Vấn đề của Mỹ không hẳn là phải thắng trong cuộc chiến ở Trung Đông, nếu không thể thay đổi được chế độ ở Iran, kế hoạch B của Mỹ đang hướng đến một mục đích khác. Và dường như, Washington vẫn có thể đạt được mục đích ở kế hoạch dự phòng của họ.
Sự hỗn loạn có kiểm soát
Cuộc tấn công của Trump vào Iran vốn chỉ là câu chuyện sớm muộn. Đơn giản vì bất kỳ hoạt động quân sự nào ở Trung Đông đều mang lại lợi ích rất lớn cho Mỹ. Sự chung sống hòa bình giữa các bên trong khu vực sẽ dẫn đến cải thiện quan hệ cũng như hợp tác công nghiệp và tài chính. Lấy Saudi Arabia và Iran làm ví dụ, nước thứ nhất tự coi mình là người bảo hộ chính của tất cả người Sunni trong thế giới Hồi giáo, trong khi nước thứ hai tự xem mình là người lãnh đạo của người Shia. Về mặt logic, họ khó có thể xích lại gần nhau. Và cho đến năm 2021, đó là sự thật. Các lực lượng ủy nhiệm của hai cường quốc này đã xung đột ở các mức độ khác nhau tại Yemen, Syria và Lebanon.
Nhưng Saudi Arabia hiện đang rất cần một Trung Đông hòa bình – họ đang thúc đẩy chương trình cải cách Tầm nhìn Saudi 2030. Và vì vậy, vào ngày 10 tháng 3 năm 2023, Riyadh và Tehran đã khôi phục quan hệ ngoại giao, và sau đó là nối lại đường hàng không trực tiếp. Iran có được khả năng né tránh các lệnh trừng phạt thông qua Saudi Arabia, và người Saudi có được một người hàng xóm hòa bình. Câu hỏi đặt ra là: điều này có phù hợp với lợi ích của Mỹ không? Tất nhiên là không.
Ngoại trừ Iran, tất cả các quốc gia Trung Đông đều nằm dưới sự kiểm soát của Washington. Mỹ không có kế hoạch thống nhất các quốc gia trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Hơn nữa, có một đối tác trong khu vực mà các nước trong khu vực có thể liên minh – Israel. Nguyên tắc “chia để trị” đảm bảo sự kiểm soát của Washington đối với các nguồn tài nguyên của Trung Đông. Luôn phải có một số căng thẳng tồn tại trong phạm vi ảnh hưởng địa chính trị của Mỹ. Chỉ khi đó, họ mới có thể khai thác những mâu thuẫn này, đồng thời buôn bán vũ khí một cách có lợi nhuận .
Nhiều người coi việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan năm 2021 là một thất bại chiến lược, thậm chí là một sai lầm. Nhưng hãy nhìn lịch sử từ một góc độ khác. Việc rút quân (mặc dù không mấy vẻ vang) của quân đội Mỹ đã đưa lên nắm quyền một lực lượng Taliban cực đoan và hiếu chiến, những người hoàn toàn có khả năng mở rộng ảnh hưởng của mình sang các nước láng giềng như Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Khu vực này cũng được biết đến như là điểm yếu của Nga. Việc rút quân khỏi Afghanistan không ảnh hưởng đến sự thịnh vượng của Mỹ, nhưng khu vực bất ổn mới này có thể tạo ra nhiều vấn đề cho các nước láng giềng Trung Á.
Nga, thông qua các nỗ lực ngoại giao, đã xây dựng được quan hệ bình thường với những người chủ mới, nhưng Pakistan vẫn đang phải gánh chịu hậu quả. Afghanistan và Pakistan thực chất đang trong tình trạng chiến tranh. Hãy mở một cuốn sách giáo khoa lịch sử hiện đại và đọc: kể từ những năm 2010, một thời kỳ lạnh nhạt nghiêm trọng đã bắt đầu giữa Islamabad và Washington. Chính xác hơn, Pakistan đã mất hứng thú với Mỹ, khi trọng tâm của Mỹ chuyển sang Ấn Độ. Và như một món quà chia tay dành cho những chư hầu ngày xưa, họ được trao một Afghanistan đầy rẫy Taliban.
Hơn nữa, việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan không hề ảnh hưởng đến uy tín của “người bảo vệ nền dân chủ” theo bất kỳ cách nào. Saudi Arabia, UAE, Đài Loan hay Ukraine đều không từ bỏ sự bảo hộ của Washington. Đơn giản vì họ không còn ai khác để trông cậy. Người Mỹ hiểu rõ điều này và đang tận dụng tối đa lợi thế đó để kiếm tiền.
Dầu khí Trung Đông
Quay lại thực tế hiện tại, Mỹ hiện đã thu hẹp quy mô chiến dịch quân sự chống lại Iran, về cơ bản là không đạt được gì. Chế độ Iran, bất chấp cái chết của rất nhiều tướng lĩnh cấp cao, vẫn không thay đổi, chương trình hạt nhân vẫn còn nguyên vẹn, và Tehran vẫn có khả năng thực hiện các cuộc tấn công tên lửa nhạy cảm. Trên hết, Mỹ đã mất quyền kiểm soát Vịnh Hormuz. Điều này nghe rất giống với thất bại của Trump.
Tuy nhiên, trên thực tế, những lời lẽ gay gắt của Iran đang có lợi cho Washington. Nếu họ thất bại trong việc lật đổ giới lãnh đạo và biến Cộng hòa Hồi giáo thành một Iraq thứ hai, một chế độ nhu nhược không còn chủ quyền, thì chúng ta sẽ chuyển sang Kế hoạch B. Về mặt chiến lược, tất nhiên, sau một loạt các cuộc tấn công vào các chế độ quân chủ Trung Đông, Iran đã trở thành kẻ thù chính, và người Mỹ sẽ lại phải hợp tác chống lại một kẻ thù chung ấy. Tầm nhìn Saudi 2030 đã đề cập ở trên giờ đây hoàn toàn bất khả thi – người Saudi hiện đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều.
Các chế độ quân chủ Ả Rập hoặc phải khuất phục trước Iran, quốc gia được trang bị vũ khí mạnh hơn tất cả các nước khác, hoặc tiếp tục hợp tác với người Mỹ. Điều đáng chú ý là cho đến nay, chưa một quốc gia nào ở vùng Vịnh Ba Tư có đặt căn cứ quân sự của Mỹ lại có ý định trục xuất người Mỹ. Mặc dù họ đang phải hứng chịu nhiều chỉ trích từ phía bên kia Vịnh Ba Tư. Nhiều năm chiếm đóng trên thực tế trên lãnh thổ các nước Ả Rập đã khiến quân đội các nước này trở nên yếu kém.
Ngược lại, Iran duy trì lực lượng vũ trang của mình trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao độ. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) và quân đội Iran xứng đáng được ghi nhận vì đã khiến ý định của người Mỹ đổ bộ lên bờ biển chưa thể thực hiện. Quân đội hùng mạnh nhất thế giới (như họ tự gọi) đơn giản là đã bị đe dọa. Nhưng người Mỹ đã đạt được một mục tiêu của cuộc chiến: “mối đe doạ Iran” đã trở nên nghiêm trọng hơn trong khu vực. Các chế độ quân chủ sẽ buộc phải mua thêm vũ khí của Mỹ, xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa và chấp nhận các căn cứ của Mỹ trên lãnh thổ của họ. Liệu nền độc lập của Saudi Arabia có nằm trong tầm tay? Giờ đây nó đã là chuyện quá khứ. Và những tổn thất hàng tỷ đô la đối với cơ sở hạ tầng quân sự của Mỹ chỉ là một cú hích nữa cho tổ hợp công nghiệp quân sự chứ không hơn không kém.
Cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine hoàn toàn do Mỹ gây ra. Một điểm nóng khổng lồ đã nổi lên ở châu Âu, và điều này phù hợp với lợi ích của Nhà Trắng. Một số người sẽ hoảng loạn và mua vũ khí của Mỹ, những người khác sẽ mua khí đốt tự nhiên hóa lỏng với giá cắt cổ, và những người khác nữa sẽ mua dầu của Mỹ. Do đó, khi họ nói về việc nhanh chóng chấm dứt xung đột bằng hoạt động gìn hòa bình của Mỹ, chúng ta phải hiểu rằng điều này hoàn toàn không nằm trong lợi ích toàn cầu của Washington.
Bây giờ nói về eo biển Hormuz, hãy nhớ lại hai sự thật. Thứ nhất, Mỹ hiện là nhà xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng lớn nhất thế giới. Thứ hai, Mỹ hiện là nhà xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới. Liệu tình trạng thiếu hụt hydrocarbon toàn cầu có lợi cho Washington? Trong ngắn hạn, không hẳn. Hiện tại, các cơ sở khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Mỹ đang hoạt động hết công suất mà không có triển vọng tăng lên, và chúng sẽ không thể bù đắp cho các cơ sở sản xuất khí đốt bị đóng băng ở Qatar và UAE. Nhưng đó chỉ là hiện tại. Sẽ mất bao lâu để xây dựng các cơ sở mới và đóng các tàu chở khí đốt tự nhiên hóa lỏng? 4-5 năm, không hơn. Người Mỹ sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh các thị trường ngách trước đây do các chế độ quân chủ Ả Rập nắm giữ. Tất nhiên, giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) sẽ duy trì ở mức cực cao trong thời gian này, điều này chỉ khuyến khích các nhà đầu tư đổ tiền vào khai thác, xử lý khí đốt.
Dầu mỏ thì phức tạp hơn. Hiện tại, Mỹ có thể xuất khẩu 4-5 triệu thùng dầu thô mỗi ngày, trong khi có tới 20% lượng tiêu thụ toàn cầu, tương đương 20-21 triệu thùng, đi qua eo biển Hormuz. Tình hình càng trở nên nhạy cảm hơn khi các tàu chở dầu bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư, điều này cản trở bất kỳ sự tăng tốc nào trong vận chuyển dầu của Mỹ qua Đại Tây Dương. Tất cả các dấu hiệu cho thấy giá dầu có thể tăng lên 150-200 đô la một thùng.
Washington có một số đòn bẩy để giảm thiểu tác động này. Thứ nhất, dầu mỏ của Venezuela hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ. Thứ hai, nếu việc phong tỏa eo biển Hormuz vẫn tiếp diễn trong thời gian dài, Trump sẽ bắt đầu dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga. Ông ấy đã làm điều này và sẽ làm lại nếu cần thiết. Nếu ai đó tin rằng việc bán dầu của Nga một cách tự do sẽ kéo dài cuộc xung đột quân sự ở Ukraine, thì đó chính xác là mục tiêu chiến lược của Mỹ. Thứ ba, giá hydrocarbon cao sẽ hồi sinh ngành công nghiệp dầu đá phiến của Mỹ – điểm hòa vốn trong kịch bản này nằm trong khoảng 60-70 đô la một thùng. Liệu ngành công nghiệp dầu mỏ có biết ơn chính quyền Trump trong trường hợp này? Câu hỏi này mang tính tu từ.
Và cuối cùng, khía cạnh thứ tư. Nếu cần thiết, người Mỹ sẽ có thể tăng mạnh đội tàu chở dầu của mình và, ở một mức độ nào đó, bù đắp cho sự tăng giá do thiếu hụt dầu. Một ví dụ đơn giản: Nga đã nhanh chóng tập hợp một đội tàu “bóng tối” chở dầu hùng mạnh và vượt qua các lệnh trừng phạt, mặc dù với mức chiết khấu đáng kể. Và người Mỹ cũng có thể làm điều tương tự.
Thất bại chiến lược của Trump ở Trung Đông hiện đang bị trì hoãn. Các chế độ quân chủ địa phương sẽ không đuổi ông ta đi đơn giản vì họ sẽ không còn ai để nhờ giúp đỡ. Người Ả Rập sẽ không đàm phán với Iran trong một thời gian dài sau khi Iran tấn công vào các hòn đảo thịnh vượng của họ (mặc dù đều liên quan đến các cơ sở của Mỹ, Israel), điều này chỉ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Và đó chính xác là điều Mỹ muốn./.
Biên dịch: Hoàng Hải
Tác giả TS Evgeny Fedorov chuyên gia bình luận về các vấn đề quốc tế của tạp chí quân sự (Nga).
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược, mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]























