Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Phân tích

Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran 2026: Triển vọng và thách thức nhìn từ bài học đổ vỡ của JCPOA 2018.

20/06/2026
in Phân tích, Quốc phòng - an ninh
A A
0
Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran 2026: Triển vọng và thách thức nhìn từ bài học đổ vỡ của JCPOA 2018.
0
SHARES
5
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran năm 2026 (Bản ghi nhớ Islamabad) được ký kết từ xa bằng hình thức điện tử vào ngày 17/6/2026, đánh dấu một bước ngoặt ngoại giao nhằm chấm dứt cuộc chiến khốc liệt kéo dài hơn 3 tháng giữa Mỹ – Israel và Iran. Được thúc đẩy bởi Tổng thống Donald Trump và đối tác phía Iran dưới sự trung gian của Pakistan, thỏa thuận này thiết lập một lệnh ngừng bắn lập tức, mở lại eo biển Hormuz mang tính chiến lược và kích hoạt thời hạn 60 ngày để đàm phán một nền hòa bình lâu dài. Nhìn từ bài học đổ vỡ của Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA 2018), thỏa thuận mới mang cả những kỳ vọng hạ nhiệt to lớn lẫn những thách thức mang tính hệ thống.

Sự đổ vỡ lòng tin năm 2018

Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA), hay còn gọi là Thỏa thuận Hạt nhân Iran 2015, là một hiệp định ngoại giao mang tính lịch sử được ký kết vào ngày 14/7/2015. Thỏa thuận này đạt được sau gần hai năm đàm phán căng thẳng giữa Iran và nhóm P5+1 (gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc cộng với Đức) cùng Liên minh Châu Âu (EU).

Bản chất của JCPOA là một thỏa thuận trao đổi mang tính thực dụng, Iran kiềm chế năng lượng hạt nhân đổi lấy việc dỡ bỏ cấm vận kinh tế.

Phía Iran phải cam kết giới hạn làm giàu Uranium, cắt giảm 98% kho dự trữ uranium và chỉ được phép làm giàu uranium ở mức 3,67% (mức dân sự, cách rất xa mức 90% để chế tạo vũ khí); cắt giảm công nghệ, giảm 2/3 số lượng máy ly tâm, vô hiệu hóa lò phản ứng nước nặng Arak và không xây dựng cơ sở hạt nhân mới; và cho phép Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) tiếp cận và thanh sát liên tục, bất ngờ các cơ sở hạt nhân.[1] Còn về phía quốc tế (P5+1) thì cam kết dỡ bỏ các lệnh trừng phạt kinh tế, tài chính nghiêm trọng liên quan đến hạt nhân từ Liên Hợp Quốc, Mỹ và EU. Mở cửa cho Iran tiếp cận hệ thống tài chính quốc tế và tái xuất khẩu dầu mỏ.

Tuy nhiên, đến tháng 5/2018, Tổng thống Mỹ khi đó là Donald Trump đơn phương tuyên bố rút Hoa Kỳ khỏi JCPOA và tái áp đặt các biện pháp trừng phạt khắc nghiệt lên Iran. Hành động này kích hoạt chuỗi hiệu ứng domino khiến thỏa thuận sụp đổ hoàn toàn.

Chính quyền Trump chỉ trích JCPOA là một “thỏa thuận tồi tệ nhất lịch sử” với hai lý do chính. Thứ nhất, phía Mỹ cho rằng với các lệnh giới hạn hạt nhân đối với Iran có thời hạn (chỉ kéo dài từ 10 đến 15 năm), điều này Mỹ lo ngại sau khi hết hạn, Iran sẽ danh chính ngôn thuận chế tạo bom nguyên tử. Thứ hai, bỏ sót các mối đe dọa khác khi JCPOA không kiểm soát chương trình phát triển tên lửa đạn đạo của Iran và không ngăn chặn việc Tehran tài trợ cho các lực lượng ủy nhiệm (Hezbollah, Houthi) tại Trung Đông.[2]

Bên cạnh đó, sự đổ vỡ của thỏa thuận 2015 này, cũng được lý giải rằng, JCPOA chỉ được ký dưới dạng một thỏa thuận hành chính của chính quyền Tổng thống Barack Obama mà không được Quốc hội Mỹ phê chuẩn thành một Hiệp ước quốc tế có tính ràng buộc pháp lý vĩnh viễn. Do đó, tổng thống kế nhiệm hoàn toàn có quyền dùng sắc lệnh hành pháp để hủy bỏ đơn phương. Mặt khác, cả Israel và Saudi Arabia (những đối thủ không đội trời chung của Iran tại khu vực) đều kịch liệt phản đối JCPOA ngay từ ngày đầu. Họ cho rằng việc dỡ bỏ trừng phạt giúp Iran có thêm hàng tỷ USD để gia tăng tầm ảnh hưởng quân sự, đe dọa trực tiếp đến an ninh của họ.

Sau khi Mỹ rút lui và áp dụng chính sách “áp lực tối đa”, nền kinh tế Iran rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Nhận thấy các nước châu Âu còn lại không thể bảo vệ lợi ích kinh tế của mình trước lệnh trừng phạt của Mỹ, Iran đã trả đũa bằng cách lần lượt đình chỉ các cam kết tự nguyện trong JCPOA từ năm 2019. Và tái khởi động máy ly tâm tiên tiến và tăng mức làm giàu uranium vượt ngưỡng quy định (đạt mức 20%, sau đó là 60% vào các năm sau đó).

Sự đổ vỡ của JCPOA 2018 đã đẩy Trung Đông vào một vòng xoáy bất ổn mới, hủy hoại lòng tin chiến lược giữa Washington và Tehran. Nó biến hồ sơ hạt nhân Iran trở thành một quả bom hẹn giờ nguy hiểm hơn, buộc các bên phải trải qua nhiều năm xung đột căng thẳng trước khi chấp nhận ngồi lại đàm phán và tiến tới Bản ghi nhớ Islamabad 2026.

Biến động cục diện sau 9 năm giằng co

Ngày 28/2/2026 liên quân Mỹ – Israel bất ngờ phát động chiến dịch không kích quy mô lớn vào Iran. Cuộc tấn công đã hạ sát Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei cùng nhiều quan chức cấp cao của Tehran. Nhằm trả đũa, Iran phóng loạt tên lửa và máy bay không người lái (UAV) vào Israel và các căn cứ Mỹ vùng Vịnh. Đồng thời, Tehran tiến hành gài thủy lôi, phong tỏa toàn bộ eo biển Hormuz tuyến hải trình huyết mạch vận chuyển 20% lượng dầu thô thế giới.[3] Sau gần 4 tháng giao tranh, cuộc chiến khiến hơn 3.400 người tử vong tại Iran và 13 binh sĩ Mỹ thiệt mạng.[4] Việc phong tỏa eo biển Hormuz làm tê liệt ngành vận tải biển, đẩy giá năng lượng toàn cầu tăng phi mã và đe dọa trực tiếp đến suy thoái kinh tế thế giới.

Nhận thấy hậu quả kinh tế quá lớn, Mỹ áp đặt lệnh phong tỏa hải quân toàn diện lên các cảng của Iran để gây áp lực. Đến đầu tháng 4/2026, hai bên đạt được một lệnh ngừng bắn tạm thời và bắt đầu bước vào các vòng đàm phán bí mật. Sau nhiều tuần thương lượng căng thẳng qua trung gian Pakistan, ngày 17/6/2026, nội dung văn kiện 14 điểm chính thức được thông qua bằng hình thức điện tử. Đến ngày 18/6/2026 và 19/6/2026, Hải quân Mỹ đã bắt đầu gỡ phong tỏa, cho phép những tàu chở dầu đầu tiên của Iran chính thức rời cảng vượt qua eo biển Hormuz.[5]

Bản thỏa thuận sơ bộ 14 điểm ngày 17/6 này đóng vai trò như một giải pháp đóng băng chiến sự khẩn cấp. Nó tạo ra khoảng lặng an ninh 60 ngày để các bên thương lượng một hiệp ước hòa bình lâu dài hơn.

Các điều khoản cốt lõi được thông qua. Hai bên đồng ý dừng ngay lập tức các hoạt động quân sự trên mọi mặt trận, bao gồm cả các khu vực liên quan tại Lebanon. Mỹ cam kết gỡ bỏ hoàn toàn lệnh phong tỏa hải quân đối với Iran trong vòng 30 ngày để khôi phục giao thương hàng hải quốc tế. Mỹ bắt đầu cấp các quyền miễn trừ trừng phạt, cho phép Iran xuất khẩu dầu thô trở lại và mở phong tỏa khối tài sản trị giá hàng tỷ USD (ước tính khoảng 25 tỷ USD). Phía Iran chấp nhận giữ nguyên trạng chương trình hạt nhân hiện tại và tiến hành “pha loãng” kho dự trữ uranium làm giàu dưới sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).[6]  

Tuy nhiên, thỏa thuận sơ bộ này vẫn cố tình gác lại các vấn đề nhạy cảm nhất để thương lượng trong vòng 60 ngày tới. Trong đó, tương lai chương trình hạt nhân với mục tiêu cốt lõi của Mỹ là ngăn chặn hoàn toàn khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân của Iran vẫn chưa có giải pháp triệt để. Các lực lượng thân Iran như Hezbollah hay mạng lưới tên lửa đạn đạo của Tehran vẫn hoàn toàn nằm ngoài thỏa thuận sơ bộ, khiến đồng minh của Mỹ là Israel phản đối kịch liệt. Một số thỏa thuận đã đạt được nhưng cả hai bên đều duy trì thái độ hoài nghi. Tổng thống Donald Trump đã cảnh báo Mỹ sẵn sàng tiếp tục các chiến dịch không kích nếu đàm phán thất bại, trong khi các quan chức Iran tuyên bố “vẫn đặt tay lên cò súng” nếu Washington vi phạm cam kết.

Triển vọng từ thỏa thuận sơ bộ tháng 6/2026

Đối với cục diện thế giới và kinh tế toàn cầu

Một, thỏa thuận sơ bộ tháng 6/2026 đóng vai trò như một van xả áp khẩn cấp cho nền kinh tế toàn cầu vốn đang kiệt quệ vì “lạm phát đình đốn”.

Bằng cách dỡ bỏ lệnh phong tỏa eo biển Hormuz, thỏa thuận này đã tấn công trực diện vào gốc rễ của cuộc khủng hoảng chi phí đẩy, mang lại sự ổn định cho chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế. Eo biển Hormuz được coi như động mạch chủ của ngành năng lượng thế giới. Nơi đây lưu thông hơn 21 triệu thùng dầu mỗi ngày (tương đương 20 – 21% lượng tiêu thụ toàn cầu) và chiếm tới 1/5 tổng lượng khí hóa lỏng (LNG) toàn thế giới. Ngay sau khi thỏa thuận sơ bộ được công bố ký kết, giá dầu thô Brent lập tức lao dốc mạnh từ mức đỉnh điểm đầy biến động của cuộc xung đột (trên 110 USD/thùng) xuống vùng an toàn. Cụ thể, chiều 18/6/2026, giá dầu Brent Biển Bắc giảm 2,14 USD (2,69%) xuống 77,41 USD/thùng. Giá dầu thô ngọt nhẹ của Mỹ (WTI) giảm 2,36 USD (3,07%) xuống 74,43 USD/thùng.[7]

Nhìn lại năm 2018 khi chính quyền Donald Trump đơn phương rút khỏi Thỏa thuận Hạt nhân (JCPOA) và áp đặt chiến dịch “Áp lực tối đa”, Mỹ đã cắt đứt hơn 1,5 triệu thùng dầu xuất khẩu mỗi ngày của Iran ra khỏi thị trường chính ngạch. Động thái này khiến giá dầu Brent tăng vọt từ 60 USD lên mức đỉnh gần 86 USD/thùng vào cuối năm 2018, kích hoạt chu kỳ lạm phát năng lượng kéo dài cấu trúc.[8]

Năm 2026 mở ra những triển vọng mới, nhờ quyền miễn trừ xuất khẩu dầu thô được cấp lại trong thỏa thuận mới, Iran có thể tái cung ứng dầu vào thị trường thương mại toàn cầu đang khan hiếm nguồn cung. Sự hạ nhiệt từ áp lực địa chính trị nhờ thỏa thuận Mỹ – Iran cũng có thể góp phần loại bỏ phụ phí rủi ro trên thị trường năng lượng, đưa giá dầu thô thế giới ổn định trở lại quanh mức cân bằng thực tế. Hiệu ứng domino này xảy ra, sẽ hỗ trợ Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) giảm bớt áp lực lạm phát ngắn hạn khoảng 0,1% – 0,2%. Diễn biến này mở ra dư địa để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) tiếp tục lộ trình hạ lãi suất từng bước một cách thận trọng, củng cố niềm tin tiêu dùng và hỗ trợ tăng trưởng GDP toàn cầu phục hồi ổn định. Tuy nhiên, tác động của Bản ghi nhớ Islamabad không chỉ dừng lại ở việc thiết lập lại trật tự giá cả trên bảng điện tử của các sàn giao dịch dầu mỏ. Đằng sau sự hạ nhiệt của dòng chảy năng lượng là một sự thay đổi sâu sắc hơn về cấu trúc quyền lực quốc tế. Cách thức mà thỏa thuận này được hình thành đã vô tình phơi bày sự dịch chuyển mang tính bước ngoặt của bàn cờ ngoại giao toàn cầu, nơi phương Tây không còn giữ thế độc tôn.

Hai, thỏa thuận lần này mở ra những tác động đa chiều trong ngoại giao đa phương

Việc Pakistan đóng vai trò chủ trì và làm trung gian hòa giải cốt lõi cho Bản ghi nhớ Islamabad 2026 là một dấu mốc lịch sử. Diễn biến này minh chứng cho sự rạn nứt cấu trúc quyền lực ngoại giao truyền thống của phương Tây, đồng thời phác họa rõ nét một thế giới đa cực mới, nơi các cường quốc tầm trung thuộc khối Global South (Nam bán cầu) bắt đầu nắm quyền quyết định cục diện. Khung JCPOA đổ vỡ năm 2018 được xây dựng vững chắc trên cơ chế P5+1 (Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc + Đức) do phương Tây hoàn toàn định hình chương trình nghị sự nhưng không đạt được kết quả như mong đợi. Ngược lại, thỏa thuận 2026 lần này cho thấy một cách tiếp cận trực diện, bảo mật và mang tính thực dụng cao được bảo trợ bởi Pakistan, quốc gia sở hữu đường biên giới chung dài hơn 900km với Iran, đồng thời có mối quan hệ quốc phòng – chiến lược đan xen với cả Washington lẫn Bắc Kinh.

Thông qua thỏa thuận lần này vị thế của Trung Quốc và Châu Âu cũng có những thay đổi đáng kể. Trung Quốc (quốc gia đã âm thầm hấp thụ hơn 90% dầu thô xuất khẩu của Iran trong giai đoạn bị cấm vận thông qua hệ thống “hạm đội ma”)[9] và EU là những chủ thể được giải phóng áp lực lớn nhất. Sự ổn định tại Hormuz giúp Bắc Kinh bảo toàn tuyến đường hàng hải huyết mạch của sáng kiến “Vành đai, Con đường”, đồng thời nâng cao vị thế ngoại giao gián tiếp của Trung Quốc khi nước này đứng sau hậu thuẫn vai trò hòa giải của Pakistan. Dẫu vậy, việc tái định hình cấu trúc đa cực và những tín hiệu khởi sắc của kinh tế vĩ mô chưa thể đảm bảo cho một tương lai bền vững. Lịch sử Trung Đông đã nhiều lần chứng minh rằng, những văn bản được ký kết trong vội vã thường chứa đựng những lỗ hổng chết người. Khi những hân hoan ban đầu qua đi, các bên ký kết lập tức phải đối mặt với một thực tế khắc nghiệt rằng một thỏa thuận được xây dựng trên sự hoài nghi sẽ luôn phải vận hành dưới bóng ma của sự đổ vỡ.

Đối với nước Mỹ (Chính quyền Donald Trump)

Khi dòng chảy năng lượng thế giới bước đầu được khơi thông và trật tự đa cực mới dần hình thành, tác động lan tỏa của Bản ghi nhớ Islamabad lập tức dội ngược về bờ bên kia Đại Tây Dương. Đối với Washington, thỏa thuận tháng 6/2026 không chỉ là một văn kiện ngoại giao đơn thuần, mà đã trở thành một đòn bẩy chiến lược hoàn hảo giúp chính quyền Donald Trump hiện thực hóa học thuyết “Nước Mỹ trên hết” trên cả hai mặt trận đối nội và đối ngoại.

Một, hiện thực hóa cam kết khi tranh cử và củng cố vị thế đối nội.

Bản ghi nhớ là một thắng lợi chính trị nội trị mang tính biểu tượng cực kỳ lớn cho Donald Trump. Nó giúp ông đập tan các chỉ trích từ phe đối lập và chứng minh với cử tri Mỹ rằng học thuyết ngoại giao giao dịch của ông mang lại hiệu quả thực tế, trực tiếp phục vụ lợi ích của người dân Mỹ. Việc đạt được thỏa thuận ngừng bắn giúp Mỹ tránh được nguy cơ bị kéo vào một cuộc chiến tranh tổng lực hao người tốn của tại Trung Đông, kịch bản mà các đời Tổng thống trước thường vấp phải. Cùng với đó, hiệu ứng thị trường tài chính Mỹ có những sắc màu tươi sáng. Theo một vài nguồn tin tổng hợp, việc thỏa thuận hòa bình và khơi thông eo biển Hormuz diễn ra đã ngay lập tức tạo tâm lý hưng phấn, giúp S&P 500, Nasdaq và Dow Jones lập đỉnh mới hoặc phục hồi mạnh mẽ.[10] Điều này góp phần kìm hãm phần nào đà lao dốc trước đó do lo ngại thiếu hụt nguồn cung.

Trong nhiệm kỳ đầu, ông Trump từng thúc đẩy Hiệp định Abraham (2020) nhằm bình thường hóa quan hệ giữa Israel và các nước Ả Rập, tạo ra một liên minh chống Iran nhưng chưa thể giải quyết tận gốc ngòi nổ xung đột trực tiếp với Tehran. Thỏa thuận tháng 6/2026 thể hiện một bước đi táo bạo hơn khi ông Trump trực tiếp đàm phán và chốt đơn với chính đối thủ truyền kiếp của Mỹ. Đây là sự nâng cấp tư duy từ “bao vây cô lập” sang “kiểm soát thực dụng”, ghi dấu ấn một vị Tổng thống có khả năng kiến tạo hòa bình bằng vị thế sức mạnh.

Hai, giải phóng nguồn lực và tái định vị chiến lược toàn cầu.

Về dài hạn, ý nghĩa chiến lược lớn nhất của thỏa thuận Mỹ – Iran nằm ở khả năng giúp Washington giảm bớt gánh nặng an ninh tại Trung Đông để tập trung nguồn lực cho các ưu tiên địa chính trị quan trọng hơn. Trong những thập niên qua, các cuộc chiến và chiến dịch quân sự của Mỹ tại Trung Đông đã tiêu tốn trên 8.000 tỷ USD, trong đó bao gồm khoảng 5.800 tỷ USD đã chi trực tiếp phân bổ cho các chiến dịch quân sự tại nước ngoài (gồm Afghanistan, Iraq, Syria), tăng ngân sách cơ bản cho Bộ Quốc phòng Mỹ, ngân sách An ninh Nội địa, và khoảng 1.000 tỷ USD là tiền lãi phát sinh từ các khoản vay phục vụ chiến tranh (do Mỹ tài trợ chiến tranh chủ yếu bằng nợ công). Ít nhất 2.200 tỷ USD cam kết trong tương lai là nghĩa vụ bắt buộc để chăm sóc y tế, trợ cấp cho các cựu chiến binh bị thương tật sau cuộc chiến trong vòng 30 năm tới.[11] Trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn đang trở thành trọng tâm chiến lược, việc tiếp tục bị cuốn vào các vòng xoáy xung đột Trung Đông tạo ra chi phí cơ hội ngày càng lớn đối với Mỹ.

Nếu thỏa thuận giúp kiểm soát được nguy cơ đối đầu với Iran, Washington sẽ có điều kiện giảm bớt việc triển khai thường trực các nhóm tác chiến tàu sân bay, hệ thống phòng thủ tên lửa và lực lượng viễn chinh tại vùng Vịnh, qua đó tiết kiệm hàng chục tỷ USD chi phí quân sự mỗi năm. Quan trọng hơn, các nguồn lực quân sự, tình báo và ngoại giao được giải phóng có thể được tái phân bổ cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc, đồng thời duy trì cam kết với NATO trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn. Theo nghĩa đó, thỏa thuận không chỉ góp phần ổn định Trung Đông mà còn giúp Mỹ tránh nguy cơ dàn trải chiến lược trên nhiều mặt trận cùng lúc, qua đó phục vụ mục tiêu tái định vị ưu tiên quyền lực trong giai đoạn cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt hiện nay.

Ba, tạo dựng vị thế thượng tôn trong việc thiết lập luật chơi mới.

Bên cạnh lợi ích an ninh và chiến lược, thỏa thuận sơ bộ với Iran còn mở ra cơ hội để Mỹ tái khẳng định vai trò trung tâm trong việc định hình các quy tắc quản trị quốc tế. Dù Pakistan đóng vai trò trung gian hòa giải, Washington vẫn là chủ thể nắm giữ đòn bẩy quyết định nhờ kiểm soát hệ thống tài chính toàn cầu và cơ chế trừng phạt kinh tế. Nếu năm 2018, việc đơn phương rút khỏi JCPOA khiến Mỹ đối mặt với nhiều chỉ trích từ các đồng minh châu Âu và làm dấy lên những nỗ lực giảm phụ thuộc vào đồng USD thông qua cơ chế INSTEX, thì năm 2026, chính quyền Trump đang chuyển từ vị thế của một bên phá vỡ luật chơi sang vai trò của bên thiết kế luật chơi mới. Điểm đáng chú ý là Washington không chỉ sử dụng các lệnh trừng phạt như một công cụ cưỡng ép, mà còn biến chúng thành một cơ chế khuyến khích có điều kiện. Đề xuất gói phục hồi kinh tế trị giá khoảng 300 tỷ USD cho Iran về thực chất tạo ra một mô hình “thưởng – phạt” do Mỹ kiểm soát, trong đó các lợi ích kinh tế chỉ được giải ngân theo từng giai đoạn tương ứng với mức độ tuân thủ các cam kết hạt nhân của Tehran. Điều này giúp Washington duy trì đòn bẩy ảnh hưởng lâu dài mà không cần dựa hoàn toàn vào sức ép quân sự.

Ở góc độ rộng hơn, nếu được triển khai thành công, thỏa thuận sẽ củng cố vai trò của Mỹ như trung tâm điều phối các dòng chảy tài chính và thương mại liên quan đến Iran. Không chỉ Tehran, mà cả các đối tác kinh tế lớn như châu Âu, Trung Quốc hay các quốc gia vùng Vịnh cũng sẽ phải điều chỉnh chính sách đầu tư, thương mại và năng lượng theo khuôn khổ nới lỏng hoặc tái áp đặt trừng phạt do Washington dẫn dắt. Theo nghĩa đó, triển vọng lớn nhất của thỏa thuận không đơn thuần là giải quyết một cuộc khủng hoảng khu vực, mà còn giúp Mỹ tái khẳng định năng lực thiết lập luật chơi và duy trì ảnh hưởng trong trật tự quốc tế đang có xu hướng phân tán quyền lực ngày càng rõ nét, nâng vị thế của Mỹ lên thành quốc gia bảo chứng cho an ninh kinh tế toàn cầu, buộc cả châu Âu lẫn Trung Quốc phải vận hành theo lộ trình nới lỏng trừng phạt do Washington thiết kế.

Đối với Iran

Ở chiều ngược lại của bàn cờ địa chính trị, văn kiện này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Cộng hòa Hồi giáo Iran. Mặc dù mới chỉ là một bản ghi nhớ điện tử và chưa được cụ thể hóa bằng các cam kết pháp lý ràng buộc, nhưng vẫn mở ra cho Tehran một lối thoát ngoại giao đáng chú ý sau nhiều tháng đối mặt với áp lực quân sự, kinh tế và ngoại giao ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh cuộc gặp trực tiếp giữa hai bên tại Geneva đã bị hủy bỏ và tiến trình đàm phán vẫn đứng trước nhiều bất định, giá trị lớn nhất của văn kiện hiện nay không nằm ở những lợi ích vật chất tức thời, mà ở việc nó tạo ra cơ sở chính trị ban đầu cho một quá trình hòa dịu có khả năng làm thay đổi môi trường chiến lược mà Iran đang phải đối mặt. Triển vọng quan trọng nhất đối với Tehran là khả năng từng bước giảm bớt áp lực kinh tế kéo dài nhiều năm dưới tác động của các lệnh trừng phạt. Nếu khung đàm phán 60 ngày tiếp tục được duy trì và chuyển hóa thành các thỏa thuận cụ thể hơn, Iran có thể tiếp cận cơ hội khôi phục một phần hoạt động xuất khẩu dầu khí chính ngạch, lĩnh vực vốn đóng góp tỷ trọng lớn cho nguồn thu ngân sách quốc gia.

Những tín hiệu về khả năng nới lỏng cấm vận hoặc thiết lập cơ chế hỗ trợ phục hồi kinh tế, dù còn ở mức sơ bộ, cũng góp phần tạo ra kỳ vọng tích cực đối với thị trường trong nước. Trong điều kiện nền kinh tế Iran vẫn đang chịu áp lực từ lạm phát cao, đồng Rial mất giá và tỷ lệ thất nghiệp đáng kể, việc xuất hiện một triển vọng cải thiện quan hệ với Mỹ có thể giúp củng cố niềm tin của giới đầu tư và giảm bớt tâm lý bất ổn trên thị trường tài chính.

Về phương diện chính trị đối nội, bản ghi nhớ cũng tạo thêm dư địa cho đường lối ngoại giao thực dụng của Tổng thống Masoud Pezeshkian và phe cải cách. Dù còn quá sớm để khẳng định thành công, việc Mỹ chấp nhận nối lại đối thoại trong khi không đặt điều kiện Iran phải tháo dỡ hoàn toàn chương trình hạt nhân cho phép chính quyền Tehran chứng minh rằng con đường đàm phán vẫn có thể mang lại những kết quả nhất định mà không nhất thiết phải đánh đổi các lợi ích an ninh cốt lõi. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý so với bối cảnh sau khi JCPOA sụp đổ năm 2018, khi Iran gần như không có nhiều lựa chọn ngoài việc đối phó với sức ép ngày càng gia tăng từ bên ngoài. Tuy nhiên, triển vọng này vẫn phụ thuộc rất lớn vào khả năng duy trì đồng thuận trong nội bộ Iran cũng như việc Mỹ có sẵn sàng chuyển các cam kết chính trị thành hành động thực tế hay không.

Ở cấp độ đối ngoại, bản ghi nhớ Islamabad trước mắt giúp Iran phá vỡ phần nào trạng thái đối đầu toàn diện với phương Tây, đồng thời mở ra cơ hội cải thiện vị thế ngoại giao trong khu vực. Việc Pakistan đóng vai trò trung gian cho thấy Tehran vẫn có khả năng tận dụng mạng lưới quan hệ với các đối tác khu vực để tạo ra không gian đàm phán mới. Nếu tiến trình hòa dịu được duy trì trong những thỏa thuận tiếp theo, Iran có thể từng bước mở rộng hợp tác kinh tế với Trung Quốc, các nước vùng Vịnh và một số đối tác châu Âu đang quan tâm đến đa dạng hóa nguồn cung năng lượng. Tuy nhiên, những triển vọng này hiện vẫn mang tính điều kiện, bởi bất kỳ sự đổ vỡ nào trong giai đoạn đàm phán sắp tới cũng có thể khiến các tính toán của doanh nghiệp và đối tác quốc tế nhanh chóng đảo chiều.

Đối với các bên liên đới (Israel và các lực lượng ủy nhiệm)

Sự dịch chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại giữa hai trục quyền lực Washington và Tehran không chỉ mang lại xung lực mới cho hai bên ký kết, mà còn tạo ra tác động lan tỏa mạnh mẽ đến các bên liên đới trực tiếp trong vòng xoáy địa chính trị Trung Đông. Đối với Nhà nước Do Thái Israel và hệ thống các lực lượng ủy nhiệm thuộc Trục kháng chiến, thỏa thuận với điều khoản cốt lõi là chấm dứt chiến sự trên tất cả các mặt trận đã mở ra những triển vọng an ninh và cơ hội củng cố chiến lược mang tính bước ngoặt.

Đối với Israel

Phản ứng chính thức đối với thỏa thuận vẫn mang màu sắc thận trọng và hoài nghi sâu sắc. Thủ tướng Benjamin Netanyahu đã công khai tuyên bố Israel không phải là một bên của thỏa thuận và nhấn mạnh quyền tự do hành động trước những gì Tel Aviv coi là các mối đe dọa an ninh từ Iran. Trong mắt nhiều quan chức an ninh và giới phân tích Israel, việc Tehran chỉ chấp nhận đóng băng thay vì từ bỏ hoàn toàn các năng lực hạt nhân nhạy cảm khó có thể được xem là một giải pháp lâu dài.

Tuy nhiên, bên cạnh những lo ngại chiến lược đó, thỏa thuận sơ bộ vẫn có thể mang lại cho Israel một số lợi ích thực tiễn trong ngắn hạn nếu tiến trình hòa dịu được duy trì.

Trong đó, việc giảm nguy cơ đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Iran có thể góp phần hạ nhiệt môi trường an ninh khu vực, qua đó giảm bớt áp lực đối với Israel trong bối cảnh nước này đã phải đối mặt với nhiều mặt trận cùng lúc trong thời gian qua. Nếu các điều khoản ngừng bắn liên quan đến Lebanon và các lực lượng ủy nhiệm được thực thi, Tel Aviv sẽ có thêm dư địa để ổn định tình hình tại khu vực biên giới phía Bắc, nơi mối đe dọa từ Hezbollah từ lâu đã được xem là một trong những thách thức an ninh nghiêm trọng nhất. Đối với Israel, giá trị lớn nhất của thỏa thuận không nằm ở việc thay đổi nhận thức về Iran, mà ở khả năng tạo ra một khoảng lặng chiến lược tạm thời, cho phép nước này tái cơ cấu lực lượng, phục hồi các khu vực kinh tế chịu tác động của xung đột và giảm áp lực từ một môi trường an ninh liên tục ở trạng thái căng thẳng cao.

Quan trọng hơn, việc tạm thời hạ nhiệt căng thẳng với Iran không đồng nghĩa Israel từ bỏ chính sách răn đe. Ngược lại, khoảng thời gian này có thể được Tel Aviv tận dụng để củng cố năng lực phòng thủ tên lửa nhiều tầng, tăng cường hợp tác an ninh với Mỹ và các đối tác khu vực, đồng thời chuẩn bị cho những kịch bản bất lợi nếu tiến trình đàm phán đổ vỡ. Theo nghĩa đó, dù không ủng hộ thỏa thuận, Israel vẫn có thể hưởng lợi gián tiếp từ một giai đoạn ổn định tương đối của khu vực, miễn là điều đó không làm suy giảm khả năng ứng phó của nước này trước các rủi ro an ninh trong tương lai.

Đối với các lực lượng ủy nhiệm (Hezbollah, Houthi…)

Đối với các lực lượng ủy nhiệm thân Iran như Hezbollah hay Houthi, thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran trước mắt cũng có thể tạo ra một khoảng thời gian cần thiết để điều chỉnh và củng cố nội lực sau giai đoạn căng thẳng quân sự kéo dài. Dù không phải là các chủ thể trực tiếp tham gia đàm phán, tương lai của các lực lượng này vẫn gắn chặt với mức độ ổn định trong quan hệ giữa Washington và Tehran. Nếu tiến trình hòa dịu được duy trì, họ có thể tận dụng khoảng thời gian này để chuyển một phần ảnh hưởng quân sự thành lợi thế chính trị và xã hội trong các không gian hoạt động của mình.

Đối với Hezbollah, việc giảm nguy cơ đối đầu trực tiếp với Israel có thể giúp tổ chức này hạn chế thêm các tổn thất về nhân lực và cơ sở hạ tầng, đồng thời tạo điều kiện tập trung hơn vào vai trò chính trị trong đời sống nội bộ Lebanon. Trong bối cảnh quốc gia này vẫn đang đối mặt với khủng hoảng kinh tế và thể chế kéo dài (kể từ năm 2019 GDP nước này suy giảm thêm ít nhất 7%, gây thiệt hại hạ tầng hơn $8,5 tỷ USD).[12] Tương tự, tại Yemen, việc các tuyến hàng hải quốc tế được duy trì ổn định hơn và nguy cơ leo thang quân sự khu vực suy giảm có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Houthi tập trung vào quản trị các khu vực đang kiểm soát trên thực tế. Dù chưa làm thay đổi căn bản vị thế pháp lý của lực lượng này, môi trường an ninh ít biến động hơn có thể giúp họ cải thiện năng lực quản trị, duy trì nguồn thu kinh tế và củng cố ảnh hưởng trong các tiến trình chính trị tương lai của Yemen. Tuy nhiên, triển vọng đối với các lực lượng ủy nhiệm vẫn phụ thuộc đáng kể vào kết quả của tiến trình đàm phán Mỹ – Iran. Nếu các lệnh trừng phạt được nới lỏng và kinh tế Iran từng bước phục hồi, Tehran sẽ có thêm nguồn lực để duy trì mạng lưới ảnh hưởng khu vực. Ngược lại, nếu thỏa thuận đổ vỡ hoặc căng thẳng quay trở lại, Hezbollah, Houthi và các nhóm đồng minh khác nhiều khả năng sẽ tiếp tục là những tác nhân tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Iran với Mỹ và Israel. Vì vậy, đối với các lực lượng này, giá trị lớn nhất của thỏa thuận hiện nay không phải là những lợi ích đã được bảo đảm, mà là cơ hội tạm thời để củng cố vị thế và chuẩn bị cho một môi trường khu vực còn nhiều bất định phía trước.

Triển vọng từ thỏa thuận năm 2026 tạo ra một khoảng khoảng lặng nhất thời cho chảo lửa Trung Đông, nó chưa quyết định rằng cục diện tương lai đã thực sự êm đẹp hay chưa, nó cũng chưa phải là lời khẳng định về một nền hòa bình bền vững. Nhưng ít nhất, cho đến hiện tại, nó đã thành công trong việc dập tắt đám cháy khẩn cấp để cứu nền kinh tế thế giới và giải tỏa áp lực cho hai nước.

Tuy nhiên, việc hủy bỏ cuộc gặp trực tiếp tại Geneva ngay trong ngày 19/6 là minh chứng rõ nhất cho thấy lòng tin giữa Mỹ và Iran gần như bằng không. Khung thời gian 60 ngày tới sẽ là cuộc đấu trí khốc liệt, nơi một tia lửa nhỏ từ ngôn từ hoặc một hành động khiêu khích từ bên thứ ba (như Israel hoặc các nhóm ủy nhiệm) đều có thể kéo sập toàn bộ nỗ lực ngoại giao này.

Những thách thức đặt ra trong tương lai

Mặc dù những triển vọng ngắn hạn đã vẽ nên một viễn cảnh tươi sáng cho cả hai trục quyền lực lẫn các bên liên đới, lịch sử địa chính trị vùng Vịnh chưa bao giờ là một đường thẳng rải đầy hoa hồng.

Việc hai bên đột ngột hủy bỏ cuộc gặp trực tiếp tại Geneva ngay trong ngày 19/6 không chỉ là một trục trặc ngoại giao nhất thời, mà còn là lời nhắc nhở rằng những mâu thuẫn cốt lõi giữa Washington và Tehran vẫn đang tồn tại phía sau các tín hiệu hòa dịu. Nếu bản ghi nhớ Islamabad mở ra cơ hội giảm nhiệt cho một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất thế giới, thì đồng thời nó cũng phơi bày những thách thức mang tính cấu trúc đã đeo bám quan hệ Mỹ – Iran suốt hơn bốn thập niên qua.

Cùng với đó, diễn biến thực tế trên chiến trường cũng chưa hạ nhiệt, ngày 15/6 quân đội Israel và lực lượng Hezbollah tại Lebanon tiếp tục các cuộc giao tranh, Hezbollah phục kích phá hủy 3 xe tăng Merkava và khiến 4 binh sĩ Israel thiệt mạng, đánh dấu tổn thất một ngày lớn nhất của IDF gần đây. Bất chấp việc Mỹ và Iran vừa đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột tại Trung Đông. Làm dấy lên lo ngại về nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình triển khai thỏa thuận hòa bình trong khu vực. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu khẳng định Israel sẽ không rút quân khỏi miền Nam Lebanon và đặt điều kiện tiên quyết cho hòa bình là phải giải giáp hoàn toàn vũ khí của Hezbollah, một điều khoản mà Hezbollah chắc chắn không chấp nhận.[13] Đồng thời, Netanyahu khẳng định tiếp tục các chiến dịch không kích và càn quét trên bộ tại Gaza nhằm tiếp tục giải giáp Hamas. Điều này cho thấy, Mỹ và Iran có thể đồng ý dừng lại, nhưng các lực lượng trực tiếp tham chiến tại thực địa vẫn đang biến Lebanon thành bãi mìn có thể làm nổ tung thỏa thuận hòa bình bất cứ lúc nào.

Trở ngại lớn nhất hiện nay không nằm ở những điều khoản kỹ thuật liên quan đến chương trình hạt nhân hay dỡ bỏ cấm vận, mà nằm ở câu hỏi căn bản hơn liệu các bên có còn đủ niềm tin để tin rằng đối phương sẽ thực hiện những cam kết vừa được đưa ra hay không.

Thách thức lớn nhất của thỏa thuận mới chính là cuộc khủng hoảng lòng tin kéo dài giữa hai hệ thống chính trị.

Đây là vấn đề mang tính nền tảng trong quan hệ quốc tế, thường được gọi là “bài toán cam kết đáng tin cậy”, khi các bên không tin rằng đối phương sẽ duy trì lời hứa sau khi cán cân lợi ích thay đổi. Trên thực tế, Mỹ và Iran đang cùng tham gia một tiến trình đàm phán nhưng lại kể hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau cho công chúng trong nước. Đối với chính quyền Donald Trump, thỏa thuận phải được mô tả như một thắng lợi của chiến lược “áp lực tối đa”, chứng minh rằng Washington đã buộc Tehran phải nhượng bộ sau nhiều năm bị cô lập và trừng phạt. Ngược lại, đối với Tổng thống Masoud Pezeshkian, việc đạt được thỏa thuận chỉ có thể được chấp nhận nếu được trình bày như một thành công của Iran trong việc buộc Mỹ phải từ bỏ chính sách đối đầu và thừa nhận vị thế của Tehran. Chính sự đối lập trong cách diễn giải này đã tạo ra một cạm bẫy ngôn từ nguy hiểm khi mỗi bên càng cố chứng minh mình là người chiến thắng thì càng thu hẹp không gian nhượng bộ cần thiết để duy trì đàm phán.

Diễn biến ngày 19/6 đã phản ánh rõ thực tế đó. Việc Mỹ hủy chuyến đi dự kiến của Phó Tổng thống J.D. Vance tới Thụy Sĩ được cho là xuất phát từ những tranh cãi xung quanh cách Iran mô tả thỏa thuận như một sự nhượng bộ của Washington. Để tránh bị phe Cộng hòa bảo thủ chỉ trích là mềm yếu trước Iran, ông Trump buộc phải phản ứng bằng cách phủ nhận các thông tin về những nhượng bộ kinh tế quy mô lớn, đồng thời tái khẳng định rằng Tehran mới là bên phải xuống thang. Điều này cho thấy tiến trình đàm phán hiện nay không chỉ diễn ra trên bàn thương lượng mà còn diễn ra trong cuộc cạnh tranh chính trị nội bộ của mỗi quốc gia.

Nguy hiểm hơn, bản ghi nhớ năm 2026 hiện mới chỉ mang tính chất một thỏa thuận chính trị sơ bộ, chưa được thể chế hóa thành một hiệp ước có giá trị ràng buộc lâu dài. Điều đó đồng nghĩa với việc nó có thể bị đảo ngược bất cứ lúc nào nếu môi trường chính trị trong nước thay đổi. Chính ký ức về việc Mỹ đơn phương rút khỏi JCPOA năm 2018 vẫn đang phủ bóng lên mọi tính toán của Tehran. Từ góc nhìn của giới lãnh đạo Iran, không có gì bảo đảm rằng những cam kết của Washington hôm nay sẽ còn tồn tại sau một chu kỳ bầu cử khác, việc chỉ duy trì “nguyên trạng” khiến giới diều hâu Mỹ hoài nghi rằng Tehran đang dùng thỏa thuận làm kế hoãn binh. Ngược lại, nhiều chính trị gia Mỹ cũng nghi ngờ rằng Iran chỉ đang tận dụng đàm phán để giảm áp lực kinh tế trong khi vẫn duy trì năng lực hạt nhân tiềm tàng. Khi cả hai bên đều mang theo ký ức về sự bội tín của đối phương, mọi cam kết mới đều trở nên mong manh hơn rất nhiều.

Bên cạnh cuộc khủng hoảng lòng tin, tiến trình hòa dịu còn phải đối mặt với nguy cơ bị phá hoại bởi những tác nhân có lợi ích chiến lược trong việc ngăn cản sự hình thành một trạng thái ổn định mới.

Nếu nhìn lại sự sụp đổ của JCPOA năm 2018, có thể thấy những nhân tố bên ngoài đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Khi đó, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã triển khai một chiến dịch vận động chính trị và truyền thông quy mô lớn nhằm chứng minh rằng Iran vẫn bí mật duy trì tham vọng hạt nhân quân sự. Các hồ sơ tình báo được Israel công bố đã góp phần tạo ra môi trường chính trị thuận lợi để chính quyền Trump rút khỏi thỏa thuận. Chín năm sau, những động lực chiến lược từng dẫn đến sự đổ vỡ đó gần như vẫn còn nguyên vẹn. Đối với Israel, việc Iran chỉ chấp nhận đóng băng một phần chương trình hạt nhân thay vì tháo dỡ hoàn toàn vẫn là một mối đe dọa hiện hữu đối với an ninh quốc gia. Tel Aviv lo ngại rằng bất kỳ thỏa thuận nào cho phép Tehran duy trì cơ sở hạ tầng hạt nhân đều có thể giúp nước này nhanh chóng tái khởi động chương trình nếu tình hình thay đổi trong tương lai.

Ngay trong nội bộ Iran cũng tồn tại những lực lượng không hoàn toàn ủng hộ tiến trình hòa dịu với Mỹ. Đối với một bộ phận phe cứng rắn và đặc biệt là các thành phần trong IRGC, đối đầu với Washington không chỉ là một lựa chọn chính sách mà còn là một phần của bản sắc chiến lược đã được xây dựng suốt nhiều thập niên. Một thỏa thuận toàn diện với Mỹ đồng nghĩa với việc nhiều lập luận về an ninh và chính trị vốn duy trì ảnh hưởng của các lực lượng này có thể bị suy yếu. Chính vì vậy, nguy cơ lớn nhất không nằm ở việc hai chính phủ thất bại trên bàn đàm phán, mà nằm ở khả năng một bên thứ ba hoặc một nhóm lợi ích nội bộ cố tình tạo ra một sự cố đủ lớn để làm sụp đổ tiến trình hòa giải. Trong môi trường an ninh đầy biến động của Trung Đông, chỉ cần một vụ ám sát nhằm vào các nhà khoa học hạt nhân Iran, một cuộc tấn công mạng nhằm vào cơ sở hạt nhân, hay một vụ tấn công của lực lượng ủy nhiệm nhằm vào các mục tiêu Mỹ hoặc Israel cũng có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền khiến toàn bộ khung đàm phán 60 ngày bị phá vỡ.

Lịch sử khu vực cho thấy nhiều cuộc khủng hoảng lớn đã bùng phát từ những sự kiện tưởng chừng mang tính cục bộ, nhưng lại nhanh chóng bị các bên diễn giải như hành động thù địch có chủ ý.

Kết luận

Những thách thức kể trên thực chất đều quy về một vấn đề trung tâm là di sản của sự bội tín sau năm 2018 vẫn chưa được hóa giải. Nếu JCPOA thất bại vì Washington và Tehran bất đồng về nội dung của thỏa thuận, thì thỏa thuận năm 2026 đang phải đối mặt với một trở ngại nghiêm trọng hơn nhiều, đó là sự đổ vỡ của niềm tin vào chính cơ chế cam kết. Khi Mỹ từng chứng minh rằng một thỏa thuận quốc tế có thể bị hủy bỏ bởi quyết định của một chính quyền mới, còn Iran vẫn bị nghi ngờ duy trì tham vọng hạt nhân dài hạn, thì mọi văn kiện ngoại giao được ký kết đều có nguy cơ chỉ trở thành những giải pháp tạm thời. Nói cách khác, thách thức lớn nhất của thỏa thuận mới không phải là giải quyết tranh chấp hạt nhân hay tháo gỡ cấm vận, mà là khôi phục niềm tin chiến lược đã bị tổn hại sâu sắc giữa hai đối thủ lâu năm. Chừng nào bài toán đó chưa có lời giải, chừng đó tương lai của thỏa thuận vẫn sẽ bị bao phủ bởi cái bóng của JCPOA và nguy cơ lặp lại vòng xoáy đổ vỡ trong quan hệ Mỹ – Iran vẫn hiện hữu như một khả năng không thể xem nhẹ.

Cục diện thế giới có thực sự bước vào kỷ nguyên ổn định hay không, câu trả lời không nằm ở những điều khoản đã ký, mà nằm ở bản lĩnh của các bên trong việc kiềm chế những cái đầu nóng sau sự kiện hủy bỏ cuộc gặp Geneva ngày hôm nay./.

Tác giả: Trương Quốc Lượng

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]

Tài liệu tham khảo:

[1] The White House. (2015). The historic deal that will prevent Iran from acquiring a nuclear weapon. Obama White House Archives. https://obamawhitehouse.archives.gov/node/328996

[2] Center for Arms Control and Non-Proliferation. (2025). Fact sheet: The Iran deal, then and now. https://armscontrolcenter.org/the-iran-deal-then-and-now/

[3] Encyclopaedia Britannica. (2026). 2026 Iran conflict. https://www.britannica.com/event/2026-Iran-war

[4] Thanh Tâm. (2026). Tổn thất với các bên trong hơn ba tháng chiến sự Mỹ – Iran. VnExpress. https://vnexpress.net/ton-that-voi-cac-ben-trong-hon-ba-thang-chien-su-my-iran-5087037.html

[5] TTXVN. (2026). Hải quân Mỹ dỡ bỏ phong tỏa đối với các cảng và vùng ven biển của Iran. https://www.vietnamplus.vn/hai-quan-my-do-bo-phong-toa-doi-voi-cac-cang-va-vung-ven-bien-cua-iran-post1118307.vnp

[6]  Việt Dũng. (2026). Toàn văn thỏa thuận 14 điểm giữa Mỹ – Iran nhằm chấm dứt xung đột. VietnamNet. https://vietnamnet.vn/toan-van-thoa-thuan-14-diem-giua-my-iran-nham-cham-dut-xung-dot-2526898.html

[7] Minh Hằng. (2026). Giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 3 tháng sau thỏa thuận ngừng bắn Mỹ – Iran. Bnews. https://bnews.vn/gia-dau-giam-xuong-muc-thap-nhat-trong-hon-3-thang-sau-thoa-thuan-ngung-ban-my-iran/425595.html

[8] Cinquegrana, D. (2018). 2018 oil price recap: Looking back at an oddball year. OPIS Insights. https://www.opis.com/blog/2018-oil-price-recap/

[9] Sikandar, A. (2026). Why China isn’t worried about new U.S. sanctions on Iran. SVI. https://thesvi.org/why-china-isnt-worried-about-new-us-sanctions-on-iran/

[10] Thanh Hà. (2026). Mỹ và Iran ký thỏa thuận hòa bình sớm hơn dự kiến. Báo Lao Động. https://laodong.vn/the-gioi/my-va-iran-ky-thoa-thuan-hoa-binh-som-hon-du-kien-1720853.ldo

[11] Kimball, J. (2021). Costs of the 20-year war on terror: $8 trillion and 900,000 deaths. Brown University News. https://www.brown.edu/news/2021-09-01/costsofwar ; Crawford, N. C. (2021). The U.S. budgetary costs of the post-9/11 wars. Costs of War Project, Watson Institute for International and Public Affairs, Brown University. https://costsofwar.watson.brown.edu/sites/default/files/papers/Costs-of-War_US-Budgetary-Costs-of-Post-9-11-Wars.pdf

[12] Quỳnh Chi. (2026). Lebanon gánh chịu tổn thất nặng nề do cuộc chiến Israel – Hezbollah. VTV News. https://vtv.vn/lebanon-ganh-chiu-ton-that-nang-ne-do-cuoc-chien-israel-hezbollah-100260618085208855.htm

[13] Báo Quân đội nhân dân. (2026). Israel nêu điều kiện hòa bình với Lebanon. https://www.qdnd.vn/quoc-te/tin-tuc/israel-neu-dieu-kien-hoa-binh-voi-lebanon-1034730

Tags: an ninh Trung ĐôngBiên bản Islamabadchương trình hạt nhânJCPOAThoả thuận 14 điểmThoả thuận hoà bìnhxung đột Mỹ - Iran
ShareTweetShare
Bài trước

Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần cuối)

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/09/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran 2026: Triển vọng và thách thức nhìn từ bài học đổ vỡ của JCPOA 2018.

Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran 2026: Triển vọng và thách thức nhìn từ bài học đổ vỡ của JCPOA 2018.

20/06/2026
Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần đầu)

Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần cuối)

19/06/2026
Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần đầu)

Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần đầu)

18/06/2026
Điều gì đang thúc đẩy tầm nhìn địa chiến lược của Nhật Bản thay đổi?

Điều gì đang thúc đẩy tầm nhìn địa chiến lược của Nhật Bản thay đổi?

16/06/2026
Động thái mới của Trung Quốc đối với eo biển Đài Loan

Động thái mới của Trung Quốc đối với eo biển Đài Loan

14/06/2026
Những thành tựu, thách thức và con đường hội nhập kinh tế khu vực Trung Quốc – ASEAN

Những thành tựu, thách thức và con đường hội nhập kinh tế khu vực Trung Quốc – ASEAN

12/06/2026
Thế ứng biến của Việt Nam trước chiến lược thuế quan mới của Chính quyền Trump

Thế ứng biến của Việt Nam trước chiến lược thuế quan mới của Chính quyền Trump

10/06/2026
Việt Nam và sự hình thành tam giác chiến lược Đông Nam Á

Việt Nam và sự hình thành tam giác chiến lược Đông Nam Á

08/06/2026

Tin Mới

Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran 2026: Triển vọng và thách thức nhìn từ bài học đổ vỡ của JCPOA 2018.

Thỏa thuận sơ bộ Mỹ – Iran 2026: Triển vọng và thách thức nhìn từ bài học đổ vỡ của JCPOA 2018.

20/06/2026
5
Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần đầu)

Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần cuối)

19/06/2026
45
Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần đầu)

Hiện trạng và tương lai của ngành công nghiệp UAV quân sự Nga dưới tác động từ các lệnh trừng phạt (Phần đầu)

18/06/2026
55
Điều gì đang thúc đẩy tầm nhìn địa chiến lược của Nhật Bản thay đổi?

Điều gì đang thúc đẩy tầm nhìn địa chiến lược của Nhật Bản thay đổi?

16/06/2026
78

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Podcasts
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • Tiêu điểm
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.