Nghiên Cứu Chiến Lược
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo
No Result
View All Result
Nghiên Cứu Chiến Lược
No Result
View All Result
Home Lĩnh vực Quốc phòng - an ninh

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần cuối)

10/05/2026
in Quốc phòng - an ninh
A A
0
Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)
0
SHARES
11
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter

Tiếp nội dung phần đầu

Những mâu thuẫn cấu trúc trong việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS của Trump 2.0

“Phụ thuộc bất đối xứng” trong liên minh và xu hướng “chuyển giao chi phí” gia tăng

Kể từ khi thành lập, AUKUS đã có đặc điểm bất đối xứng rõ rệt trong cấu trúc quyền lực nội bộ. Sau khi Trump tái đắc cử, đặc điểm phụ thuộc bất đối xứng này tiếp tục tăng cường, và biểu hiện cụ thể là xu hướng rõ ràng của Mỹ trong việc “chuyển giao chi phí” và “rủi ro lan tỏa” cho các nước thành viên. Đối với Mỹ, giá trị cốt lõi của liên minh nằm ở việc sử dụng đầu tư tối thiểu để tạo ra lợi ích chiến lược lớn nhất. Một mặt, Mỹ yêu cầu Úc và Anh gắn kết chặt chẽ hơn với chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của mình, bao gồm tham gia tuần tra trên Biển Đông, hạn chế hợp tác công nghệ với Trung Quốc, v.v., để chia sẻ gánh nặng quân sự và áp lực trong khu vực; Mặt khác, Mỹ không muốn cung cấp thêm trợ cấp cho dự án tàu ngầm hạt nhân, yêu cầu Úc thanh toán trước một phần tiền dự án và tăng tổng số tiền, đồng thời yêu cầu Anh gánh vác thêm nhiệm vụ chia sẻ tình báo và nghiên cứu phát triển công nghệ, nhằm giảm chi phí hiệp đồng của quân đội Mỹ trong hoạt động tại “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.

Đối với Úc, xu hướng “chuyển giao chi phí” này sẽ làm gia tăng tình thế khó khăn chiến lược của họ. Úc là thành viên phụ thuộc nhiều nhất vào công nghệ Mỹ-Anh, ở vị thế bên có nhu cầu, vừa phụ thuộc vào chuyển giao công nghệ và hiệp đồng chiến lược từ Mỹ-Anh, vừa phải gánh vác chức năng thực thi và chịu chi phí, năng lực thương lượng rõ ràng là yếu. Úc luôn hy vọng nâng cao năng lực răn đe quân sự thông qua dự án tàu ngầm hạt nhân và tăng cường tiếng nói của mình tại “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” nhờ sự bảo trợ chính trị của Mỹ-Anh, nhưng cái giá phải trả cho sự phụ thuộc an ninh này là chi phí nhượng bộ chủ quyền cao: Một mặt, Úc cần dựa vào liên minh để nâng cao vị thế cường quốc tầm trung, đối phó với áp lực an ninh ngày càng phức tạp; Mặt khác, các điều kiện chính trị do Mỹ đặt ra, như yêu cầu Úc cung cấp căn cứ quân sự hoặc hỗ trợ tình báo trong cuộc đua tranh Mỹ-Trung, sẽ buộc Úc phải chọn bên giữa các cường quốc, đánh mất tính linh hoạt ngoại giao. Ngoài ra, ở cấp độ kỹ thuật, Úc cũng phải chấp nhận sự kiểm soát chặt chẽ của Mỹ-Anh đối với quy trình vận hành, tiêu chuẩn bảo trì tàu ngầm hạt nhân. Nếu Mỹ giảm hỗ trợ do chuyển dịch trọng tâm chiến lược hoặc điều chỉnh chính sách, Úc sẽ rơi vào tình huống khó xử khi đã đầu tư chi phí khổng lồ nhưng không đạt được lợi ích như mong đợi. Do đó, nội bộ Úc đã nổ ra cuộc khủng hoảng lòng tin nghiêm trọng. Theo khảo sát dư luận, hơn 40% người dân Úc cho rằng dự án này có giá trị không lớn. Trong giới tinh hoa chính trị, đã có nhiều tiếng nói phản đối ngay từ khi AUKUS mới thành lập. Các nghị sĩ cánh tả của Đảng Lao động và Đảng Xanh chỉ trích đây là một cuộc phiêu lưu quân sự không cần thiết, ủng hộ việc ưu tiên giải quyết các vấn đề khu vực thông qua biện pháp ngoại giao. Liên minh Đảng Tự do-Đảng Quốc gia cầm quyền khi đó tuy không phản đối dự án, nhưng với điều kiện cần cân bằng lợi ích của các tập đoàn công nghiệp quân sự và nguyện vọng của người dân. Cuộc khủng hoảng lòng tin này trở thành biến số chính trị trong nước quan trọng để chính phủ Úc đối phó với áp lực từ Mỹ, có thể buộc chính phủ Úc điều chỉnh chiến lược, chẳng hạn như tìm kiếm sự cân bằng với các cường quốc khác, hoặc yêu cầu nhiều quyền tự chủ công nghệ hơn trong liên minh, để đánh giá lại và thiết lập giới hạn phụ thuộc vào liên minh.

Mặc dù Anh là cường quốc truyền thống, nhưng trong AUKUS, vai trò của họ chủ yếu được định vị là trung gian công nghệ và điều phối chính trị, dựa vào mạng lưới Khối thịnh vượng chung để mở rộng ảnh hưởng liên minh và củng cố quan hệ đặc biệt Mỹ-Anh, tuy nhiên năng lực thực tế có khoảng cách khá xa so với kỳ vọng của Mỹ. Về nguồn lực chiến lược, Anh đối mặt với áp lực chi tiêu quốc phòng và nhu cầu tự bảo vệ sau Brexit, đồng thời phải ứng phó với chi phí an ninh châu Âu do xung đột Nga-Ukraine gây ra, do đó khó có thể đáp ứng vô hạn các yêu cầu của Mỹ. Về công nghệ quân sự, mặc dù Anh có kinh nghiệm phát triển tàu ngầm hạt nhân khá trưởng thành, nhưng công nghệ lò phản ứng lõi PWR-2 của họ vẫn phụ thuộc vào giấy phép của Mỹ, không thể độc lập cung cấp hệ thống năng lượng hạt nhân hoàn chỉnh cho Úc. Vào nhiệm kỳ thứ hai của Trump, tình thế khó khăn này của Mỹ sẽ càng gia tăng. Một mặt, Mỹ yêu cầu Anh gánh vác nhiều nhiệm vụ thực chất hơn, như cử cố vấn quân sự hỗ trợ huấn luyện quân đội Úc, cùng xây dựng các nút then chốt của mạng lưới tình báo khu vực, nhưng môi trường chính trị trong nước Anh và tình hình kinh tế sẽ hạn chế không gian hành động của họ; Mặt khác, Anh cố gắng nâng cao hình ảnh “Nước Anh toàn cầu” thông qua liên minh, nhưng nếu không thể thực hiện cam kết công nghệ hoặc đầu tư chiến lược, uy tín quốc tế sẽ bị tổn hại, từ đó ảnh hưởng đến vị thế của họ trong AUKUS và mối quan hệ với các đồng minh khác.

Vì vậy, trong bối cảnh AUKUS có mức độ thể chế hóa tương đối thấp, thiếu các quy tắc giải quyết tranh chấp và phân chia chi phí cố định như NATO, và hoạt động phụ thuộc cao vào đồng thuận chính trị, sự không chắc chắn trong chính sách và gây áp lực đơn phương của chính quyền Trump sẽ vấp phải sự phản đối của các nước thành viên khác dựa trên cân nhắc lợi ích của riêng họ, từ đó làm khó khăn cho sự phối hợp nội bộ, suy giảm hiệu quả quản trị, thậm chí có thể khiến các nước thành viên đặt câu hỏi về bản chất giá trị của liên minh, làm gia tăng mâu thuẫn lợi ích giữa các nước thành viên.

Áp lực dư luận trong nước Mỹ và sự ràng buộc tương tác từ các tập đoàn công nghiệp quân sự

Sau khi Trump tái đắc cử, quan điểm tiêu cực trong nước Mỹ về “liên minh quân sự nước ngoài” gia tăng liên tục, tâm lý “chống tinh hoa” đặc biệt mạnh mẽ trong những người ủng hộ Trump. Sự lo ngại của người dân Mỹ về AUKUS tập trung chủ yếu vào ba khía cạnh: Một là “nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân”, liên kết tàu ngầm hạt nhân với vũ khí hạt nhân, cho rằng Mỹ đang “dung túng Úc phát triển năng lực hạt nhân tiềm tàng”; Hai là “chuyển giao chi phí kinh tế”, lo ngại Mỹ đầu tư quá nhiều tiền bạc và công nghệ để hỗ trợ Úc đóng tàu ngầm hạt nhân, có thể đẩy giá thành của chuỗi công nghiệp quốc phòng trong nước lên cao, cuối cùng người nộp thuế Mỹ phải gánh chịu các khoản chi phí liên quan một cách gián tiếp; Ba là “định hướng chiến lược sai lầm”, một bộ phận người dân cho rằng “đối đầu trực tiếp với Trung Quốc không phù hợp với lợi ích của Mỹ”, trong khi AUKUS là “công cụ chính sách khiêu khích” nhằm đối đầu với Trung Quốc. Áp lực dư luận này thông qua truyền thông xã hội và tuyên truyền chính trị sẽ chuyển hóa thành sự ràng buộc trực tiếp đối với chính phủ, buộc Trump và nhóm của ông khi điều chỉnh chính sách AUKUS phải quan tâm đến dư luận trong nước, tránh mất đi sự ủng hộ của người dân vì quá ủng hộ AUKUS. Ví dụ, tháng 3 năm 2025, Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội Mỹ đã công bố một báo cáo cho rằng năng lực đóng tàu của Mỹ không đủ, nếu Mỹ bán tàu chiến cho Úc, Hải quân Mỹ sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt tàu ngầm tấn công trong vòng hai mươi năm. Bộ trưởng Quốc phòng Hegseth mặc dù công khai ủng hộ AUKUS, nhưng cũng nhiều lần nhấn mạnh nguyên tắc “chia sẻ công bằng”, yêu cầu Úc tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng, nhằm thể hiện hình ảnh chính phủ “đàm phán thông minh” và “bảo vệ lợi ích của Mỹ” trước công chúng.

Ngoài ra, sự pha trộn và mâu thuẫn nội bộ của các tập đoàn công nghiệp quân sự Mỹ trong vấn đề AUKUS cũng là yếu tố khiến chính sách của chính quyền Trump dao động. Mặc dù tổ hợp công nghiệp-quân sự nói chung vui mừng trước cơ hội kinh doanh do xuất khẩu trang thiết bị công nghệ cao mang lại, nhưng sự khác biệt lớn trong mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau đã hình thành xung đột lợi ích trực tiếp và cạnh tranh vận động hành lang, từ đó truyền tải đến chính phủ những áp lực chính sách mâu thuẫn lẫn nhau. Ví dụ, các nhà sản xuất tàu chiến truyền thống như Huntington Ingalls Industries (HII) và General Dynamics Electric Boat, là những người được hưởng lợi trực tiếp và chính từ “Trụ cột I” của AUKUS, họ thông qua vận động hành lang chính trị tích cực để duy trì và thúc đẩy dự án, phản đối bất kỳ sự rà soát nào có thể làm phân tán nguồn lực hoặc làm chậm tiến độ dự án. Ingalls Industries công khai tuyên bố rằng việc đưa các nhà cung cấp Úc vào sản xuất tàu ngầm theo thỏa thuận AUKUS sẽ giúp tăng cường chuỗi cung ứng vốn đã mỏng manh trong nước Mỹ. Nhưng các công ty công nghệ hạt nhân như Westinghouse Electric Corporation, do mô hình kinh doanh phụ thuộc nhiều vào thị trường năng lượng hạt nhân dân sự toàn cầu, lại lo ngại tranh cãi về phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ ảnh hưởng đến lợi ích thương mại của họ, do đó có thái độ phức tạp và thận trọng hơn đối với dự án AUKUS, cho rằng tranh cãi phổ biến hạt nhân do việc chuyển giao công nghệ đẩy hạt nhân nhạy cảm cho các quốc gia không có vũ khí hạt nhân như Úc có thể gây nguy hại đến danh tiếng thương mại và phê duyệt dự án ở nước ngoài.

Những bất đồng sắc bén trong nội bộ này khiến tổ hợp công nghiệp-quân sự Mỹ không thể đạt được đồng thuận hiệu quả về dự án hợp tác tàu ngầm AUKUS, do đó buộc chính quyền Trump phải áp dụng “chiến lược mơ hồ”. Ví dụ, khi Bộ Quốc phòng Mỹ tiến hành “rà soát chính sách có hệ thống” đối với thỏa thuận AUKUS, lý do bề ngoài là đánh giá “tính công bằng đối với người nộp thuế Mỹ”, nhưng thực chất là để đáp ứng sự lo ngại của các công ty như Westinghouse về chi phí và rủi ro, đồng thời cũng gây áp lực lên các nhà thầu chính như General Dynamics Electric Boat, buộc họ chấp nhận các điều khoản thực hiện hợp đồng nghiêm ngặt hơn trong đàm phán hợp đồng tương lai, hoặc chịu tỷ lệ phân chia chi phí nghiên cứu phát triển và chuỗi cung ứng cao hơn. “Chiến lược mơ hồ” lấy “rà soát để thúc đẩy đàm phán” này giúp chính quyền Trump vừa có thể làm chậm tiến độ tổng thể dự án, giảm cam kết tài chính ngắn hạn, đồng thời cũng phải xem xét tất cả các lựa chọn đàm phán để tránh gây phản ứng chính trị do quá thiên vị bất kỳ bên nào.

Tác động của “Nước Mỹ trên hết” đến các ràng buộc về đạo đức

Về bản chất, chính sách “Nước Mỹ trên hết” của chính quyền Trump là sự quay lưng với toàn cầu hóa và chủ nghĩa đa phương. AUKUS mang đặc tính văn hóa huyết thống “Anglo-Saxon”, hiện chỉ gồm Mỹ, Anh, Úc. Mô hình hợp tác có chọn lọc này đã gây ra nhiều tranh cãi. Đồng thời, nội dung hợp tác cụ thể của dự án AUKUS cũng dễ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các quốc gia. Ví dụ, ngay sau khi AUKUS thành lập, đã xảy ra vụ Úc đơn phương hủy bỏ đơn đặt hàng tàu ngầm thông thường đã ký với Pháp, gây ra cuộc khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Mỹ-Úc với Pháp và Liên minh châu Âu, buộc Mỹ phải huy động nhiều nguồn lực ngoại giao để “dập lửa”, phơi bày chi phí ngoại giao cao kèm theo việc xây dựng liên minh. Sâu xa hơn, chính quyền Trump có thái độ không tin tưởng mạnh mẽ đối với các cơ chế đa phương, đặc biệt lo ngại những mâu thuẫn phức tạp và rủi ro rò rỉ thông tin có thể xảy ra khi các nước khác tham gia, nhấn mạnh tính độc quyền và khả năng kiểm soát của liên minh, thiếu hứng thú với việc mở rộng mạng lưới liên minh công nghệ đa phương. Việc Trump “kiểm tra lòng trung thành” và chỉ trích công khai các nước thành viên liên minh đã trở nên phổ biến. Mức độ ủng hộ của Trump đối với AUKUS phụ thuộc cao vào đánh giá chủ quan của ông về “thể hiện” của các nhà lãnh đạo Úc và Anh, cũng như việc liệu Úc và Anh có đáp ứng được yêu cầu của ông trong các vấn đề không thuộc AUKUS như thương mại, chi tiêu quốc phòng hay không. Phong cách quản lý mang tính cá nhân hóa và giao dịch cao này tạo ra sự không chắc chắn lớn cho sự ổn định và liên tục lâu dài trong chính sách AUKUS của Mỹ.

Ngoài ra, AUKUS còn phải đối mặt với sự ràng buộc về đạo đức ở cấp độ quản trị toàn cầu. Một mặt, sự nghi ngờ ngày càng tăng của cộng đồng quốc tế về việc liên minh này vượt qua các khuôn khổ an ninh đa phương như Liên Hợp Quốc để thúc đẩy các dự án hợp tác quân sự có độ nhạy cảm cao vẫn tiếp tục. Tháng 3 năm 2025, Chủ tịch Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương một lần nữa nhấn mạnh trong tuyên bố sau diễn đàn rằng cạnh tranh chiến lược do AUKUS kích hoạt đã làm gia tăng căng thẳng khu vực, diễn đàn quyết tâm “xây dựng một khu vực phi hạt nhân dựa trên các giá trị, lịch sử và ngoại giao Thái Bình Dương”. Mối quan ngại tập thể ở cấp khu vực này, cùng với chính sách khu vực phi hạt nhân lâu dài của New Zealand, tạo thành áp lực chính trị và đạo đức dai dẳng đối với AUKUS. Mặt khác, sự ràng buộc của các cơ chế quốc tế hiện tại cũng khiến tính hợp pháp của liên minh liên tục suy giảm. Ví dụ, Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) quy định rõ ràng các quốc gia không có vũ khí hạt nhân không được sử dụng vật liệu hạt nhân có được cho mục đích quân sự. Mặc dù Mỹ và Anh khẳng định chuyển giao công nghệ động lực hạt nhân cho Úc, nhưng thực tế Úc là quốc gia không có vũ khí hạt nhân và việc Mỹ-Anh cung cấp cũng như giúp đóng tàu ngầm tấn công hạt nhân trang bị nhiên liệu uranium cấp vũ khí, chắc chắn đã cấu thành thách thức đối với các nguyên tắc của hiệp ước này. Một đại sứ của Phái đoàn thường trực Trung Quốc tại Vienna chỉ rõ, AUKUS là hợp tác hạt nhân chiến lược giữa hai quốc gia có vũ khí hạt nhân với một đồng minh quân sự không có vũ khí hạt nhân của họ, xét về mục đích, bản chất của hợp tác, cũng như hoạt động chuyển giao vật liệu hạt nhân cấp vũ khí liên quan, đều chưa từng có tiền lệ và nằm ngoài phạm vi bao phủ của cơ chế bảo vệ toàn diện hiện tại của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Lập trường của Trung Quốc đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ hơn mười quốc gia như Nga, Ai Cập, Nam Phi, Pakistan, Indonesia, Cuba, Venezuela. Những cuộc đối đầu ngoại giao này càng làm nổi bật hình ảnh tiêu cực của “vòng tròn nhỏ” chính trị AUKUS, sự nghi ngờ và phản đối của cộng đồng quốc tế cũng gia tăng. Nỗ lực của chính quyền Trump nhằm xử lý mối quan ngại về phổ biến hạt nhân AUKUS thông qua “ngoại lệ hóa” không những không xoa dịu được tranh cãi quốc tế, mà còn đặt liên minh dưới ống kính giám sát đa phương, khiến tính hợp pháp của nó phải gánh chịu sự tổn thất kép cả về thủ tục và đạo đức.

Hiệu ứng an ninh khu vực từ việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS của chính quyền Trump 2.0

Định hình lại hệ thống liên minh và cục diện địa chính trị an ninh khu vực

Trong bối cảnh cục diện địa chính trị toàn cầu điều chỉnh sâu sắc, việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump đã trở thành biến số quan trọng cho an ninh khu vực, kích hoạt sự phân hóa chiến lược liên minh của các quốc gia trong khu vực, đồng thời định hình lại bản đồ cạnh tranh địa chính trị mới.

Thứ nhất, ảnh hưởng đến cục diện chính trị nội bộ của đồng minh, làm suy yếu sự gắn kết nội bộ liên minh. Việc Trump bất ngờ khởi động “rà soát có hệ thống” đối với thỏa thuận tàu ngầm hạt nhân AUKUS trong nhiệm kỳ thứ hai, mục đích cốt lõi là gây áp lực lên các đồng minh Úc, Anh, yêu cầu họ chịu chi phí cao hơn để Mỹ tối đa hóa lợi ích kinh tế. Áp lực này trực tiếp dẫn đến chấn động chính trị trong nước các đồng minh. Ví dụ, trong cuộc tổng tuyển cử tại Úc vào tháng 5 năm 2025, lãnh đạo Đảng Tự do Peter Dutton do phong cách chính sách quá giống Trump, bị coi là “Trump của Úc”, dẫn đến thất bại của liên minh bảo thủ dưới quyền ông, trở thành trường hợp điển hình cho thấy chính trị nội bộ Úc chịu “hiệu ứng Trump”. Nguyên nhân cốt lõi là cử tri Úc lo ngại nếu Dutton lên nắm quyền, việc ông phục tùng phong cách hành xử của Trump sẽ khiến Úc mất năng lực thương lượng trong đàm phán AUKUS, buộc phải chấp nhận các điều khoản khắt khe hơn, từ đó gây tổn hại đến lợi ích kinh tế và tính tự chủ chiến lược trong nước. Điều này cho thấy sự vắt kiệt mang tính vụ lợi của Trump đối với AUKUS đã phản tác dụng lên chính trị nội bộ của đồng minh cốt lõi, kích thích sự phản đối lớn hơn trong xã hội các đồng minh.

Thứ hai, làm suy yếu lòng tin và tính phối hợp của khuôn khổ hợp tác an ninh hiện có, thúc đẩy các quốc gia trong khu vực tăng cường liên kết. Trước việc điều chỉnh chính sách AUKUS của Trump trong nhiệm kỳ thứ hai, một số quốc gia trong khu vực đã bắt đầu tìm cách tăng cường liên kết để giảm thiểu rủi ro, đồng thời thể hiện tính tự chủ chiến lược mạnh mẽ hơn trong quá trình này. Ví dụ, Úc, thành viên then chốt của AUKUS, trong khi tăng cường phối hợp với đồng minh, cũng có ý định mở rộng đối thoại an ninh với ASEAN và các quốc đảo Thái Bình Dương. Tháng 10 năm 2025, Thủ tướng Úc và New Zealand cùng ra tuyên bố chung, khởi động quan hệ đối tác chiến lược toàn diện nâng cấp (CSP2.0), nhằm đào sâu hợp tác khoa học công nghệ quốc phòng, mở rộng trao đổi chuyên môn, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và hậu cần quốc phòng giữa hai nước. Sau đó, Úc lại ký hiệp định an ninh và quốc phòng song phương mới với Indonesia, đồng ý thiết lập cơ chế tham vấn định kỳ về các vấn đề an ninh ở cấp lãnh đạo và bộ trưởng, đánh dấu quan hệ an ninh giữa hai nước bước sang “chương mới”. Ngay cả Nhật Bản, một đồng minh quan trọng của Mỹ, cũng bày tỏ lo ngại về khả năng Mỹ “chuyển giao chi phí” trong điều chỉnh chính sách AUKUS, hiếm khi trì hoãn đối thoại “2+2” Nhật-Mỹ và thận trọng với đề xuất của Mỹ yêu cầu nước này tăng mạnh chi tiêu quốc phòng lên 3,5% GDP.

Thứ ba, gắn kết “an ninh” với “chuỗi cung ứng”, làm gia tăng đối đầu mang tính phe cánh địa chính trị. Việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump đã vượt ra ngoài phạm vi quân sự truyền thống, gắn kết sâu sắc chuỗi cung ứng khoáng sản quan trọng với an ninh quân sự. Tháng 10 năm 2025, Mỹ và Úc đã ký kết “Khuôn khổ đảm bảo cung ứng khai thác và chế biến khoáng sản quan trọng và đất hiếm Mỹ-Úc” trong khuôn khổ AUKUS, nhằm đưa các nguồn tài nguyên khoáng sản quan trọng như đất hiếm của Úc vào hệ thống chuỗi cung ứng do Mỹ dẫn dắt, hạn chế chúng chảy sang các quốc gia khác với lý do “an ninh quốc gia”. Điều này có nghĩa là chính quyền Trump đang thúc đẩy AUKUS chuyển từ một “liên minh công nghệ” tập trung vào hợp tác công nghệ quân sự cấp cao trở thành một “công cụ chiến lược toàn diện” cố gắng tích hợp năng lực quân sự, lợi thế công nghệ và kiểm soát tài nguyên quan trọng, mục tiêu để nhắm vào đối thủ nào không khó để nhận ra. Cách làm này sẽ buộc nhiều quốc gia trong khu vực phải đối mặt với “lựa chọn nhị nguyên” gay gắt hơn giữa hợp tác kinh tế và chọn phe an ninh, tất yếu thúc đẩy xu hướng phe cánh trong cục diện địa chính trị khu vực.

Làm gia tăng bất ổn khu vực

Kể từ nhiệm kỳ thứ hai của Trump, việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS đã dẫn đến năng lực quân sự tổng thể của liên minh này không ngừng được tăng cường, trở thành biến số quan trọng của kiến trúc an ninh “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, hiệu ứng lan tỏa của nó có thể gây xáo trộn sự cân bằng khu vực hiện có và làm gia tăng tình thế khó khăn an ninh.

Thứ nhất, kích thích các quốc gia trong khu vực chạy đua vũ trang. Chính quyền Trump yêu cầu Úc tăng chi tiêu quốc phòng lên 30% và thanh toán chi phí dự án tàu ngầm hạt nhân AUKUS càng sớm càng tốt, khiến chính sách quốc phòng của Úc thay đổi mạnh mẽ dưới sức ép này. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles tháng 3 năm 2025 tuyên bố, chi tiêu quốc phòng trong bốn năm tới sẽ tăng thêm 10,6 tỷ đô la, trở thành “mức tăng chi tiêu quốc phòng lớn nhất kể từ khi Thế chiến II kết thúc ở Úc”. Ngoài ra, chính phủ Úc dự kiến sẽ chi 368 tỷ đô la Úc (khoảng 240 tỷ đô la Mỹ) cho việc mua sắm tàu ngầm hạt nhân đến năm 2055, nhằm nâng cao đáng kể năng lực tác chiến dưới mặt nước. Những động thái này không chỉ là phản ứng trực tiếp trước yêu cầu của Mỹ, mà còn là minh chứng cho việc tăng cường năng lực quân sự dưới sự dẫn dắt chiến lược của Mỹ. Hành động tăng cường quân sự mạnh mẽ của Úc đã làm thay đổi đáng kể tình thế an ninh khu vực, thúc đẩy các quốc gia liên quan dựa trên đánh giá mối đe dọa thực tế, đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa quân đội của chính họ. Ví dụ, Indonesia đã tuyên bố lên kế hoạch mua sắm một số tàu ngầm thông thường trong vài năm tới để tăng cường năng lực tác chiến dưới mặt nước; Malaysia cũng đang tích cực tìm kiếm máy bay tuần tra chống ngầm và tàu chiến chống ngầm tiên tiến để nâng cao năng lực tác chiến chống ngầm. Những hành động này không hoàn toàn bắt nguồn từ sự ngờ vực lẫn nhau một cách trừu tượng, mà là phản ứng có mục tiêu trước tình trạng cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, đặc biệt là việc Úc có được năng lực tấn công vượt quá nhu cầu phòng thủ của mình. Những động thái này vừa làm gia tăng gánh nặng tài chính cho các quốc gia, vừa đẩy cao cục diện đối đầu quân sự tổng thể trong khu vực.

Thứ hai, tăng khả năng xảy ra va chạm và xung đột quân sự. Theo dữ liệu công bố của Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Mỹ, Mỹ thực hiện hơn 100 cuộc tập trận quân sự mỗi năm tại khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, trong đó nhiều cuộc tập trận có sự tham gia của các nước thành viên AUKUS, khách quan làm tăng khả năng hiểu lầm và va chạm. Kể từ nhiệm kỳ thứ hai của Trump, lấy AUKUS làm khuôn khổ hiệp đồng, Mỹ thường xuyên tiến hành các hoạt động quân sự có mục tiêu, đặc biệt là tăng đáng kể sự hiện diện và cường độ hoạt động quân sự cùng Úc tại các khu vực nhạy cảm như Biển Đông. Tháng 7 năm 2025, Mỹ-Úc tổ chức tập trận chung “Talisman Sabre”, với hơn 30.000 quân tham gia, bảo gồm nhiều lĩnh vực như trên bộ, trên biển và trên không. Tháng 8 năm 2025, Mỹ tham gia cuộc tập trận quân sự quy mô lớn nhất của Úc “Alios 2025”, với 3.600 quân tham gia, phá vỡ kỷ lục về quy mô kể từ khi cuộc tập trận này được khởi động. Trong bối cảnh các tranh chấp về quyền lợi và lãnh thổ trên biển trong khu vực hiện vẫn khó giải quyết, các hành động như vậy dễ bị các quốc gia ven biển coi là khiêu khích chủ quyền, làm tăng khả năng xảy ra xung đột.

Thứ ba, làm suy yếu sự ổn định tổng thể của cấu trúc an ninh khu vực. Việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump đã tạo ra những tác động mới đối với hợp tác đa phương hiện có trong khu vực, tác động then chốt của nó nằm ở chỗ, với tính chất trao đổi lợi ích và phân tầng rõ ràng hơn. Một mặt, dưới ảnh hưởng của tư tưởng “Nước Mỹ trên hết” của Trump, tính phân tầng của AUKUS không chỉ được thể hiện ở việc phân chia trách nhiệm rõ ràng và tăng cường khả năng tương tác, mà còn khiến các quốc gia trong khu vực bị buộc phải lựa chọn một trong hai giữa “liên minh” hoặc “không liên minh” với Mỹ. Dưới áp lực này, sự bất đồng chiến lược vốn đã tồn tại giữa các nước thành viên ASEAN trong cách ứng phó với cạnh tranh giữa các nước lớn có thể bị thổi phồng lên, từ đó càng làm suy yếu sự đoàn kết nội bộ của ASEAN và vai trò của tổ chức này với tư cách là “trung tâm” gắn kết và hành động vì an ninh khu vực. Mặt khác, AUKUS với tư cách là cơ chế an ninh tiểu đa phương có tính phân tầng cao do Mỹ dẫn dắt, việc tăng cường chính sách và leo thang hoạt động của nó được các quốc gia trong khu vực coi như một sự phá vỡ hoặc làm suy yếu cấu trúc an ninh hiện có, từ đó kích thích các chủ thể quan trọng khác thực hiện hành vi né tránh rủi ro. Ví dụ, Nhật Bản bắt đầu nỗ lực xây dựng các quan hệ an ninh đa dạng hóa ngoài liên minh Mỹ-Nhật, bao gồm hợp tác quốc phòng thực chất với các nước thành viên AUKUS, để ứng phó với sự bất định và bù đắp sự phụ thuộc vào đồng minh đơn nhất. Những điều này sẽ gia tăng và thúc đẩy các mâu thuẫn cấu trúc vốn có, thúc đẩy hợp tác an ninh khu vực phát triển theo hướng mạng lưới tiểu đa phương đầy bất định, lấy cạnh tranh giữa các nước lớn làm định hướng, cuối cùng sẽ gây tổn hại đến nền tảng thể chế bao trùm mà sự ổn định lâu dài của khu vực phụ thuộc vào.

Kích hoạt tranh chấp lợi ích hàng hải và tài nguyên trong khu vực

Việc điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với AUKUS, ở nhiều cấp độ đã kích hoạt tranh chấp lợi ích hàng hải và tài nguyên trong khu vực, không chỉ đe dọa hòa bình, ổn định của các quốc gia trong khu vực, mà còn phá vỡ các cơ chế quản trị đa phương hiện có, cản trở quá trình hợp tác hàng hải khu vực.

Thứ nhất, làm gia tăng xung đột về chủ quyền tại các vùng biển tranh chấp. Hiện nay, tình hình an ninh tại Biển Đông căng thẳng và phức tạp. Thông qua khuôn khổ AUKUS, Mỹ đơn lẻ hoặc cùng Úc tiến hành các hoạt động trinh sát tàu ngầm thường xuyên hoặc diễn tập phong tỏa mô phỏng gần các đảo, đá tranh chấp trên Biển Đông, mục tiêu đã vượt xa “tự do hàng hải” đơn thuần, mà phục vụ ở tầm sâu hơn cho mục tiêu chiến lược nhằm đảm bảo Mỹ và các đồng minh cốt lõi kiểm soát các tuyến đường thương mại hàng hải then chốt như eo biển Malacca, eo biển Sunda cũng như các khu vực giàu tài nguyên chiến lược dưới đáy biển trong tương lai, đồng thời tiếp tục thúc đẩy tranh chấp tại các vùng biển này nâng cấp từ “va chạm bề mặt” lên “đối đầu dưới mặt nước”. Những hoạt động này còn có thể bị các quốc gia liên quan giải thích là “hành động tiếp tay, hậu thuẫn cho các bên liên quan trong vấn đề Biển Đông”, từ đó làm gia tăng tính đối kháng trong các tuyên bố chủ quyền.

Thứ hai, kích hoạt trò chơi tổng bằng không về khai thác tài nguyên biển. Đại dương không chỉ là hành lang chiến lược mà còn là khu vực giàu tài nguyên. Tháng 4 năm 2025, chính quyền Trump ký sắc lệnh hành pháp, tăng cường tranh giành tài nguyên khoáng sản quan trọng dưới đáy biển toàn cầu, trao cho tài nguyên biển giá trị chiến lược cao hơn, có thể quyết định sinh mệnh của ngành công nghiệp tương lai và quyền phát triển quốc gia. Việc điều chỉnh chính sách của Trump đối với AUKUS càng mở rộng từ tập trung vào công nghệ quân sự cấp cao sang tích hợp cam kết an ninh và kiểm soát tài nguyên, nhằm đạt được mô hình cạnh tranh mới “lấy an ninh làm ràng buộc tài nguyên”. Điều đó khiến một số quốc gia trong khu vực có xu hướng dựa vào liên minh này để tăng cường năng lực hiệp đồng quân sự, tìm kiếm “hậu thuẫn” cho việc khai thác tài nguyên tại các vùng biển tranh chấp. Ví dụ, Philippines công khai tìm kiếm đối thoại với các nước thành viên AUKUS về “hợp tác thăm dò tài nguyên và đảm bảo an ninh” tại vùng biển tranh chấp, cố gắng áp dụng trực tiếp hợp tác an ninh vào khai thác tài nguyên. Tháng 10 năm 2025, Philippines đã trao tám hợp đồng thăm dò dầu khí và hydro cho các công ty từ Mỹ, Anh, Úc, Israel, Singapore, v.v., đẩy nhanh việc thăm dò và hợp tác phát triển năng lượng tại các vùng biển liên quan trên Biển Đông. Những động thái này đã xói mòn nghiêm trọng nền tảng hợp tác “gác lại tranh chấp, cùng phát triển”, biến vấn đề phân bổ tài nguyên thành trò chơi tổng bằng không kiểu “ai có hậu thuẫn quân sự mạnh thì được ưu tiên khai thác”, thậm chí dẫn đến việc trong tương lai, để đảm bảo lợi ích của chính mình được tối đa hóa, các quốc gia có thể cạnh tranh nhau áp dụng các biện pháp đối kháng như đơn phương tuyên bố mở rộng vùng đặc quyền kinh tế, ban hành luật cấm các công ty nước ngoài hợp tác với đối thủ cạnh tranh, cuối cùng dẫn đến hiệu quả khai thác tài nguyên khu vực giảm sút và sự manh mún hóa hợp tác kinh tế.

Thứ ba, phá hoại sự phối hợp hiệu quả của các cơ chế quản trị biển khu vực. Hiện nay, trật tự biển khu vực châu Á-Thái Bình Dương phụ thuộc vào sự điều phối của các cơ chế quản trị đa phương, ví dụ như Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), cũng như các tổ chức quản lý nghề cá khu vực như Ủy ban Nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương (WCPFC), đóng vai trò quan trọng trong quản trị biển khu vực, và hiệu quả của chúng phụ thuộc cao vào lòng tin chiến lược giữa các nước thành viên. Việc điều chỉnh chính sách đối với AUKUS trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump gây ra leo thang đối đầu quân sự, sẽ trực tiếp xói mòn nền tảng lòng tin này. Ví dụ, Philippines dưới thời Duterte đã tích cực thúc đẩy việc thực hiện các điều khoản về đường dây nóng và tập trận chung trên biển trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông với Trung Quốc, nhưng chính quyền Marcos lên nắm quyền với sự hậu thuẫn của Mỹ đã chuyển sang cứng rắn hơn. Trong tương lai, nếu AUKUS can thiệp sâu hơn vào vấn đề Biển Đông, Philippines có thể càng có xu hướng dựa vào lực lượng quân sự bên ngoài thay vì cơ chế đa phương để giải quyết vấn đề, dẫn đến việc thực thi các thỏa thuận hiện có như DOC bị đình trệ. Tác động sâu rộng hơn nằm ở chỗ, do mô hình hợp tác loại trừ và “vòng tròn nhỏ” của AUKUS, nó có thể thúc đẩy sự xuất hiện của “hệ thống song song” trong quản trị khu vực. Ví dụ, Mỹ có thể nhân cơ hội thúc đẩy thành lập “Liên minh An ninh Hàng hải Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, lôi kéo Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và các nước khác, xây dựng “mạng lưới phong tỏa hàng hải” nhắm vào các quốc gia cụ thể thông qua chia sẻ tình báo, tuần tra chung, v.v. Hệ thống quản trị biển “manh mún” này không những không giúp giải quyết tranh chấp khu vực, mà còn làm gia tăng xung đột quy tắc, dẫn đến quản trị biển trượt từ “hợp tác cùng có lợi” sang “đối đầu phe cánh”.

Kết luận

Sự phát triển năng động của mối quan hệ giữa Mỹ và AUKUS thực chất là sự hiện thân điển hình của những mâu thuẫn cấu trúc trong hệ thống quốc tế đương đại. Kể từ nhiệm kỳ thứ hai của Trump, ông đã trao cho AUKUS một định vị chiến lược mang màu sắc vụ lợi hơn, chuyển đổi các liên minh an ninh truyền thống thành công cụ để cạnh tranh quyền lực, và biến lợi thế công nghệ thành phương tiện kiểm soát nhằm mục đích ngăn chặn chiến lược. Quá trình này vừa thể hiện tính toán sâu xa của Mỹ trong việc định hình AUKUS như “nền tảng năng lực” và “động cơ công nghệ” cho chiến lược khu vực, phản ánh lập trường kiên định của nước này trong việc coi liên minh công nghệ là công cụ chiến lược cốt lõi trong kỷ nguyên cạnh tranh lớn, đồng thời cũng phơi bày sâu sắc những nghịch lý khó khăn mà Mỹ phải đối mặt khi xây dựng “liên minh công nghệ” trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, trở thành một phép thử quan trọng để quan sát tương tác chiến lược giữa các nước lớn tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhìn về tương lai, xu hướng phát triển của mối quan hệ Mỹ-AUKUS và sự phát triển của trật tự khu vực sẽ phụ thuộc ở mức độ lớn hơn vào quá trình tương tác và tìm kiếm sự cân bằng giữa các nước thành viên trong liên minh, chứ không chỉ do ý chí đơn phương của Mỹ quyết định. Nếu Mỹ muốn thoát khỏi thế bế tắc trong phát triển mối quan hệ với AUKUS, nước này phải từ bỏ hoàn toàn tư duy lạc hậu về trò chơi tổng bằng không, đặc biệt cần nhìn thẳng và thay đổi ý đồ chiến lược nhằm tìm kiếm an ninh tuyệt đối bằng cách xây dựng các liên minh tiểu đa phương có tính phân tầng rõ ràng, nhắm vào bên thứ ba cụ thể. Những “vòng tròn nhỏ” này về bản chất đi ngược lại với tinh thần đa phương cởi mở, bao trùm và mô hình quan hệ quốc tế mới lấy “an ninh chung” và “thịnh vượng chung” làm giá trị cốt lõi, chẳng những không giúp giải quyết bất đồng khu vực, mà còn làm cứng hóa đối đầu phe cánh, gia tăng tình thế khó khăn an ninh, cuối cùng phản tác dụng trong việc đảm bảo lợi ích an ninh lâu dài của chính liên minh./.

Hết

Biên dịch: Hoàng Hải

Tác giả Phương Hiểu Chí là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Luật học tại Trường Ngoại ngữ, Đại học Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
Tags: Ấn Độ Dương - Thái Bình DươngAUKUScạnh tranh nước lớncục diện khu vựcNước Mỹ trên hết
ShareTweetShare
Bài trước

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

  • Thịnh Hành
  • Bình Luận
  • Latest
Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

Cuba đương đầu với những thách thức chính trị trong nước

22/06/2025
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

04/06/2025
Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

Tình hình xung đột tại Myanmar sau 3 năm: Diễn biến, tác động và dự báo

30/01/2024
Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

Châu Á – “thùng thuốc súng” của Chiến tranh thế giới thứ ba

18/09/2024
Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: Cuộc chiến không có người chiến thắng

27/07/2025
Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Làn sóng biểu tình ở Indonesia: thực trạng, dự báo và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

01/09/2025
Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

Tình hình Biển Đông từ đầu năm 2024 đến nay và những điều cần lưu ý

06/05/2024
Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

Dấu hiệu cách mạng màu trong khủng hoảng chính trị ở Bangladesh?

07/08/2024
Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

Triển vọng phát triển tuyến đường thương mại biển Á – Âu qua Bắc Băng Dương

2
Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

Khả năng phát triển của các tổ chức an ninh tư nhân Trung Quốc trong những năm tới

2
4,5 giờ đàm phán cấp cao Mỹ – Nga: cuộc chiến tại Ukraine liệu có cơ hội kết thúc?

Những điều đáng chú ý trong cuộc đàm phán Ngoại trưởng Nga – Mỹ tại Saudi Arabia

2
Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

Tin đồn về sự lung lay quyền lực của Tập Cận Bình: Hiện thực hay chỉ là biểu hiện của chiến tranh nhận thức?

2
Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

Liệu đã đến thời điểm nghĩ tới đàm phán hòa bình với Nga và các điều khoản sẽ thế nào?

1
Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

Mỹ bế tắc trước sự vươn lên của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

1
Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

Quan hệ Nga-Trung-Triều phát triển nhanh chóng và hệ lụy đối với chiến lược của phương Tây

1
Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

Campuchia triển khai Chiến lược Ngũ giác và những hàm ý đối với Việt Nam

1
Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần cuối)

10/05/2026
Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

09/05/2026
Phản ứng của Trung Quốc với các hành động của Mỹ trong đầu năm 2026: Góc nhìn từ lý thuyết Phòng ngừa rủi ro

Phản ứng của Trung Quốc với các hành động của Mỹ trong đầu năm 2026: Góc nhìn từ lý thuyết Phòng ngừa rủi ro

07/05/2026
Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở 2.0 của Nhật Bản

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở 2.0 của Nhật Bản

05/05/2026
Đặc điểm mới từ các điểm nóng xung đột toàn cầu

Đặc điểm mới từ các điểm nóng xung đột toàn cầu

03/05/2026
Một góc nhìn về tổ hợp khoa học – công nghệ Mỹ

Một góc nhìn về tổ hợp khoa học – công nghệ Mỹ

01/05/2026
Chiến lược quân sự mới của Đức: Tự chủ và tham vọng tái quân sự hóa

Chiến lược quân sự mới của Đức: Tự chủ và tham vọng tái quân sự hóa

29/04/2026
Còn quá sớm để ăn mừng thất bại chiến lược của Mỹ ở Trung Đông

Còn quá sớm để ăn mừng thất bại chiến lược của Mỹ ở Trung Đông

27/04/2026

Tin Mới

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần cuối)

10/05/2026
11
Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

Điều chỉnh chiến lược của AUKUS thời Trump 2.0 và tác động của nó tới sự tái cấu trúc trật tự khu vực (Phần đầu)

09/05/2026
22
Phản ứng của Trung Quốc với các hành động của Mỹ trong đầu năm 2026: Góc nhìn từ lý thuyết Phòng ngừa rủi ro

Phản ứng của Trung Quốc với các hành động của Mỹ trong đầu năm 2026: Góc nhìn từ lý thuyết Phòng ngừa rủi ro

07/05/2026
339
Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở 2.0 của Nhật Bản

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở 2.0 của Nhật Bản

05/05/2026
319

Cộng đồng nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế.

Liên hệ

Email: [email protected]; [email protected]

Danh mục tin tức

  • Châu Á
  • Châu Âu
  • Châu Đại Dương
  • Châu Mỹ
  • Châu Phi
  • Chính trị
  • Chuyên gia
  • Khu vực
  • Kinh tế
  • Lĩnh vực
  • Media
  • Phân tích
  • Podcasts
  • Quốc phòng – an ninh
  • Sách
  • Sự kiện
  • Sự kiện
  • Thông báo
  • Thư viện
  • Tiêu điểm
  • TIÊU ĐIỂM – ĐẠI HỘI ĐẢNG XX TQ
  • Xã hội
  • Ý kiến độc giả
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Lĩnh vực
    • Kinh tế
    • Xã hội
    • Quốc phòng – an ninh
    • Chính trị
  • Khu vực
    • Châu Á
    • Châu Âu
    • Châu Mỹ
    • Châu Phi
    • Châu Đại Dương
  • Phân tích
    • Ý kiến độc giả
    • Chuyên gia
  • Thư viện
    • Sách
    • Tạp chí
    • Media
  • Podcasts
  • Giới thiệu
    • Ban Biên tập
    • Dịch giả
    • Đăng ký cộng tác
    • Thông báo

© 2022 Bản quyền thuộc về nghiencuuchienluoc.org.