Lực lượng, phương tiện được Mỹ điều động đến các căn cứ quân sự ở Trung Đông và các vùng biển lân cận
Lần đầu tiên Mỹ triển khai binh lính ở Trung Đông là vào tháng 7 năm 1958, và duy trì quy mô hiện diện luôn ở mức lớn từ đó tới nay. Nước này luôn duy trì lực lượng từ 40 đến 50 nghìn binh sĩ tại ít nhất 19 địa điểm tại khu vực Trung Đông. Các quốc gia có nhiều binh lính Mỹ nhất bao gồm Qatar, Bahrain, Kuwait, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Ả Rập Xê Út. Các căn cứ này đóng vai trò là trung tâm quan trọng cho các hoạt động không quân và hải quân, hậu cần khu vực, thu thập thông tin tình báo và triển khai lực lượng cho cả khu vực[1]. Điều này lý giải một trong những nguyên nhân chính các nước này đã hứng chịu lượng lớn tên lửa của Iran trong cuộc giao tranh những ngày vừa qua. Ngoài ra, Trung Đông còn là khu vực tác chiến của hạm đội 5 Mỹ gồm tàu sân bay USS Abraham Lincoln.
Với lực lượng hùng hậu như vậy, nhưng trước khi chiến dịch “Epic Fury” diễn ra, dư luận thế giới đã ghi nhận hàng loạt những động thái điều động lực lượng tới vùng Trung Đông. Cụ thể:
Về lực lượng Hải quân (được triển khai tại vùng biển lân cận Iran: biển Ả Rập/ nam Iran/ ngoài khơi Oman)
– 2 Cụm tàu sân bay: Vào cuối tháng 1/2026, Mỹ đã triển khai USS Abraham – Lincoln (CVN-72), kèm theo 3 khu trục hạm, tăng khoảng 5.700 quân cho khu vực. Hai tuần sau đó, chính quyền Tổng thống Trump tiếp tục triển khai thêm đội tác chiến của tàu sân bay USS Gerald R. Ford (CVN-78) và cũng đi kèm 3 khu trục hạm và hơn 5.000 quân[2]. Sự điều động này đã nâng sự hiện diện của Hải quân Mỹ trong khu vực lên ít nhất 16 tàu.
Về lực lượng Không quân/Hải quân không quân (được điều động vào căn cứ Trung Đông và dải châu Âu–Trung Đông). Cụ thể hơn 100 máy bay chiến đấu, bao gồm F-35, F-22, F-15 và F-16, đã rời các căn cứ ở Mỹ và châu Âu và được Liên minh Theo dõi Không quân Quân sự (Military Air Tracking Alliance) phát hiện đang hướng về Trung Đông. Nhóm này gồm khoảng 30 nhà phân tích nguồn mở thường xuyên phân tích hoạt động bay của quân đội và chính phủ[3].
Nhóm tiêm kích/tấn công
F-35: Mỹ đã tập trung khoảng 30 F-35 của Không quân trong khu vực. Số tiêm kích này lấy từ Phi đội Chiến đấu số 48 tại căn cứ RAF Lakenheath và Phi đội Chiến đấu số 158 thuộc Lực lượng Vệ binh Quốc gia Không quân Vermont. Một phi đội F-35C của Thủy quân lục chiến, được triển khai cùng tàu sân bay USS Arabram Lincoln, hoạt động ở vùng biển phía nam Iran, cũng tham gia[4].
F-22: khoảng một chục chiếc F-22 triển khai đến Israel ngay trước khi chiến dịch bắt đầu từ Căn cứ Liên hợp Langley-Eustis, Virginia. đây là lần đầu tiên các máy bay chiến đấu chiếm ưu thế trên không này tham gia các hoạt động chiến đấu tại đó. Nhiều máy bay F-22 khác từ Langley cũng được triển khai đến Căn cứ Không quân Hoàng gia Lakenheath trong thời gian chuẩn bị cho chiến dịch.
F-15E/F-16: Hàng chục máy bat F- 16 đa năng đã được ghi nhận hiện diện theo các đợt điều động và ảnh vệ tinh; riêng Reuters xác nhận 17 F-15E tại Muwaffaq Salti (Jordan) đầu tháng 2[5].
Nhóm tác chiến điện tử – chỉ huy kiểm soát – trinh sát
EA-18G Growler: Trước khi chiến dịch diễn ra, dư luận thế giới ghi nhận 4 chiếc EA-18G ở căn cứ Muwaffaq Salti (Jordan) vào ngày 02/02; thậm chí nguồn tin của Air & Space Forces Magazine nêu EA-18 có trên cả hai tầu sân bay Ford lẫn Lincoln[6].
E-3 AWACS: Steffan Watkins, một nhà nghiên cứu sống tại Canada và là thành viên của MATA, cho biết ông cũng đã theo dõi các máy bay hỗ trợ, như sáu máy bay cảnh báo sớm E-3 của quân đội, bay đến một căn cứ ở Ả Rập Xê Út trước khi chiến dịch diễn ra[7]. Air & Space Forces Magazine nói có 6 chiếc E-3 trong khu vực dựa trên ảnh vệ tinh và dữ liệu bay.
RC-135: 1 chiếc RC-135 được ghi nhận xuất hiện tại Al Udeid (Qatar) ngay từ ngày 01/02[8]. Đây là một trong những loại máy bay do thám có giá trị nhất của quân đội Mỹ, thu thập thông tin tình báo tín hiệu. Theo dữ liệu theo dõi chuyến bay, nhiều máy bay RC-135 đang hoạt động từ đảo Crete của Hy Lạp.
Ngoài ra còn 1 loạt máy bay mang vai trò chuyển tiếp thông tin liên lạc trên không/tuần tra biển trong giai đoạn dẫn tới chiến dịch như : E-11 BACN, P-8 Poseidon, v.v[9].
Nhóm tiếp dầu – vận tải
18 KC-135 và 7 C-17: Dự luận thế giới đã ghi nhận tại Al Udeid có 18 chiếc KC-135 và 7 C-17 vào 01/02, tăng bất thường so với các khoảng thời gian trước đó[10].
Military Air Tracking Alliance ghi nhận đã theo dõi hơn 100 tàu chở nhiên liệu và hơn 200 máy bay chở hàng hướng vào khu vực Trung Đông và các căn cứ ở châu Âu vào giữa tháng Hai.
KC-46, KC-135, C-17/C-130: Các loại máy bay tiếp nhiên liệu và vận tải hàng không hàng nặng này cũng được ghi nhận tần suất hoạt động tăng mạnh trong các tuần trước khi chiến dịch diễn ra.
Về Lục quân/phòng không – hỏa lực mặt đất
Patriot tại Al Udeid (Qatar): Báo chí thế giới đã phát hiện lực lượng Mỹ tại Qatar đã đưa hệ thống Patriot lên xe HEMTT nhằm tăng tính cơ động, và quan sát thấy tới ~10 tổ hợp trong ảnh vệ tinh đầu tháng 2.
HIMARS: Theo Air and Space Forces Magazine, các bệ phóng tên lửa HIMARS đã bắn những gì dường như là tên lửa đạn đạo tầm ngắn Precision Strike Missile (PrSM) mới của Lục quân. Hệ thống này có thể được nhìn thấy trong một video do CENTCOM công bố, và các bệ phóng HIMARS từ lâu đã được sử dụng ở Trung Đông.
Hệ thống tấn công không người lái chi phí thấp (LUCAS): Đây là máy bay tấn công một chiều và được vận hành bởi một đơn vị mới được thành lập vào tháng 12, theo quân đội Mỹ cho biết. Và loại máy bay này đã được sử dụng xuyên suốt trong chiến dịch Epic Fury.
Về lực lượng ném bom chiến lược: Các máy bay B-2 đã thực hiện nhiệm vụ khứ hồi từ Mỹ đánh mục tiêu kiên cố bằng bom dẫn đường 2.000 lb, và có dấu hiệu 4 chiếc B-2 tham gia đợt mở màn, theo Air and Space forces magazine.
Như vậy, có thể thấy lực lượng Mỹ tăng cường, điều động tới khu vực Trung Đông trước khi chiến dịch Epic Fury diễn ra là vô cùng hùng hậu cả về chất lượng và số lượng. Cho thấy sự tính toán và chuẩn bị kĩ lưỡng cho chiến dịch lần này. Những lực lượng được triển khai đầy đủ cho tất cả các khâu của chiến dịch như tấn công, hậu cần, tình báo/cảnh báo sớm. Từ đó, các cuộc không kích của Mỹ và Israel đã gây ra cho Iran những hậu quả nặng nề.
Tổ chức sử dụng lực lượng, vũ khí; mục tiêu tiến công và thủ đoạn tác chiến của Mỹ và Israel khi thực hành tiến công Iran
Ngày 1 tháng 3, Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ cho biết, quân đội Mỹ đã tấn công hơn 1.000 mục tiêu trong ngày đầu tiên của chiến dịch không kích chống lại Iran, tung ra hỏa lực khổng lồ trong 24 giờ đầu tiên của Chiến dịch Epic Fury. Sau khi tập trung lực lượng không quân lớn nhất trong khu vực kể từ cuộc xâm lược Iraq năm 2003, Mỹ đã phát động chiến dịch giữa ban ngày, lúc 9 giờ 45 phút sáng ngày 28 tháng 2 tại Tehran. Chiến dịch Epic Fury được triển khai phối hợp chặt chẽ với một cuộc tấn công song song của Israel, được đặt tên là Chiến dịch Roaring Lion.
Học hỏi từ Chiến dịch Bão Sa mạc, liên quân Mỹ – Israel tập trung tấn công vào các trung tâm quyền lực quan trọng ở Iran: giáo chủ Ayatollah, các trung tâm chỉ huy và kiểm soát, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo và bộ chỉ huy liên hợp của nó, bộ chỉ huy Lực lượng Không quân Vũ trụ IRGC, các hệ thống phòng không tích hợp, các địa điểm phóng tên lửa đạn đạo, tàu chiến và tàu ngầm hải quân, các địa điểm phóng tên lửa chống hạm và các trung tâm thông tin liên lạc quân sự. Mở đầu chiến dịch, cũng giống như chiến dịch Midnight Hammer vào hồi tháng 6/2025, bốn chiếc B-2 đã mở màn cho cuộc tấn công. Chúng bay qua eo biển Gibraltar, được tiếp nhiên liệu bởi KC-46 và được quan chức Mỹ xác nhận đã thả hàng chục quả bom nặng 2 ngàn pound xuống các địa điểm phóng tên lửa đạn đạo ngầm ở Iran. Tài liệu tóm lược của Thư viện Hạ viện Anh cũng mô tả bộ mục tiêu theo ba cụm lớn: lãnh đạo, chương trình hạt nhân–tên lửa đạn đạo, và lực lượng vũ trang, phản ánh ý đồ kết hợp giữa mục tiêu chính trị–chiến lược và mục tiêu quân sự–tác chiến[11].
Tổ chức sử dụng lực lượng của Mỹ trong chiến dịch lần này có thể chia thành 3 nhóm năng lực chủ đạo: (i) lực lượng tàng hình và chế áp phòng không để mở hành lang tác chiến, (ii) hỏa lực tầm xa/đứng ngoài để đánh sâu và bão hòa mục tiêu, (iii) hệ thống C2/ISR–tiếp dầu–thông tin bảo đảm duy trì nhịp độ chiến dịch.
Về thủ đoạn tác chiến trong chiến dịch lần này, Mỹ đã kết hợp “tấn công mạng–không gian” với đòn hỏa lực hữu hình để làm suy yếu nền tảng nhận thức tình huống và chỉ huy của đối phương trước khi lực lượng tiến công bước vào những cuộc đánh phá quy mô lớn. Reuters dẫn Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Dan Caine nêu rõ trước đợt không kích, Mỹ tiến hành các hoạt động gây gián đoạn trên không gian mạng và không gian vũ trụ nhằm làm rối hệ thống liên lạc và phòng thủ của Iran, tạo điều kiện cho làn sóng không kích hợp nhất[12]. Trong khi đó, trang Breaking Defense lập luận rằng tác chiến mạng trong bối cảnh Epic Fury có thể phục vụ đồng thời các mục tiêu: hỗ trợ trinh sát–định vị, gây nhiễu/đánh lạc hướng, làm suy giảm khả năng phối hợp phòng không và tạo hiệu ứng “mù–điếc” tạm thời cho một số lớp phòng thủ; dù bài viết nhấn mạnh đây là suy luận dựa trên mô thức năng lực và dấu hiệu chiến dịch hơn là xác nhận đầy đủ từng hành động cụ thể[13].
Tác chiến điện tử cũng được đặt ở vị trí then chốt như một bộ phận của bài toán chế áp hệ thống phòng không tích hợp (IADS) và bảo đảm ưu thế trên không cho liên quân Mỹ – Israel, thể hiện qua việc EA-18G Growler xuất hiện ở cả hai tàu sân bay Ford và Lincoln và được mô tả là phương tiện “jam/attack enemy air defenses”. Air & Space Forces Magazine ghi nhận các cụm tàu sân bay mang EA-18G và các dữ liệu nguồn mở cho thấy một số EA-18 hoạt động từ căn cứ trong khu vực Trung Đông; đồng thời trong khu vực còn có sự xuất hiện của E-3 AWACS – máy bay chỉ huy, kiểm soát và quản lý tác chiến (được ước tính 6 chiếc) và máy bay chuyển tiếp thông tin E-11 BACN (ước tính 5 chiếc), tạo điều kiện hiệp đồng tác chiến theo thời gian thực giữa các cụm lực lượng. Cách tổ chức này phù hợp với mục tiêu “đánh vào IADS, thông tin quân sự và trung tâm chỉ huy”, vốn được nêu rõ trong tổng hợp mục tiêu của chiến dịch.
Về sự hợp đồng tác chiến giữa Mỹ và Israel, Trump mô tả chiến dịch này là một chiến dịch của Mỹ mà không hề nhắc đến Israel như một đối tác. Ngược lại, Netanyahu lại coi đó là một chiến dịch chung và cảm ơn Trump về vai trò lãnh đạo mang tính lịch sử của ông. Các nguồn phân tích tóm gọn cơ chế hợp đồng giữa hai nước này là chia sẻ tình báo – phân chia nhiệm vụ – phân tuyến mục tiêu. Israel đã cung cấp thông tin tình báo quan trọng, thực hiện các cuộc tấn công nhằm tiêu diệt các quan chức cấp cao của Iran, và đóng vai trò trung tâm trong việc trấn áp hệ thống phòng không của chế độ để đảm bảo ưu thế trên không cho cả hai lực lượng quân sự đồng minh. Lực lượng Israel đã tấn công hàng trăm mục tiêu ở miền tây và trung Iran, và lực lượng Mỹ dường như chịu trách nhiệm tấn công các khu vực khác của đất nước và phá hủy hải quân Iran. Đồng thời, một nỗ lực phòng không chung đang được tiến hành để bảo vệ lực lượng Mỹ và các đồng minh trong khu vực. Những nỗ lực trấn áp hiệu quả đối với Iran có thể giúp Mỹ và đồng minh tiết kiệm nguồn lực đánh chặn phòng thủ. Nhìn chung, các yếu tố khác nhau của chiến dịch chung này đang cho phép các đồng minh đạt được ưu thế quân sự và chiến lược so với Iran, tối đa hóa sự phối hợp giữa sức mạnh tương đối của lực lượng vũ trang Israel và Mỹ[14].
Biện pháp ứng phó của Iran
Ngay từ khi lực lượng Mỹ có các hoạt động chuyển quân bất thường tới khu vực Trung Đông, các quan chức Iran đã đe dọa sẽ đáp trả một cuộc tấn công tiềm tàng của Mỹ bằng mọi phương tiện trong tầm tay, tấn công các căn cứ của Mỹ trên khắp khu vực và tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài, tốn kém. Và khi chiến sự nổ ra, Tehran đã giữ đúng lời hứa: họ đã phóng hàng trăm tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái vào các căn cứ của Mỹ ở Bahrain, Jordan, Kuwait, Qatar, Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Khu tự trị Kurdistan của Iraq. Quân đội Mỹ đã báo cáo ba binh sĩ Mỹ thiệt mạng và năm người bị thương cho đến nay. Iran cũng đã phóng hàng loạt tên lửa vào nhiều mục tiêu khác nhau ở Israel. Ngoài các mục tiêu quân sự, các cuộc phản công của Iran còn nhắm vào các hạ tầng chiến lược khác ở nhiều quốc gia, bao gồm nhà ở (Bahrain và Israel), khách sạn (UAE) và sân bay quốc tế (Kuwait, UAE, Erbil). Cách tiếp cận này có thể phản ánh một chiến lược chia rẽ nhằm thúc đẩy các đồng minh Ả Rập của Washington gây áp lực để chấm dứt chiến tranh. Các cuộc tấn công của Iran khiến Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, Jordan và Syria công khai lên án các cuộc tấn công và khẳng định quyền tự vệ của họ theo Hiến chương Liên hợp quốc.
Theo Michael Eisenstadt, những hành động của Iran hé lộ chiến lược quân sự rộng lớn hơn và những hạn chế có thể có của nó. Bằng cách dàn trải nỗ lực trên một loạt mục tiêu rộng lớn ở nhiều quốc gia, quốc gia này dường như sẵn sàng làm giảm tác động vật lý của các cuộc tấn công để tối đa hóa tác động tâm lý, truyền tải thông điệp rằng không ai liên minh với Mỹ được an toàn. Tuy nhiên, chính quyền Iran dường như đã quên một trong những bài học quan trọng nhất của cuộc chiến tranh Iran-Iraq những năm 1980: họ không thể thắng một cuộc xung đột kéo dài chống lại các đối thủ có nguồn lực tốt hơn khi các hành động của họ làm tăng quyết tâm của đối thủ, cô lập Iran hơn nữa trên trường quốc tế và đòi hỏi phải tiêu tốn các nguồn lực hữu hạn (trong trường hợp này là tên lửa và máy bay không người lái) mà họ không thể dễ dàng bổ sung[15]. Còn theo Khalid Al-Jaber – giám đốc điều hành của Hội đồng Trung Đông về các vấn đề toàn cầu, Iran đã phạm phải một sai lầm chiến lược nghiêm trọng khi mở rộng cuộc đối đầu sang các nước thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC), bất chấp việc họ đã nhất quán và rõ ràng bác bỏ chiến tranh. Các quốc gia này đã tuyên bố dứt khoát rằng họ sẽ không cho phép lãnh thổ, không phận hoặc căn cứ quân sự của mình bị sử dụng cho các hoạt động chống lại Tehran. Họ đã chọn kiềm chế và ngoại giao thay vì leo thang, nhưng cuối cùng vẫn trở thành mục tiêu trực tiếp. Điều khiến sự leo thang này đặc biệt đáng báo động là các cuộc tấn công của Iran không chỉ giới hạn ở các cơ sở quân sự. Chúng ảnh hưởng đến sân bay, cơ sở hạ tầng trọng yếu, khách sạn và khu dân cư – những nơi mà người dân sinh sống, làm việc và đi lại[16]. Những hành động như vậy vượt ra ngoài phạm vi giao tranh thông thường trên chiến trường. Những hành động trên của Iran buộc các quốc gia này phải can dự vào cuộc chiến, mặc dù không mang tính tấn công hay trực tiếp, nhưng sự tham gia của họ cũng sẽ góp phần vào một chu kỳ trả đũa ngày càng lan rộng.
Đánh giá mục đích, ý định, thành công và hạn chế của chiến dịch; dự báo xu hướng thời gian tới
Theo đánh giá chung từ các chuyên gia và học giả trên thế giới, cuộc chiến giữa Mỹ – Israel với Iran sẽ không chỉ giới hạn hậu quả tại Iran. Những tác động của cuộc chiến này sẽ lan rộng ra khắp cả khu vực và trên thế giới.
Thành công:
Thành công của chiến dịch trước hết là giáng 1 đòn chí mạng vào bộ não lãnh đạo cao nhất của Iran, tương tự như trường hợp của Venezuela, nhưng cách Mỹ và Israel hạ sát nhà lãnh đạo tối cao của quốc gia Trung Đông này lại tàn khốc hơn rất nhiều. Điều đó tất yếu châm ngòi cho sự tức giận từ chính quyền Iran, mọi thứ đều có thể xảy ra khi có nhà lãnh đạo mới lên thay chính thức. Các chính sách của nhà lãnh đạo tối cao mới ở Iran sẽ quyết định chiến dịch của Liên quân Mỹ – Israel có đạt hiệu quả cuối cùng hay không.
Thành công thứ hai là họ đã khiến Iran đẩy cao mâu thuẫn với cộng đồng Ả rập, khi Iran đã nã tên lửa vào nhiều các quốc gia vùng vịnh, mặc dù các nước này trước đó đã tuyên bố không cho phép nước ngoài sử dụng không phận để tấn công Iran.
Thành công thứ ba của chiến dịch này có thể kể tới là mức độ hiệp đồng giữa Mỹ và Israel khi hai lực lượng đã cho thấy mức độ phân chia nhiệm vụ, hiệp đồng cao, tạo ra những thiệt hại lớn cho Iran
Hạn chế
Theo học giả Nima Gerami viết trên tờ War on the Rock rằng các cuộc tấn công của Mỹ và Israel có đạt được những thành quả nhất định. Nhưng có những vấn đề mà cả chiến dịch lần này và Midnight Hammer trước đó chưa giải quyết được về chương trình vũ khí hạt nhân của Iran[17].
Thứ nhất, về các cuộc tấn công quân sự có thể phá hủy các cơ sở nhưng không thể thống kê được lượng vật liệu hạt nhân đã được sản xuất. Một báo cáo mật của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) được công bố vào ngày 27 tháng 2 đã xác nhận rằng kho dự trữ uranium cuối cùng được xác minh của Iran là 440 kg uranium được làm giàu đến độ tinh khiết 60%, đủ để chế tạo tới 10 vũ khí hạt nhân, nếu được làm giàu thêm – được cất giữ trong một hệ thống đường hầm ở Isfahan mà các cuộc tấn công tháng 6 năm 2025 không ảnh hưởng đến cấu trúc. Cơ quan này không thể xác định được vị trí hoặc tình trạng hiện tại của kho dự trữ đó. Hai chiến dịch quân sự đã khiến việc tìm kiếm kho dự trữ này trở nên khó khăn hơn chứ không phải dễ dàng hơn.
Thứ hai, các cuộc tấn công có thể nhắm vào các chỉ huy nhưng không thể loại bỏ các cấu trúc giám sát cần thiết để kiểm soát những gì chúng để lại. Các cuộc tấn công của Israel hồi tháng 6 năm ngoái đã giết chết tổng tư lệnh Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran, tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang, tư lệnh Lực lượng Không quân Vũ trụ và ít nhất 14 nhà khoa học hạt nhân. Các cuộc tấn công mới nhất của Mỹ và Israel được thiết kế để tiến xa hơn. Tuy nhiên, Iran dường như đã lường trước được điều này. Trong vòng vài giờ, lực lượng Iran đã phát động các cuộc tấn công trả đũa đồng thời trên nhiều mặt trận mà không cần chờ sự cho phép tập trung, cho thấy quyền phản ứng đã được ủy quyền trước. Một dấu hiệu cho thấy các chiến lược chặt đầu đang gặp phải hiệu quả giảm dần đối với một chính quyền đã dành nhiều tháng để phân tán các cấu trúc chỉ huy của mình. Bất kể chính quyền này có tồn tại hay không, kho dự trữ uranium làm giàu của họ sẽ vẫn nằm trong các cơ sở bị hư hại, thiếu trách nhiệm giải trình và không có sự giám sát quốc tế.
Thứ ba, các cuộc tấn công có thể ngăn chặn ngoại giao nhưng không thể thay thế nó. Các cuộc đàm phán ở Geneva kết thúc với việc các nhà trung gian Oman mô tả ” tiến bộ đáng kể ” nhưng không đạt được thỏa thuận nào. Cơ hội đó giờ đã khép lại – và sự trả đũa ban đầu của Iran cho thấy rõ đây là một cuộc xung đột khác so với tháng 6 năm 2025. Khi đó, Iran đã cảnh báo trước khi phóng tên lửa vào căn cứ không quân Al Udeid ở Qatar, một tín hiệu được tính toán để tạo điều kiện giảm leo thang. Lần này, không có tín hiệu nào như vậy đi kèm với phản ứng của họ. Các cuộc tấn công của Iran đã nhắm vào các căn cứ của Mỹ trên khắp vùng Vịnh, bao gồm ở Bahrain, Kuwait, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Cuộc xung đột hiện đã là một cuộc chiến tranh khu vực đa mặt trận.
Hạn chế tiếp theo được các học giả quốc tế chỉ ra là giới hạn của sức mạnh không quân sẽ dẫn tới những khó khăn trong việc đạt được kết quả cuối cùng. Theo Kelly Grieco, nghiên cứu viên của viện Stimson cho rằng: “Khi một chính phủ tin rằng họ đang chiến đấu vì sự sống còn của mình, họ sẽ không đầu hàng. Một nghiên cứu về ba mươi cuộc xung đột liên quốc gia bất đối xứng liên quan đến Mỹ từ năm 1918 đến năm 2003 cho thấy rằng sự cưỡng chế thường thất bại khi các yêu cầu của Mỹ đe dọa đến sự sống còn của một quốc gia yếu hơn, dẫn đến sự kháng cự hơn là đầu hàng. Thay đổi chế độ là yêu cầu tối đa điển hình, và chính phủ Iran có mọi lý do để tin rằng sự sống còn của họ đang bị đe dọa bởi vì Trump đã nói rõ điều đó. Với tất cả mọi thứ để mất, họ không có động lực để giữ lại bất cứ điều gì.[18]”. Còn học giả Rachel Bronson viết trên trang Chicago Council on Global Affairs cho rằng Nhà Trắng đồng thời nêu nhiều mục tiêu (thay đổi chế độ, phá hủy năng lực quân sự Iran, làm suy giảm/loại bỏ lực lượng ủy nhiệm), từ đó sẽ tạo ra nhiều rủi ro hơn, vì nếu thực sự theo đuổi đồng thời thì khó kết thúc trong thời hạn ngắn, làm tăng xác suất sa lầy và mở rộng cửa leo thang[19]. Cùng logic đó, bản dịch phân tích của Daniel Byman (Foreign Policy) nhấn mạnh Mỹ–Israel đã đặt tiêu chuẩn thành công rất cao trong khi tầm nhìn cuối (end-state) không được xác lập rõ ràng; do đó, chiến dịch có thể rơi vào tình thế hoặc phải leo thang để đạt mục tiêu tối đa, hoặc phải “tuyên bố chiến thắng” khi kết quả thực tế chỉ đạt được một phần[20].
Dự báo xu hướng thời gian tới
Kịch bản 1: Chiến sự sẽ kéo dài trong những ngày tiếp theo, đến một thời điểm mà cả hai bên thấy thiệt hại và chi phí quá lớn so với lợi ích có thể nhận được sẽ chủ động tuyên bố đã đạt được mục đích theo cách nhìn từ mỗi bên và kết thúc các đợt cao điểm của cuộc tấn công. Tuy nhiên vẫn sẽ có các cuộc tấn công nhỏ lẽ, diễn ra dai dẳng. Sự tham gia của các nhóm Hezbollah, Houthi, Hamas được Iran hậu thuẫn. Nhưng với nguồn lực hạn chế hơn rất nhiều so với Mỹ và Israel, sự tham chiến của các nhóm vũ trang này khó lòng đẩy cuộc chiến lên một nấc thang mới trong khu vực.
Kịch bản 2: Mỹ – Israel sẽ tổ chức những đòn tập kích quy mô lớn và lớn hơn trước để giáng đòn quyết định vào ý chí của Iran. Kết hợp với kích động trong nước để lật đổ chính quyền hiện tại lập ra một chính quyền mới thân Mỹ. Nếu kịch bản này diễn ra, cục diện khu vực Trung Đông nói riêng và thế giới nói chung sẽ có những thay đổi căn bản, sâu sắc. Theo Shalom Lipner – nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Sáng kiến An ninh Trung Đông Scowcroft, thuộc các chương trình Trung Đông của Atlatic Council nhận định rằng: “Từ góc nhìn của Israel, chưa bao giờ mọi điều kiện lại thuận lợi hơn thế để tạo ra những thay đổi có tác động mạnh mẽ ở Iran”[21]. Và mới đây, Bộ trưởng Bộ chiến tranh của Mỹ cũng đã để ngỏ khả năng triển khai bộ binh tới Iran. Những chỉ báo trên cho thấy quyết tâm của liên minh Mỹ – Israel trong việc xóa bỏ chính quyền Iran và tạo ra trật tự mới tại khu vực Trung Đông. Một vấn đề khác ở khu vực Trung Đông liên quan đến Iraq, theo Victoria J. Taylor – giám đốc Sáng kiến Iraq thuộc chương trình Trung Đông của Hội đồng Đại Tây Dương cho rằng Iraq và Iran từ lâu đã có mối liên hệ mật thiết với sự phối hợp chính trị chặt chẽ giữa giới tinh hoa, các liên kết kinh tế quan trọng và sự hiện diện liên tục của các lực lượng dân quân Iraq được Iran hỗ trợ và chỉ đạo. Với một Iran suy yếu hoặc sụp đổ sẽ ít tập trung vào việc can thiệp công việc nội bộ của Iraq có thể cho phép nhà nước Iraq thiết lập lại chủ quyền của mình. Nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là chính phủ Iraq sẽ đưa ra các quyết định phù hợp với lợi ích của Mỹ[22].
Kịch bản 3: Cuộc chiến sẽ kéo dài và trở thành cuộc chiến tranh tiêu hao tương tự như chiến sự giữa Nga và Ukraine. Trong khi quan chức hai bên vẫn vô giữ thái độ vô cùng cương quyết trong việc đáp trả đối phương và gần như chưa thấy tia hi vọng cho đàm phán. Kết hợp với sự giúp đỡ có mức độ của các chủ thể bên ngoài. Với Mỹ và Israel vốn đã có nguồn lực dồi dào hơn, cùng với sự kêu gọi tham dự của các quốc gia trong khối NATO, có thể là cả các quốc gia Ả Rập. Phía bên còn lại, không thể loại trừ khả năng Iran sẽ nhận được sự giúp đỡ lớn hơn từ Trung Quốc, dù vẫn giữ ở mức để Trung Quốc không tham gia trực tiếp vào cuộc chiến, nhưng đủ để chính quyền Iran đứng vững trước liên quân do Mỹ đứng đầu. Do vậy, tình thế chiến trường sẽ rơi vào kịch bản không bên nào chiếm được ưu thế vượt trội tuyệt đối, các cuộc không kích vẫn diễn ra dai dẳng, kéo cả Trung Đông vào một vòng xoáy bất ổn triền miên.
Kịch bản 4: Mỹ – Israel vẫn tiếp tục thực hiện các cuộc tấn công lớn nhưng Iran vẫn có thể chống đỡ và đáp trả mãnh mẽ với sự tham gia sâu của Trung Quốc và Nga. Hai nước Trung Quốc và Nga công khai giúp đỡ Iran trước sự tấn công của liên quân do Mỹ dẫn đầu nhằm đảm bảo sự tồn tại của chính quyền Iran. Kéo theo sự can dự sâu hơn của các nước đồng minh của Mỹ ở châu Âu và các quốc gia Ả rập. Đây là kịch bản nguy hiểm nhất, có thể châm ngòi trực tiếp cho thế chiến 3.
Những tác động, ảnh hưởng và bài học rút ra đối với thế giới, khu vực và Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc
Tác động, ảnh hưởng
Có thể tác động căn bản tới trật tự khu vực Trung Đông và thế giới trong nhiều năm tới. Dòng người tị nạn mới có thể khiến khu vực Trung Đông bất ổn hơn, đơn cử như sức ép mà Thổ Nhĩ Kỳ đang gặp phải. Theo Defne Arslan – giám đốc cấp cao kiêm người sáng lập Chương trình Thổ Nhĩ Kỳ của Atlantic Council: Nước này đang tiếp nhận hơn 3,5 triệu người tị nạn Syria và với viễn cảnh hàng trăm nghìn người Iran (và người Afghanistan hiện đang sinh sống tại Iran) đổ xô về biên giới Thổ Nhĩ Kỳ được xem là mối đe dọa hiện hữu đối với sự ổn định xã hội. Tiếp theo, Thổ Nhĩ Kỳ vô cùng lo ngại rằng khoảng trống quyền lực ở Tehran có thể tiếp thêm sức mạnh cho các nhóm ly khai người Kurd. Cụ thể, các quan chức Thổ Nhĩ Kỳ lo lắng rằng Đảng Cuộc sống Tự do Kurdistan, hay PJAK (cánh Iran của Đảng Công nhân Kurdistan, hay PKK, một tổ chức bị coi là khủng bố) có thể giành được quyền tự trị ở tây bắc Iran, tạo ra một khoảng trống an ninh mới tương tự như ở miền bắc Syria. Và cả những thiệt hại về kinh tế khi Ankara mất đi nguồn cung khí đốt tự nhiên (Iran cung cấp khoảng 15% lượng khí đốt mà Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng)[23].
Làm xói mòn luật pháp quốc tế, thúc đẩy chính trị cường quyền trong quan hệ quốc tế quay trở lại. Khi những nước lớn được quyền tự ý làm những điều họ cho là bảo vệ lợi ích của nước mình mà không cần quan tâm tới luật pháp và các tổ chức quốc tế sẽ tạo ra những tiền lệ vô cùng xấu. Các nước khác cũng có thể viện dẫn bảo vệ lợi ích quốc gia để tiếp tục không quan tâm tới luật pháp quốc tế và biến môi trường quốc tế ngày càng hỗn loạn và bất định. Ngoài ra, nó cũng sẽ thúc đẩy sự dịch chuyển từ mô hình “an ninh tập thể” sang “liên minh theo lợi ích”, nơi các hành động quân sự được thực hiện ngoài khuôn khổ ủy quyền rõ ràng của Hội đồng Bảo an.
Thúc đẩy chạy đua vũ trang giữa các quốc gia có mâu thuẫn và xung đột hiện tại để tăng cường răn đe. Trong môi trường khu vực, nơi một chiến dịch đánh phủ đầu quy mô lớn sẽ vừa tạo ra tín hiệu răn đe mạnh, vừa làm tăng nhận thức về tính dễ tổn thương của các quốc gia liên quan, từ đó kích hoạt phản ứng tăng cường năng lực quân sự để tự bảo đảm. Trong bối cảnh chiến dịch Epic Fury, khi Mỹ–Israel chứng minh khả năng tổ chức đòn đánh đa miền ở cường độ cao và đánh sâu vào các cụm mục tiêu trọng yếu. Từ đó sẽ thúc đẩy tâm lý đề phòng với các nước còn lại, tất yếu sẽ thúc đẩy mạnh hơn những cuộc tái vũ trang hay tăng cường lực lượng lớn không chỉ trong khu vực Trung Đông mà còn cả những khu vực xung đột khác trên thế giới.
Ảnh hưởng tới tăng trưởng của nền kinh tế thế giới ít nhất là trong năm 2026. Khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu đi qua eo biển Hormuz, và Iran đã tuyên bố phong tỏa eo biển Hormuz. Điều này ít nhiều sẽ gây ra những rung chấn với thị trường dầu và nền kinh tế toàn cầu. Nhưng theo Emma Ashford, nghiên cứu viên cao cấp của Stimson cho rằng Hoàn toàn có khả năng giá dầu sẽ không tăng vọt; thị trường dầu mỏ đã thể hiện khả năng phục hồi đáng kể trước những cú sốc địa chính trị trong vài năm qua, một phần nhờ vào sự tăng trưởng sản lượng dầu đá phiến của Mỹ và các nguồn năng lượng thay thế. Nếu chiến tranh chỉ giới hạn ở các mục tiêu của Iran, tác động có thể tương đối nhỏ. Nhưng một cuộc chiến tranh lớn với Iran lan sang ảnh hưởng đến vận chuyển hàng hóa từ các quốc gia vùng Vịnh khác có thể dễ dàng đẩy giá dầu tăng vọt, làm tăng chi phí cho người tiêu dùng trên toàn thế giới. Trong trường hợp xấu nhất, sự tăng giá đột biến này có thể gây ra suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng kinh tế[24].
Bài học rút ra đối với Việt Nam
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á nhìn chung duy trì được trạng thái hòa bình tương đối nhưng đồng thời tồn tại nhiều điểm nóng và mâu thuẫn kéo dài, yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia cần được đặt trong một cấu trúc phân tích đa tầng và liên kết chặt chẽ với biến động của môi trường quốc tế. Các bất ổn tại Myanmar, căng thẳng biên giới giữa Thái Lan và Campuchia, cạnh tranh chiến lược xung quanh eo biển Đài Loan, cũng như những tranh chấp phức tạp tại Biển Đông, cho thấy khu vực xung quanh Việt Nam không phải là một không gian an ninh tĩnh tại mà là một môi trường tiềm ẩn nguy cơ lan tỏa xung đột theo nhiều cấp độ khác nhau. Trong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng, các cuộc xung đột ở phạm vi khu vực hoặc ngoài khu vực đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới an ninh, ổn định và phát triển của Việt Nam thông qua các kênh chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội.
Tác động trực tiếp có thể biểu hiện ở những vấn đề liên quan đến an ninh biên giới, kiểm soát di cư, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia và các hệ lụy nhân đạo nếu xung đột tại các quốc gia láng giềng gia tăng cường độ. Tác động gián tiếp có thể xuất hiện dưới dạng gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động thị trường năng lượng, sức ép ngoại giao hoặc điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực. Đặc biệt, trong môi trường cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng, các xung đột tại một khu vực khác có thể tạo ra “khoảng trống chiến lược”, từ đó làm gia tăng nguy cơ một số chủ thể tận dụng cơ hội để thay đổi hiện trạng tại các khu vực tranh chấp, trong đó có Biển Đông. Do đó, an ninh của Việt Nam cần được tiếp cận như một bộ phận hữu cơ của cấu trúc an ninh khu vực và toàn cầu, trong đó mọi biến động bên ngoài đều có khả năng tạo hiệu ứng dây chuyền.
Trên cơ sở đó, việc giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong nước phải được xác định là điều kiện tiên quyết để bảo đảm khả năng ứng phó linh hoạt với các biến động bên ngoài. Ổn định nội bộ không chỉ là yêu cầu về trật tự, an toàn xã hội mà còn là nền tảng của năng lực tự cường quốc gia, bảo đảm cho hệ thống chính trị – hành chính vận hành hiệu quả, tránh để các yếu tố bên ngoài hoặc các tác nhân cơ hội lợi dụng tình hình khu vực và quốc tế phức tạp nhằm gây rối, kích động hoặc làm suy giảm niềm tin xã hội. Trong bối cảnh thông tin lan truyền nhanh chóng và môi trường số ngày càng mở rộng, yêu cầu củng cố an ninh phi truyền thống, bao gồm an ninh thông tin và an ninh xã hội, càng trở nên cấp thiết.
Song song với đó, việc nâng cao năng lực dự báo chiến lược và công tác tình báo là một yêu cầu cấp thiết. Trong môi trường an ninh có tính biến động cao, năng lực dự báo và đoán trước được các xu hướng vận động là yếu tố quyết định để xây dựng các phương án chính sách phù hợp và kịp thời. Công tác dự báo không chỉ dừng ở việc theo dõi diễn biến cụ thể của từng điểm nóng, mà cần tích hợp phân tích xu hướng dài hạn như cạnh tranh nước lớn, chuyển dịch cán cân quyền lực khu vực, sự phát triển của công nghệ quân sự mới và các thách thức an ninh phi truyền thống. Việc nắm vững tình hình từ sớm, từ xa cho phép Việt Nam chủ động điều chỉnh chiến lược, giảm thiểu rủi ro bị động và tăng cường khả năng thích ứng trước các kịch bản bất lợi.
Trong phương diện đối ngoại và quản trị quan hệ khu vực, việc tận dụng hiệu quả các khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hệ thống quan hệ đa tầng, đa phương hóa và đa dạng hóa giúp Việt Nam mở rộng không gian chiến lược, gia tăng mức độ đan xen lợi ích và giảm thiểu nguy cơ bị cuốn vào các cạnh tranh địa chính trị đối kháng. Thông qua các cơ chế song phương và đa phương, Việt Nam có thể thúc đẩy đối thoại, quản lý bất đồng và ngăn ngừa xung đột leo thang, không để các mâu thuẫn âm ỉ tích tụ thành khủng hoảng. Việc kiên định đường lối quốc phòng “bốn không”, duy trì lập trường độc lập, tự chủ, trung lập tích cực, đồng thời khẳng định vai trò là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần củng cố uy tín quốc gia và tạo dư địa cho chính sách cân bằng chiến lược.
Cuối cùng, trong bối cảnh trật tự khu vực đang chịu tác động của cạnh tranh nước lớn và các điểm nóng tiềm ẩn, Việt Nam không chỉ cần tập trung vào phòng ngừa rủi ro mà còn có thể chủ động đóng vai trò kiến tạo hòa bình. Thông qua việc thúc đẩy các nguyên tắc luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và tăng cường hợp tác ASEAN, Việt Nam có thể đóng góp vào việc duy trì cấu trúc an ninh khu vực ổn định, từ đó bảo đảm lợi ích quốc gia một cách bền vững và lâu dài.
Tác giả: Phạm Quang Phúc
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua email: [email protected]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Al Jazeera Staff (2025), “Mapping US troops and military bases in the Middle East”, Al Jazeera, https://www.aljazeera.com/news/2025/6/12/mapping-us-troops-and-military-bases-in-the-middle-east
[2] Konstantin Toropin, Ben Finley (2026), “US military assembles largest force of warships, aircraft in Middle East in decades”, Military Times, https://www.militarytimes.com/news/your-military/2026/02/26/us-military-assembles-largest-force-of-warships-aircraft-in-middle-east-in-decades/
[3] Konstantin Toropin, Ben Finley (2026), tldd
[4] Chiris Gordon (2026), “Weapons of ‘Epic Fury’: Fighters, Missiles, and ‘Special Capabilities’”, Air&Space Forces Magazine, https://www.airandspaceforces.com/weapons-of-epic-fury-fighters-missiles-and-special-capabilities/
[5] Marine Delrue (2026), “US used mobile launchers for missiles at Qatar base as Iran tensions rose, satellite pictures show”, Reuters, https://www.reuters.com/business/media-telecom/us-used-mobile-launchers-missiles-qatar-base-iran-tensions-rose-satellite-2026-02-10/
[6] Chiris Gordon (2026), tldd
[7] Konstantin Toropin, Ben Finley (2026), tldd
[8] Marine Delrue (2026), tldd
[9] Chiris Gordon (2026), tldd
[10] Marine Delrue (2026), tldd
[11] Philip Loft (2026), “US-Israel strikes on Iran: February/March 2026”, UK Parliament, https://commonslibrary.parliament.uk/research-briefings/cbp-10521/
[12] “Top U.S. general outlines initial timeline of U.S. military operation in Iran” (2026), Reuters, https://www.reuters.com/business/aerospace-defense/top-us-general-outlines-initial-timeline-us-military-operation-iran-2026-03-02/
[13] Mark Pomerleau (2026), “Here’s how cyber could have been used to target Iran in Operation Epic Fury”, Breaking Defense, https://breakingdefense.com/2026/03/heres-how-cyber-could-have-been-used-to-target-iran-in-operation-epic-fury/
[14] Assaf Orion (2026), “Epic Fury and Roaring Lion: From War Scenarios to Pressing Postwar Questions in Iran”, Washington Institue, https://www.washingtoninstitute.org/policy-analysis/epic-fury-and-roaring-lion-war-scenarios-pressing-postwar-questions-iran
[15] Michael Eisenstadt (2026), “Iran’s Regional Military Response and Strategic Limitations”, Washington Institue, https://www.washingtoninstitute.org/policy-analysis/epic-fury-and-roaring-lion-war-scenarios-pressing-postwar-questions-iran
[16] Atlatic Council Experts (2026), “Experts react: How the US war with Iran is playing out around the Middle East”, Atlantic Council, https://www.atlanticcouncil.org/dispatches/experts-react-how-the-us-war-with-iran-is-playing-out-around-the-middle-east/#qatar
[17] Nima Gerami (2026), “Twice Bombed, Still Nuclear: The Limits of Force Against Iran’s Atomic Program”, War on the rock, https://warontherocks.com/2026/02/twice-bombed-still-nuclear-the-limits-of-force-against-irans-atomic-program/
[18] Kelly Grieco (2026), “The Limits of Airpower Against Iran”, Stimson, https://www.stimson.org/2026/experts-react-what-the-epic-fury-iran-strikes-signal-to-the-world/
[19] Rachel Bronson (2026), “The Strategic Challenges of the US Military Campaign Against Iran”, Chicago Council on Global Affairs, https://globalaffairs.org/commentary/analysis/strategic-challenges-us-military-campaign-against-iran
[20] Daniel Byman (2026), “6 Questions About Operation Epic Fury”, Nghiên cứu quốc tế, https://nghiencuuquocte.org/2026/03/03/6-cau-hoi-ve-chien-dich-cuong-no-du-doi/
[21] Atlantic Council Expert (2026), tldd
[22] Atlantic Council Expert (2026), tldd
[23] Atlantic Council Expert (2026), tldd
[24] Emma Ashford (2026), “The Iran Strike and America’s Cost-of-Living Test”, Stimson, https://www.stimson.org/2026/experts-react-what-the-epic-fury-iran-strikes-signal-to-the-world/























