cập đến “đối thoại”. Macron gần đây chỉ ra: “Xung đột Nga-Ukraine chẳng khác nào áp dụng ‘kẻ mạnh làm vua’, hòa bình của lục địa châu Âu sẽ không thể được bảo đảm.” Phát ngôn này cũng được cho là khác biệt lớn so với lập trường ban đầu trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang.
Thứ hai, trong ràng buộc thể chế, thể hiện sự tái cân bằng giữa độc lập và phụ thuộc. Trong quan hệ với Nga, Pháp vừa thể hiện mặt độc lập tự chủ, vừa thể hiện mặt thỏa hiệp với EU và các đồng minh phương Tây. Trước xung đột Nga-Ukraine, Macron đã có những phát ngôn như “NATO chết não”, cho rằng để thực hiện tự chủ chiến lược cần tăng cường hợp tác với Nga, và còn kêu gọi khôi phục đối thoại với Nga trong EU. Trong giai đoạn đầu của xung đột Nga-Ukraine, EU đã áp dụng chính sách trừng phạt cứng rắn đối với Nga, nhưng Pháp vẫn không từ bỏ đối thoại với Nga, thái độ của Pháp đối với Nga thể hiện tính độc lập nhất định. Tuy nhiên, khi xung đột Nga-Ukraine được người châu Âu coi là vấn đề an ninh của chính họ, sự đoàn kết giữa các nước thành viên EU tăng lên đáng kể, “viện trợ Ukraine chống Nga” trở thành xu hướng chủ đạo, Pháp cũng vấp phải sự chỉ trích từ một số nước thành viên EU và các đồng minh phương Tây. Trong bối cảnh đó, Pháp vừa muốn trở thành nhà lãnh đạo EU, vừa muốn thể hiện “tính độc lập” của mình với chi phí gia tăng đáng kể, vì vậy cần điều chỉnh thái độ đối với Nga. Bởi vì muốn trở thành nhà lãnh đạo châu Âu, nên phải bị “Âu hóa” chi phối lập trường chính sách của mình, điều này ở một mức độ nào đó đã làm suy yếu tính độc lập trong ngoại giao của Pháp.
Thứ ba, trong tự chủ chiến lược, thể hiện sự tái cân bằng giữa thực lực và khả năng chuyển biến thực lực thành hành động. Trong những năm gần đây, Chính phủ Pháp phải đối mặt với vô số khủng hoảng và thách thức. Trước hết, các vấn đề chính trị trong nước phức tạp đan xen. Cục diện hai đảng lớn truyền thống của Pháp tan rã, chính trị đảng phái trong nước có xu hướng phân cực và phân mảnh, đảng của Macron mất đa số ghế trong Quốc hội, chính phủ thay đổi thường xuyên, khó đạt được đồng thuận thông qua thương lượng. Thứ hai, tài chính Pháp lâm vào khó khăn, thâm hụt ngày càng tăng, lạm phát cao, các vấn đề năng lượng và đời sống dân sinh nổi lên. Thứ ba, tự chủ phòng thủ châu Âu chưa được thiết lập hoàn chỉnh, an ninh phòng thủ châu Âu hiện tại vẫn cần dựa vào sự hỗ trợ và che chở của NATO. Nhìn xuyên suốt lịch sử ngoại giao Pháp, các biện pháp ngoại giao độc lập luôn cần có nền tảng kinh tế, quân sự và chính trị nhất định, đây cũng là lý do tại sao Pháp chỉ tuyên bố rút khỏi cơ cấu tích hợp quân sự NATO sau khi đạt được đột phá hạt nhân, và lý do tại sao khi Pháp gặp khủng hoảng trong nước hoặc mối đe dọa bên ngoài gia tăng, tính độc lập trong ngoại giao lại bị suy yếu.
Kết luận
Ngoại giao độc lập của Pháp một lần nữa được chứng minh trong sự phát triển của quan hệ Pháp-Nga. Sau Chiến tranh Lạnh, Nga được Pháp coi là điểm tựa chiến lược cho ngoại giao độc lập của mình, để cân bằng ảnh hưởng của Mỹ đối với châu Âu, và cố gắng cùng nhau xây dựng thế giới đa cực. Tuy nhiên, sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang năm 2022, môi trường bên trong và bên ngoài của ngoại giao Pháp đã thay đổi mạnh mẽ, lập trường chính sách của Pháp đối với Nga, quan hệ kinh tế thương mại với Nga và định vị chiến lược đối với Nga đều có những điều chỉnh lớn, thể hiện ngoại giao độc lập của Pháp có mặt giới hạn. Pháp chuyển từ người hòa giải cuộc khủng hoảng Ukraine sang người ủng hộ viện trợ Ukraine chống Nga, đồng thời thay đổi nhận thức và định vị về Nga trong lĩnh vực an ninh, từ kỳ vọng cùng Nga xây dựng khuôn khổ an ninh châu Âu, chuyển sang xây dựng tự chủ phòng thủ châu Âu để ngăn chặn mối đe dọa mà Nga có thể gây ra cho châu Âu, và đang đẩy nhanh hiện thực hóa tầm nhìn “tự chủ chiến lược ở châu Âu” mà mình đề xuất. Ngoại giao Pháp đối với Nga dưới tác động của truyền thống ngoại giao độc lập thể hiện các đặc điểm: tái cân bằng giữa cứng rắn và đối thoại, tái cân bằng giữa độc lập và phụ thuộc, tái cân bằng giữa thực lực và khả năng hành động. Nhưng dù định vị và chính sách của Pháp đối với Nga có thay đổi như thế nào, đều là nhằm phục vụ cho mục tiêu Pháp dựa vào châu Âu để trở lại cường quốc hàng đầu thế giới.
Trong tương lai, chính sách của Pháp đối với Nga có thể sẽ phản ánh thêm sự cân nhắc tổng hợp giữa lợi ích an ninh ngắn hạn và lợi ích chiến lược dài hạn.
Khả năng đầu tiên là chính sách của Pháp đối với Nga sẽ theo đuổi cách tiếp cận linh hoạt, thực tế, phục vụ tầm nhìn của Pháp về việc đạt được “độc lập” và “sức mạnh” thông qua châu Âu. Trong kịch bản này, lập trường của Pháp đối với Nga sẽ phụ thuộc vào lập trường nào củng cố vai trò lãnh đạo của Pháp ở châu Âu và ảnh hưởng của nước này trong các vấn đề quốc tế. Logic này phù hợp với các theo đuổi ngoại giao nhất quán của Pháp và do đó là kịch bản có nhiều khả năng xảy ra hơn.
Khả năng thứ hai là Pháp sẽ duy trì lập trường chống Nga kiên quyết. Xung đột Nga-Ukraine đã kéo dài hơn bốn năm, và các xung đột khu vực mới, ở một mức độ nào đó, đã ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán hòa bình Nga-Ukraine, làm tăng thêm sự bất ổn cho quỹ đạo của xung đột. Kịch bản này khó có thể thay đổi trong ngắn hạn, và liệu nó có thay đổi trong dài hạn hay không sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của xung đột và kết quả của các cuộc đàm phán hòa bình Nga-Ukraine.
Khả năng thứ ba là Pháp sẽ tái hòa nhập Nga vào khuôn khổ an ninh châu Âu. Thông thường, kịch bản này khó có thể xảy ra trong ngắn hạn. Tuy nhiên, Pháp sẽ tổ chức bầu cử quốc hội vào năm 2027, và đảng cực hữu Tập hợp Quốc gia đang dẫn đầu trong một số cuộc thăm dò. Nếu Tập hợp Quốc gia thắng cử tổng thống năm 2027, lập trường của họ về hội nhập châu Âu và NATO có thể tìm thấy nhiều điểm chung hơn với Nga, có khả năng dẫn đến một sự thay đổi khác trong chính sách của Pháp đối với Nga.
Ba kịch bản này là kết quả của sự kết hợp giữa những thay đổi bên trong chính nước Pháp, tình hình đang diễn biến ở Nga và Ukraine, và môi trường quốc tế đang thay đổi. Chúng cũng phụ thuộc vào những lựa chọn cuối cùng của Pháp liên quan đến độc lập so với những ràng buộc, lợi ích so với nhiệm vụ. Sự phát triển của chính sách Pháp đối với Nga sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến chính sách tương lai của EU đối với Nga, cũng như cấu trúc quyền lực và trật tự an ninh trên khắp lục địa Á-Âu./.
Lược dịch: Hoàng Hải
Tác giả Long Hy thuộc Viện Nghiên cứu Nga, Đông Âu và Trung Á, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]






















