Chạy đua vũ trang là quá trình cạnh tranh không ngừng về năng lực và công nghệ quân sự giữa các quốc gia nhằm tạo ra sức mạnh vượt trội. Hiện tượng này được thúc đẩy bởi nhiều nguyên nhân vĩ mô và vi mô, từ nhu cầu sinh tồn cơ bản của quốc gia đến các tác nhân về chính trị, kinh tế và công nghệ hiện đại. Xu hướng tái vũ trang trên thế giới đang ở mức bùng nổ mạnh mẽ nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Môi trường an ninh quốc tế phân mảnh sâu sắc do sự sụp đổ của các cơ chế kiểm soát vũ khí cũ, đẩy thế giới vào một chu kỳ hành động – phản ứng không có điểm dừng. Nhưng xét một cách toàn diện, có thể thấy tình hình chạy đua vũ trang hiện nay khởi phát từ những lý do sau:
Một, hệ thống quốc tế vô chính phủ, việc một quốc gia gia tăng sức mạnh quân sự nhằm bảo đảm an ninh của mình thường bị các quốc gia khác diễn giải là mối đe dọa, từ đó hình thành thế lưỡng nan an ninh. Cơ chế này tạo ra phản ứng dây chuyền khi các bên liên tục hiện đại hóa lực lượng và nâng cấp vũ khí để duy trì thế cân bằng chiến lược. Động lực này càng được khuếch đại bởi các tranh chấp chủ quyền và lãnh thổ, từ bất đồng về biên giới trên bộ, trên biển đến cạnh tranh tài nguyên, khiến các quốc gia buộc phải tăng cường ngân sách quốc phòng nhằm bảo vệ những lợi ích cốt lõi. Trên nền tảng đó, tâm lý phòng ngừa phủ đầu tiếp tục thúc đẩy quá trình quân sự hóa khi nỗi lo bị tấn công bất ngờ hoặc đánh mất lợi thế chiến lược khiến các nước ưu tiên phát triển các hệ thống phòng thủ tên lửa, năng lực tấn công nhanh và các loại vũ khí hiện đại. Những yếu tố này không tồn tại riêng lẻ mà tương tác và củng cố lẫn nhau, tạo thành động lực trực tiếp làm gia tăng cạnh tranh quân sự và chi tiêu quốc phòng giữa các quốc gia.
Hai, sự biến đổi của môi trường chiến lược quốc tế và những tính toán dài hạn của các quốc gia cũng là một tác động quan trọng khiến các quốc gia gia tăng xu hướng chạy đua vũ trang. Sự cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, gắn với khác biệt về hệ tư tưởng, mô hình phát triển và tham vọng định hình trật tự quốc tế, đã làm gia tăng đối đầu giữa các khối quyền lực, kéo theo xu hướng mở rộng liên minh quân sự và củng cố năng lực răn đe. Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia, đặc biệt là các cường quốc tầm trung và các nước đang phát triển, cũng đẩy mạnh theo đuổi mô hình tự chủ chiến lược, chuyển dần từ phụ thuộc vào nhập khẩu sang tự nghiên cứu và sản xuất vũ khí nhằm nâng cao năng lực quốc phòng, tăng cường vị thế đối ngoại và giảm sự lệ thuộc vào các nước lớn. Đồng thời, sự kéo dài của các điểm nóng an ninh cùng sự gia tăng của các mối đe dọa truyền thống và phi truyền thống tại nhiều khu vực như Trung Đông, Đông Á và Đông Âu tiếp tục làm gia tăng cảm giác bất ổn, buộc các quốc gia phải đẩy mạnh mua sắm và hiện đại hóa trang thiết bị quân sự để ứng phó với những rủi ro an ninh ngày càng phức tạp. Những yếu tố này tuy không trực tiếp gây ra chạy đua vũ trang, nhưng tạo nên nền tảng chiến lược lâu dài, duy trì và thúc đẩy xu hướng gia tăng chi tiêu quốc phòng trên phạm vi toàn cầu.
Ba, các động lực kinh tế và công nghệ đóng vai trò là nhân tố nội sinh thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quân sự. Sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ quân sự thế hệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), vũ khí siêu thanh, tác chiến không gian mạng và hệ thống vũ khí tự động sát thương (AWS) đã mở ra một cuộc cạnh tranh công nghệ quyết liệt, trong đó việc giành ưu thế về đổi mới sáng tạo đồng nghĩa với việc giành lợi thế chiến lược trên chiến trường tương lai. Song song với đó, lợi ích kinh tế từ tổ hợp công nghiệp – quân sự tiếp tục trở thành động lực quan trọng khi ngành công nghiệp quốc phòng không chỉ tạo ra nguồn lợi nhuận lớn mà còn đem lại ảnh hưởng đáng kể về chính trị và chiến lược, khiến các tập đoàn quốc phòng có xu hướng thúc đẩy đầu tư, sản xuất và xuất khẩu vũ khí trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới ngày càng phụ thuộc vào các tuyến hàng hải chiến lược, chuỗi cung ứng xuyên quốc gia và hạ tầng số, việc bảo vệ các lợi ích kinh tế này đã trở thành yêu cầu an ninh thiết yếu, buộc nhiều quốc gia tăng cường hiện đại hóa lực lượng hải quân, không quân và năng lực tác chiến mạng. Chính sự kết hợp giữa tiến bộ công nghệ, lợi ích kinh tế và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia đã tạo thành động lực bền vững, thúc đẩy quá trình phát triển năng lực quân sự trên toàn cầu.
Thực trạng chạy đua vũ trang thời gian qua
Tình hình chung
Tổng chi tiêu quân sự toàn cầu hiện nay đã đạt con số kỷ lục 2.887 tỷ USD, chiếm khoảng 2,5% GDP toàn cầu. Đây là năm thứ 11 liên tiếp ghi nhận sự tăng trưởng dương về ngân sách quốc phòng trên toàn thế giới. Mặc dù Mỹ tạm thời giảm nhẹ ngân sách do các điều chỉnh dòng viện trợ, làn sóng tái vũ trang lại bứt tốc nghẹt thở tại châu Âu với 14% và châu Á – Thái Bình Dương 8,1%. Năm quốc gia chi tiêu lớn nhất thế giới gồm Mỹ, Trung Quốc, Nga, Đức và Ấn Độ chiếm tới 58% tổng ngân sách quân sự toàn cầu.[1]
Sự cạnh tranh chiến lược giữa các siêu cường không còn gói gọn trong răn đe thông thường mà đã chuyển sang trạng thái chuẩn bị toàn diện cho xung đột cường độ cao và chạy đua công nghệ đột phá.
Tại các khu vực, thực trạng dịch chuyển rõ nét theo các trục an ninh biên giới. Châu Âu hiện nay đối mặt trực diện với rủi ro an ninh từ cuộc chiến tiêu hao Nga – Ukraine, toàn khu vực rơi vào trạng thái tái vũ trang toàn diện mạnh nhất kể từ Thế chiến II. 23/32 thành viên NATO đã vượt mốc chi tiêu 2% GDP, với Ba Lan là điển hình lớn khi chi tiêu quốc phòng tiến sát mốc 10% tổng chi tiêu công. Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chịu áp lực trực tiếp từ cạnh tranh địa chiến lược Mỹ – Trung, khu vực này chứng kiến cuộc chạy đua hải quân biển xa và công nghệ bầy đàn không người lái kéo dài liên tục 35 năm tăng trưởng dương. Tại Trung Đông, các cuộc đụng độ trực tiếp giữa Israel và Iran, cùng các đợt tập kích tên lửa của các lực lượng ủy nhiệm đã đẩy khu vực vào tình trạng báo động đỏ. Thực trạng này buộc các nước Vùng Vịnh giàu có phải chuyển hướng, chi hàng chục tỷ USD mua sắm khẩn cấp các lưới phòng không đa tầng và hệ thống tác chiến điện tử.
Mỹ tiếp tục giữ vị thế độc tôn với tổng ngân sách quốc phòng thực tế chính thức vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Mỹ tập trung ưu tiên tuyệt đối cho dòng vốn răn đe hạt nhân và tăng tốc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào toàn bộ các quân chủng. Trung Quốc duy trì vị thế quốc gia chi tiêu quân sự lớn thứ hai thế giới. Bắc Kinh đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội tập trung vào năng lực tác chiến công nghệ cao, tầm xa, mở rộng kho đạn hạt nhân chiến lược và gia tăng tốc độ đóng mới các biên đội siêu tàu sân bay. Liên bang Nga chịu áp lực tiêu hao trực tiếp từ chiến trường Ukraine, nền kinh tế Nga đã dịch chuyển sâu sắc sang mô hình “kinh tế thời chiến”. Ngân sách quốc phòng ước tính chiếm 7,5% GDP, đẩy tổ hợp công nghiệp quốc phòng nội địa vận hành liên tục 24/7 để vừa đáp ứng mặt trận, vừa nâng cấp vũ khí tác chiến điện tử và tên lửa siêu thanh.
Tuy nhiên, những con số kỷ lục về ngân sách quốc phòng hay các hành động điều động khí tài tại các chiến trường thực địa mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Về mặt khoa học quân sự, mọi phát súng bắn ra hay mọi dòng tiền phân bổ trên thực địa đều là kết quả tất yếu của một hệ thống tư duy chiến lược đã được thể chế hóa. Để hiểu rõ bản chất sâu xa và nguồn gốc điều khiển cuộc chạy đua vũ trang này, cần phải phân tích sâu vào các quyết sách lập pháp, chính sách đầu tư và phát triển, cũng như điều lệnh mang tính pháp quy tối cao của từng quốc gia.
Nỗ lực đầu tư cho quốc phòng của các quốc gia, khu vực thời gian qua
*Đối với Mỹ
Mặc dù ghi nhận mức sụt giảm kỹ thuật ngắn hạn xuống 954 tỷ USD trong báo cáo của SIPRI, chủ yếu do sự chậm trễ phân bổ các gói viện trợ quốc tế, nhưng ngân sách quốc phòng của Mỹ đã chính thức bứt tốc quay lại và vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD năm 2026 (áp dụng cho việc phân bổ ngân sách thực tế và chuẩn bị cho Tài khóa 2027). Chính quyền Tổng thống Donald Trump đã đệ trình lên Quốc hội Mỹ đề xuất ngân sách quốc phòng kỷ lục lên tới 1.500 tỷ USD cho năm tài khóa tiếp theo.[2] Đây là mức tăng theo năm lớn nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai nhằm củng cố năng lực răn đe và bổ sung kho dự trữ chiến lược. Theo báo cáo từ Chiến dịch Quốc tế nhằm loại bỏ vũ khí hạt nhân (ICAN), Mỹ tiếp tục giữ vị thế độc tôn khi chi tới 69,2 tỷ USD riêng cho các chương trình hạt nhân, tăng mạnh 22% so với năm trước, bằng tổng mức chi của 8 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân còn lại cộng lại.[3]
Chính quyền Mỹ đang triển khai các hoạt động thực tế quy mô lớn. Lầu Năm Góc giải trình rằng khoản chi kỷ lục này là bắt buộc để xây dựng “Quân đội trong mơ”. Dòng tiền này được dồn lực để tái thiết và bổ sung khẩn cấp kho vũ khí của Mỹ sau các tiêu hao lớn từ chiến dịch quân sự tại Iran, đồng thời tài trợ tối đa cho dự án lá chắn tên lửa không gian Golden Dome (Vòm Vàng) và chương trình phát triển máy bay không người lái tự hành chỉ huy bằng AI.
Cụ thể, với quyết sách Chuyển dịch ngân sách công nghệ, Mỹ thực hiện nghiêm ngặt phân bổ theo Mục 2430a của Bộ luật Mỹ (U.S. Code), ưu tiên tối đa cho các dự án “Mẫu thử nghiệm cấp tốc”.[4] Song song, các điều lệnh Tác chiến Đa miền (FM 3-0) được đẩy mạnh, quy định việc tái cấu trúc các Lữ đoàn truyền thống thành các Lực lượng Đặc nhiệm Đa miền (MDTF). Chính sách đầu tư bắt buộc phải tập trung vào hệ thống phần mềm chỉ huy CJADC2 kiến trúc mạng kết nối mọi cảm biến từ vệ tinh không gian đến tiêm kích, tự động hóa quy trình nhận diện và tiêu diệt mục tiêu bằng thuật toán. Quan trọng nhất, quyết sách Hiện đại hóa Hạt nhân được cụ thể hóa thông qua Kế hoạch của Cục An ninh Hạt nhân Quốc gia (NNSA), bắt buộc phân bổ dòng vốn cố định nâng cấp các lò phản ứng sản xuất lõi plutonium, phục vụ trực tiếp cho việc thay thế kho đầu đạn hạt nhân thế hệ mới và tài trợ cho dự án lá chắn tên lửa không gian.
Mỹ đang dốc toàn lực tái thiết lập thế trận răn đe hạt nhân chiến lược thông qua việc đầu tư đồng bộ cả 3 trụ cột không – thủy – bộ. Trong đó, thúc đẩy dự án Sentinel thay thế cho dòng Minuteman III đã lạc hậu đặt trong các hầm phóng phản ứng nhanh trên đất liền. Tài trợ dòng tiền khổng lồ cho tập đoàn quân sự để phát triển thế hệ máy bay ném bom tàng hình chiến lược B-21 Raider và đẩy mạnh sản xuất hàng loạt máy bay tiêm kích thế hệ thứ sáu. Tăng tốc đóng mới các tàu ngầm hạt nhân lớp Columbia mang tên lửa đạn đạo tầm xa để đảm bảo năng lực phản công từ đại dương. Các phòng thí nghiệm quốc gia của Mỹ đang chuẩn bị cơ sở hạ tầng tại bãi thử Nevada, làm dấy lên lo ngại quốc tế về nguy cơ phá vỡ cam kết và nối lại các vụ thử hạt nhân thực địa.[5]
Cùng với đó, Mỹ tăng tốc phát triển và đánh chặn vũ khí siêu thanh. Mỹ dành riêng một khoản chi khổng lồ khoảng 175 tỷ USD cho chương trình phòng thủ tên lửa thế hệ mới mang tên “Golden Dome”. Mạng lưới này được thiết kế để đánh chặn các loại tên lửa hành trình siêu thanh thông minh của đối thủ tiềm tàng. Không quân và Lục quân Mỹ liên tiếp thực hiện các vụ thử nghiệm tên lửa siêu thanh phóng từ trên không (ARRW) và vũ khí siêu thanh tầm trung (LRHW) nhằm thu hẹp khoảng cách công nghệ bắn phá tầm xa với các đối thủ cạnh tranh.[6]
*Đối với Trung Quốc
Quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc trong những năm gần đây cho thấy Bắc Kinh không chỉ gia tăng quy mô đầu tư quốc phòng mà còn từng bước tái cấu trúc toàn diện năng lực quân sự theo hướng phục vụ cạnh tranh chiến lược với các cường quốc. Khác với giai đoạn trước khi ưu tiên xây dựng lực lượng đủ khả năng phòng thủ lãnh thổ, Trung Quốc hiện chuyển sang mục tiêu xây dựng một quân đội “đẳng cấp thế giới” vào năm 2049, trong đó giai đoạn đến năm 2035 được xác định là mốc hoàn thành cơ bản hiện đại hóa PLA theo mô hình “cơ giới hóa – thông tin hóa – thông minh hóa”. Chính vì vậy, hoạt động chạy đua vũ trang của Trung Quốc không chỉ thể hiện qua mức gia tăng chi tiêu quốc phòng mà còn phản ánh ở việc đồng thời phát triển năng lực răn đe hạt nhân, sức mạnh hải quân, công nghệ quân sự mới và khả năng triển khai sức mạnh tại các khu vực chiến lược.
Việc duy trì tốc độ tăng trưởng ngân sách quốc phòng ổn định đã tạo nền tảng vật chất cho toàn bộ tiến trình hiện đại hóa quân đội.
Tại Kỳ họp thứ 4, Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa XIV của Trung Quốc tháng 3/2026, Trung Quốc đã phê duyệt ngân sách quốc phòng đạt 1,94 nghìn tỷ Nhân dân tệ (khoảng 281 tỷ USD), đánh dấu năm thứ 11 liên tiếp duy trì mức tăng gần 7%, qua đó tiếp tục là quốc gia có chi tiêu quân sự lớn thứ hai thế giới.[7] Tuy nhiên, nhiều tổ chức nghiên cứu cho rằng con số này chưa phản ánh đầy đủ quy mô đầu tư quốc phòng của Bắc Kinh do chưa bao gồm các khoản chi cho nghiên cứu – phát triển quốc phòng, lực lượng Cảnh sát biển, chương trình mua sắm ngoài ngân sách và một số hoạt động quân sự khác. Theo ước tính của SIPRI, chi tiêu quân sự thực tế của Trung Quốc năm 2025 đã đạt khoảng 336 tỷ USD,[8] trong khi nhiều đánh giá của IISS cho rằng tổng quy mô có thể vượt 400 tỷ USD.[9] Với mức chi này, Trung Quốc hiện chiếm gần một nửa tổng chi tiêu quân sự của toàn khu vực châu Á, tạo ra ưu thế vượt trội về nguồn lực so với các quốc gia láng giềng và bảo đảm khả năng duy trì quá trình hiện đại hóa quân đội trong dài hạn.
Trên nền tảng nguồn lực ngày càng lớn, Bắc Kinh ưu tiên hiện đại hóa các năng lực răn đe chiến lược nhằm thay đổi cán cân sức mạnh với Mỹ. Trọng tâm nổi bật là việc mở rộng nhanh chóng lực lượng hạt nhân. Trung Quốc hiện sở hữu khoảng 620 đầu đạn hạt nhân và là quốc gia có tốc độ gia tăng kho đầu đạn nhanh nhất trong số chín quốc gia có vũ khí hạt nhân. Không chỉ tăng số lượng đầu đạn, PLA còn hoàn tất việc triển khai hàng trăm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa DF-31AG và DF-41 tại ba cụm hầm phóng quy mô lớn ở Yumen (Ngọc Môn), Hami (Cáp Mật) và Ordos (Ngạc Nhĩ Đa Tư), đồng thời tiếp tục phát triển phương tiện lướt siêu thanh (HGV) nhằm nâng cao khả năng xuyên thủng hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Đáng chú ý, Bộ Quốc phòng Mỹ dự báo nếu duy trì tốc độ hiện nay, Trung Quốc có thể sở hữu khoảng 1.500 đầu đạn hạt nhân vào năm 2035, qua đó từng bước tiến tới trạng thái răn đe hạt nhân tương đương với hai siêu cường hạt nhân truyền thống là Mỹ và Nga.[10] Điều này cho thấy mục tiêu của Bắc Kinh không còn dừng ở năng lực răn đe tối thiểu mà đang hướng tới xây dựng một lực lượng hạt nhân có khả năng sống sót cao, phản công linh hoạt và duy trì ưu thế trong cạnh tranh chiến lược lâu dài.
Song song với hiện đại hóa lực lượng hạt nhân, Trung Quốc cũng đẩy mạnh phát triển hải quân biển xanh nhằm mở rộng khả năng triển khai sức mạnh ra ngoài chuỗi đảo thứ nhất, với chiến lược “Cường quốc Hải quân” (Kế hoạch 048). Nếu như trước đây chiến lược hải quân của Bắc Kinh chủ yếu tập trung vào phòng thủ ven bờ thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang xây dựng lực lượng có khả năng hoạt động thường xuyên tại Tây Thái Bình Dương và các vùng biển xa. Điều này thể hiện qua việc đưa tàu sân bay Phúc Kiến (Type 003) vào biên chế với hệ thống máy phóng điện từ (EMALS), rút ngắn khoảng cách công nghệ với các tàu sân bay hiện đại của Mỹ. Đồng thời, các hình ảnh vệ tinh cũng cho thấy Trung Quốc đang thúc đẩy dự án tàu sân bay hạt nhân Type 004, đánh dấu bước chuyển từ hải quân khu vực sang lực lượng có khả năng triển khai sức mạnh toàn cầu.[11] Quá trình hiện đại hóa này không chỉ gia tăng năng lực tác chiến trên biển mà còn mở rộng khả năng bảo vệ các tuyến hàng hải chiến lược, lợi ích kinh tế ở nước ngoài và hỗ trợ các hoạt động quân sự ngoài lãnh thổ.
Bên cạnh các lực lượng truyền thống, Trung Quốc đang mở rộng cuộc chạy đua vũ trang sang các lĩnh vực công nghệ quân sự mới nhằm tạo ưu thế trong chiến tranh tương lai. Dưới định hướng thông minh hóa quân đội, PLA đầu tư mạnh vào trí tuệ nhân tạo (AI), các hệ thống tác chiến không người lái và năng lực không gian. Việc phát triển các “bầy đàn” UAV, phương tiện không người lái dưới nước (UUV) cùng với tích hợp AI vào hệ thống chỉ huy, kiểm soát và hỗ trợ ra quyết định cho thấy Bắc Kinh đang chuyển trọng tâm từ cạnh tranh về số lượng trang bị sang cạnh tranh về chất lượng công nghệ. Đồng thời, Lực lượng Hỗ trợ Chiến lược (SSF) tiếp tục mở rộng mạng lưới vệ tinh trinh sát Yaogan, qua đó nâng cao khả năng giám sát, định vị mục tiêu và hỗ trợ tác chiến theo thời gian thực trên không gian vũ trụ. Những bước đi này phản ánh xu hướng chuyển dịch của cuộc chạy đua vũ trang từ các lĩnh vực truyền thống sang cạnh tranh trong các miền tác chiến mới như không gian mạng, trí tuệ nhân tạo và không gian vũ trụ, nơi ưu thế công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức mạnh quân sự.
Quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc được chuyển hóa trực tiếp thành năng lực răn đe tại các điểm nóng địa chính trị. Tại Eo biển Đài Loan, Bắc Kinh ưu tiên phân bổ nguồn lực để trang bị các hệ thống tác chiến hiện đại như tiêm kích tàng hình J-20, tàu đổ bộ Type 075 và lực lượng tên lửa, đồng thời gia tăng tần suất các cuộc diễn tập quy mô lớn nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và gây sức ép đối với Đài Loan. Trên Biển Đông, Trung Quốc tiếp tục củng cố các thực thể chiếm đóng trái phép thông qua việc triển khai hệ thống radar cảnh giới, tên lửa phòng không HQ-9, tên lửa chống hạm YJ-12B và hoàn thiện mạng lưới chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD). Những động thái này cho thấy hoạt động chạy đua vũ trang của Trung Quốc không chỉ hướng tới nâng cao năng lực quân sự đơn thuần mà còn phục vụ trực tiếp cho việc mở rộng không gian ảnh hưởng, gia tăng khả năng răn đe và từng bước hiện thực hóa các mục tiêu địa chiến lược của Bắc Kinh tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
*Đối với Nga
Bị thúc đẩy bởi cuộc chiến tiêu hao kéo dài và khốc liệt tại Ukraine, cấu trúc kinh tế và quân sự của Liên bang Nga đã biến đổi sâu sắc sang mô hình kinh tế thời chiến.
Trong giai đoạn 2024 – 2025, chi tiêu quốc phòng thực tế của Nga đã tăng vọt lên mức kỷ lục ước tính từ 140 tỷ đến 190 tỷ USD. Dữ liệu được SIPRI xác nhận ngân sách này đã chạm ngưỡng 7,5% GDP toàn quốc. Trước đó, khi phê duyệt ngân sách quốc gia vào tháng 12/2024, Điện Kremlin đã chính thức phân bổ khoản chi quốc phòng ngốn tới hơn 30% (xấp xỉ 32,5%) tổng chi tiêu ngân sách liên bang. Đây là tỷ lệ phân bổ ngân sách cho quân sự cao nhất của Nga kể từ khi Liên Xô tan rã.[12] Tính từ khi bắt đầu chiến dịch quân sự tại Ukraine, tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga đã tuyển dụng thêm hơn 520.000 lao động mới. Hệ thống hơn 6.000 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quốc phòng được lệnh đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ủy ban Công nghiệp Quân sự Liên bang. Các nhà máy này liên tục vận hành theo ca 24/7 không có ngày nghỉ nhằm duy trì dòng vũ khí liên tục ra mặt trận.
Mối liên hệ hữu cơ giữa cuộc chiến Ukraine và hoạt động chạy đua vũ trang của Nga được thể hiện rõ qua bốn luận điểm:
Một, công nghiệp hóa vũ khí tiêu hao để đối phó với dòng viện trợ của phương Tây cho Ukraine. Nga đã tăng sản lượng xe tăng lên gấp 3,5 lần và xe bọc thép lên gấp 5 lần. Các nhà máy lớn như Uralvagonzavod không chỉ sửa chữa khí tài cũ mà còn chế tạo mới hàng loạt xe tăng T-90M Proryv tích hợp các tấm giáp lồng chống UAV và hệ thống áp chế điện tử trực tiếp ngay từ dây chuyền. Sản lượng đạn pháo của Nga đạt mức 4 triệu viên/năm, cao gấp vài lần tổng sản lượng của tất cả các nước NATO cộng lại. Đồng thời, dây chuyền sản xuất tên lửa hành trình Kalibr, tên lửa hành trình tàng hình Kh-101 và tên lửa đạn đạo chiến thuật Iskander-M được nhân rộng để duy trì các đợt tập kích tầm xa phá hủy hạ tầng năng lượng của Ukraine.[13]
Hai, tiến hành nâng cấp Vũ khí tác chiến điện tử (EW) và UAV, biến chiến trường Ukraine trở thành phòng thí nghiệm thực địa giúp Nga tối ưu hóa công nghệ. Nga triển khai các hệ thống EW cực mạnh như Krasukha-4, Zhitel và Pole-21 dọc chiến tuyến Ukraine. Các hệ thống này đã thành công trong việc làm chệch hướng các loại đạn pháo dẫn đường bằng GPS Excalibur, tên lửa HIMARS và bom thông minh JDAM do Mỹ cung cấp cho Ukraine. Nga đã cải tiến dòng UAV tự sát Lancet thành vũ khí săn tăng nguy hiểm nhất chiến trường. Moscow cũng hoàn thiện nhà máy khổng lồ tại vùng Alabuga để tự chủ sản xuất hàng vạn UAV dòng Geran-2 dựa trên nguyên mẫu Shahed với vỏ bọc hấp thụ sóng radar và tốc độ bay tối ưu hóa nhằm xuyên thủng lưới phòng không Kiev.[14]
Ba, tối ưu hóa hệ phòng thủ tên lửa nội địa bởi việc Ukraine được trang bị tên lửa tầm xa ATACMS và Storm Shadow buộc Nga liên tục cập nhật phần mềm và thuật toán đánh chặn cho các hệ thống tên lửa phòng không S-400 Triumph, Buk-M3 và Pantsir-S1 dựa trên dữ liệu thu thập từ các mảnh vỡ vũ khí NATO thu giữ được tại Ukraine. Nga đã đưa hệ thống phòng thủ phòng không – vũ trụ thế hệ mới S-500 vào trạng thái trực chiến độc lập. Hệ thống này có khả năng đánh chặn các mục tiêu siêu thanh và tên lửa đạn đạo tầm trung ở độ cao cận quỹ đạo.
Bốn, kích hoạt răn đe hạt nhân chiến lược đối phó NATO vì khi xung đột có nguy cơ kéo theo sự can thiệp trực tiếp của phương Tây, Nga đã đưa hệ thống ICBM hạng nặng RS-28 Sarmat (Satan II) mang nhiều đầu đạn phân hướng vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Liên hệ trực tiếp với việc phương Tây cho phép Ukraine tấn công vào lãnh thổ Nga, Moscow đã liên tiếp tổ chức các cuộc diễn tập thực địa sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật tại Quân khu phía Nam và phối hợp với Belarus để gửi thông điệp răn đe mạnh mẽ.
Cuộc chạy đua vũ trang không chỉ diễn ra ở cấp độ siêu cường mà đang tạo hiệu ứng dây chuyền mạnh mẽ tại các khu vực địa lý chịu áp lực địa chính trị lớn.
*Đối với Châu Âu
Theo báo cáo của SIPRI và dữ liệu được phân tích trên Hàng rào phân tích kinh tế quân sự, chi tiêu quốc phòng của châu Âu (không tính Nga và Ukraine) đã đạt mốc 864 tỷ USD, ghi nhận mức tăng trưởng vọt tới 14,1% chỉ trong vòng 12 tháng. Mức tăng này đóng góp gần một nửa tổng mức tăng chi tiêu quân sự của toàn thế giới. Áp lực từ rủi ro an ninh biên giới và nguy cơ Mỹ giảm bớt các cam kết bảo hộ đã thúc đẩy các thành viên chuyển dịch thần tốc. Hiện tại, đã có 23 trên tổng số 32 quốc gia thành viên NATO chính thức đạt hoặc vượt mức chi tiêu tối thiểu 2% GDP cho quốc phòng, so với con số chưa đầy 10 nước ở giai đoạn trước xung đột.[15]
Liên minh châu Âu (EU) đã thông qua Sách Trắng Quốc phòng nhằm kích hoạt gói ngân sách khổng lồ 800 tỷ Euro (khoảng 840 tỷ USD) từ nay đến năm 2030. Trong đó, ngân sách chung EU hỗ trợ 150 tỷ Euro, phần còn lại buộc các nước thành viên tự huy động qua thị trường tài chính hoặc tăng nợ công để hiện đại hóa quân đội trong thời hạn vàng 4 năm.[16] Châu Âu không còn duy trì trạng thái hưởng lợi từ hòa bình mà đã chuyển hẳn sang trạng thái sẵn sàng răn đe và chuẩn bị phòng thủ biên giới trực diện. Riêng EU đã thông qua Chiến lược Công nghiệp Quốc phòng Châu Âu (EDIS), ép buộc các quốc gia thành viên phải dành ít nhất 50% ngân sách mua sắm quân sự cho các nhà thầu nội địa châu Âu thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào vũ khí nhập khẩu từ Mỹ. Tái khởi động hành lang cơ động quân sự bằng việc chi hàng tỷ USD để nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông dân dụng (cầu đường, đường sắt, hầm) trên khắp lục địa, đảm bảo các khí tài hạng nặng như xe tăng Leopard 2 hay Abrams có thể vận chuyển xuyên suốt từ Tây Âu sang sườn Đông chỉ trong vòng 48 giờ khi xảy ra tình huống khẩn cấp.
Ba Lan hiện là quốc gia có tốc độ tái vũ trang quyết liệt nhất châu Âu, biến nước này thành trung tâm quyền lực quân sự mới của lục địa. Ngân sách quốc phòng của Ba Lan đã tăng nhanh, chiếm tới gần 10% tổng chi tiêu công và vượt ngưỡng 4,1% – 4,7% GDP, đứng đầu khối NATO về tỷ lệ đóng góp kinh tế.[17] Warsaw triển khai các hợp đồng mua sắm lớn chưa từng có bao gồm ký kết mua 96 trực thăng tấn công AH-64E Apache từ Mỹ để trấn giữ biên giới phía Đông, tiến hành nhập khẩu đồng bộ hệ sinh thái vũ khí Hàn Quốc với hàng trăm xe tăng chiến đấu chủ lực K2 Black Panther và pháo tự hành K9 Thunder, tích cực xây dựng dự án phòng thủ biên giới với Lá chắn phía Đông, thiết lập các bãi mìn bẫy, hệ thống hào phòng thủ chống tăng và lưới giám sát điện tử AI dọc biên giới 700km với Belarus và vùng Kaliningrad của Nga.[18]
Cùng với Ba Lan, Đức thực hiện bước chuyển đổi địa chính trị cốt lõi khi chi tiêu quốc phòng tăng vọt 24%, đạt mức 114 tỷ USD. Berlin chấp nhận áp lực cam kết nâng tỷ lệ đầu tư quốc phòng lên mức cao nhằm xây dựng lực lượng quân đội thông thường mạnh nhất châu Âu. Lần đầu tiên kể từ Thế chiến II, Đức triển khai một lữ đoàn chiến đấu thường trực đầy đủ (khoảng 5.000 binh sĩ) đồn trú ngoài lãnh thổ tại Lithuania (Litva) nhằm củng cố năng lực phòng thủ sườn Đông NATO.[19]
Anh và các nước Bắc Âu tăng cường răn đe tầm xa. Thủ tướng Keir Starmer công bố lộ trình dịch chuyển chi tiêu quốc phòng lên mức 2,5% GDP và hướng tới 3%. Anh công bố dự chi quốc phòng kỷ lục gần 350 tỷ Euro trong vòng 4 năm tới, tập trung nâng cấp hạm đội tàu ngầm hạt nhân lớp Vanguard và phát triển tiêm kích thế hệ thứ sáu Global Combat Air Programme (GCAP). Bắc Âu lại muốn biến Biển Baltic thành “Hồ NATO”, việc Phần Lan và Thụy Điển chính thức gia nhập liên minh đã kéo theo làn sóng quân sự hóa toàn diện Bắc Âu. Các nước này tăng mạnh chi tiêu để mua tiêm kích tàng hình F-35 của Mỹ, đồng thời thiết lập bộ chỉ huy tác chiến chung Bắc Âu nhằm khóa chặt các tuyến hàng hải tiếp cận của đối phương tại khu vực Biển Baltic.[20]
Pháp với đạo luật Lập kế hoạch Quân sự (LPM) được Quốc hội Pháp phê duyệt giai 2024 – 2030. Trong đó, tập trung vào chính sách công nghệ cao và cơ cấu lượng, đạo luật LPM quy định một khung pháp lý ràng buộc về mặt ngân sách quốc phòng đạt 413 tỷ Euro cho cả giai đoạn. Quyết sách này luật hóa việc Pháp phải duy trì năng lực tự sản xuất 100% các cấu phần cốt lõi của lực lượng răn đe hạt nhân (tên lửa ASMPA) và hải quân, không sử dụng linh kiện có nguồn gốc từ Mỹ để tránh bị ràng buộc bởi luật ITAR. Đạo luật LPM bóc tách ngân sách xây dựng Bộ Tư lệnh Tác chiến Không gian (CDE), quy định lộ trình đầu tư vào các vệ tinh tuần tra vũ trụ (dự án Yoda) có khả năng chủ động áp sát và vô hiệu hóa các vệ tinh do thám của đối phương.
*Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là một trong những tâm điểm của cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu do sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc, cùng với những căng thẳng kéo dài tại Eo biển Đài Loan, Biển Đông và khu vực biên giới Trung Quốc – Ấn Độ.
Hiện nay, chi tiêu quân sự của khu vực đã đạt khoảng 646 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm trước và là năm thứ 35 liên tiếp ghi nhận mức tăng trưởng. Trong đó, Trung Quốc chiếm khoảng 44% tổng chi tiêu quân sự của toàn khu vực, trong khi các liên minh an ninh do Mỹ dẫn dắt tiếp tục thúc đẩy các quốc gia tăng cường đầu tư quốc phòng.[21] Vì vậy, cuộc chạy đua vũ trang tại châu Á – Thái Bình Dương không còn tập trung vào mở rộng quy mô lực lượng mà chuyển sang cạnh tranh về năng lực tác chiến biển xa, phòng thủ tên lửa, vũ khí tầm xa và công nghệ quân sự thông minh.
Nhật Bản đang phá vỡ mọi giới hạn quân sự thời hậu chiến khi thực hiện một bước chuyển mình lịch sử, từ bỏ hoàn toàn chính sách phòng vệ thuần túy để hướng tới năng lực phản công chiến lược thông qua Chiến lược An ninh Quốc gia mới (NSS) và Khái niệm phòng thủ tích hợp. Tokyo đã thông qua ngân sách quốc phòng đạt mốc kỷ lục lịch sử khoảng 56 tỷ USD (tương đương 8,6 nghìn tỷ Yên). Đây là bước đệm then chốt trong lộ trình nâng chi tiêu quân sự lên mức 2% GDP, biến Nhật Bản thành quốc gia có ngân sách quốc phòng lớn thứ ba thế giới.[22] Từ khi chính quyền bà Takeshi đắc cử, các phát ngôn cứng rắn, liên tục đi kèm với các hoạt động mua sắm và chế tạo vũ khí, trong đó việc là việc mua sắm 400 tên lửa hành trình Tomahawk tầm xa từ Mỹ để trang bị cho các tàu phá hủy lớp Aegis. Hoàn tất nâng cấp cặp tàu sân bay trực thăng lớp Izumo (Izumo và Kaga) để có thể cất – hạ cánh dòng tiêm kích tàng hình F-35B, chính thức sở hữu hàng không mẫu hạm đầu tiên kể từ Thế chiến II. Tự chủ phát triển và nâng cấp, tăng tầm bắn của tên lửa diệt hạm Type-12 lên trên 1.000 km, đặt toàn bộ các tuyến hàng hải quan trọng quanh chuỗi đảo phía Tây Nam vào tầm bắn.
Hàn Quốc với trọng tâm là đạo luật Thúc đẩy Công nghiệp Quốc phòng và Chiến lược Quốc phòng 4.0. Trong dó, Chính phủ ban hành các chính sách ưu đãi tài chính, bảo lãnh tín dụng nhà nước cho các tập đoàn (Hanwha Aerospace, LIG Nex1) xuất khẩu vũ khí toàn cầu. Tiền lời được tái đầu tư bắt buộc vào R&D công nghệ cao nội địa. Cùng với đó, đưa ra quy chế răn đe ba trục với việc luật hóa việc ưu tiên ngân sách xây dựng hệ thống tác chiến tự động hóa cao độ gồm Kill Chain (Tấn công phủ đầu), KAMD (Phòng thủ tên lửa đa tầng), và KMPR (Trả đũa quy mô lớn).
Đài Loan trước áp lực gia tăng tần suất tập trận từ Bắc Kinh, buộc phải đẩy dòng tiền công nghệ vào thế trận phòng vệ tối đa. Đài Loan đẩy ngân sách quân đội lên mức cao kỷ lục 19 tỷ USD, chiếm tới khoảng 12% – 15% tổng chi tiêu ngân sách của chính quyền hòn đảo (tương đương 2,5% GDP).[23] Chủ động xây dựng năng lực tự chủ cốt lõi như đưa vào hoàn thiện và đưa vào chạy thử nghiệm hàng loạt tàu ngầm nội địa lớp Hai Kun (Hải Côn) nhằm thiết lập hàng rào ngăn chặn ngầm tại eo biển Bashi và vùng biển phía Đông. Đầu tư lớn vào mạng lưới tên lửa phòng không Tiankung III (Thiên Cung) và tên lửa hành trình tấn công đất liền Hsiung Feng III (Hùng Phong). Thành lập Đội liên minh máy bay không người lái quốc gia, ứng dụng phần mềm AI thương mại để chế tạo hàng vạn UAV tự sát tầm ngắn chống đổ bộ bộ binh.
Đối với Ấn Độ, mục tiêu hiện đại hóa quân chủng và tự lực cánh sinh là ưu tiên hàng đầu của nước này. Ấn Độ kiên quyết duy trì vị trí Top 5 chi tiêu quân sự toàn cầu (đạt khoảng 83,6 tỷ USD) để thực hiện chiến lược đối phó lưỡng cực từ cả Pakistan và Trung Quốc. Phân bổ ngân sách lớn cho Quân khu phía Bắc để triển khai hệ thống tên lửa phòng không tầm xa S-400 mua từ Nga, đồng thời mua sắm khẩn cấp các dòng UAV trinh sát tầm cao MQ-9B Predator của Mỹ để giám sát vùng cao nguyên rặng Himalaya. Ấn Độ tăng tốc đóng mới tàu sân bay nội địa thứ hai (IAC-2) và hạ thủy thêm các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo lớp Arihant. Mục tiêu cốt lõi của New Delhi là ngăn chặn triệt để sự hiện diện ngày càng dày đặc của các biên đội tàu khảo sát và tàu chiến Trung Quốc tại vùng biển Ấn Độ Dương. Cùng với đó, Ấn Độ tiến hành luật hóa lệnh cấm nhập khẩu đối với hơn 500 loại vũ khí, trang thiết bị quân sự, ép buộc quân đội phải chuyển toàn bộ dòng vốn sang mua sắm từ các tập đoàn nội địa. Áp dụng các quy chế chuyển giao công nghệ như chương trình DAP quy định rõ các nhà thầu nước ngoài khi bán vũ khí vào Ấn Độ phải đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 50% – 60% và phải chuyển giao công nghệ lõi như công nghệ đúc cánh tuabin động cơ phản lực cho các đối tác Ấn Độ.[24]
Song song với quá trình hiện đại hóa của từng quốc gia, cuộc chạy đua vũ trang tại châu Á – Thái Bình Dương còn được thúc đẩy bởi sự phát triển của các cơ chế liên minh an ninh do Mỹ dẫn dắt. Thông qua AUKUS, Mỹ và Anh hỗ trợ Úc phát triển hạm đội tàu ngầm hạt nhân và hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ quốc phòng tiên tiến như vũ khí siêu thanh, trí tuệ nhân tạo và điện toán lượng tử. Đồng thời, cơ chế hợp tác ba bên Mỹ – Nhật Bản – Hàn Quốc được nâng lên một cấp độ mới với việc thiết lập hệ thống chia sẻ dữ liệu cảnh báo tên lửa theo thời gian thực, kết hợp cùng hoạt động triển khai thường xuyên các khí tài chiến lược của Mỹ tại khu vực. Điều này cho thấy cuộc chạy đua vũ trang tại châu Á – Thái Bình Dương không chỉ diễn ra giữa các quốc gia riêng lẻ mà đang được thúc đẩy bởi sự tương tác giữa cạnh tranh nước lớn và các mạng lưới liên minh an ninh, làm cho cấu trúc an ninh khu vực ngày càng phân cực và phức tạp hơn.
*Đối với khu vực Trung Đông
Khác với các khu vực khác, cuộc chạy đua vũ trang tại Trung Đông hiện nay được thúc đẩy trực tiếp bởi chuỗi xung đột quân sự liên tiếp trong khu vực, đặc biệt là chiến tranh Israel – Hamas bùng nổ từ tháng 10/2023 và sự leo thang thành các cuộc đối đầu trực tiếp giữa Israel và Iran trong các năm 2024 – 2025. Các cuộc xung đột này đã làm thay đổi đáng kể môi trường an ninh khu vực khi chiến tranh không còn giới hạn trong các cuộc xung đột ủy nhiệm mà mở rộng thành các cuộc tập kích xuyên biên giới bằng tên lửa đạn đạo, UAV, tên lửa hành trình và không quân.
Theo báo cáo, chi tiêu quân sự tại Trung Đông ghi nhận mức tăng trưởng 9%, đạt khoảng 200 tỷ USD. Đây là khu vực có tỷ lệ chi tiêu quân sự tính theo GDP cao nhất thế giới, dẫn đầu là Saudi Arabia (chiếm hơn 7% GDP) và Israel (chiếm hơn 5,3% GDP). Cuộc chạy đua vũ trang tại đây đang chuyển dịch từ việc mua sắm vũ khí thông thường sang đua công nghệ phòng không đa tầng, tên lửa đạn đạo tầm xa và hệ thống tác chiến không người lái (UAV).[25]
Các cuộc đụng độ trực tiếp và toàn diện giữa Israel với mạng lưới Trục kháng cự bao gồm Iran, Hamas tại Gaza, Hezbollah tại Lebanon và Houthi tại Yemen đã làm thay đổi hoàn toàn tư duy quân sự tại khu vực.
Đối với Israel, các cuộc chiến tại Gaza, Lebanon và các cuộc tấn công bằng tên lửa, UAV từ Iran đã thúc đẩy nước này đẩy nhanh hiện đại hóa năng lực phòng thủ và răn đe chiến lược. Ngân sách quốc phòng của Israel tăng khoảng 24%, đạt 27,5 tỷ USD, chủ yếu để đáp ứng yêu cầu duy trì các chiến dịch quân sự trên nhiều mặt trận.[26] Bên cạnh việc tiếp tục mở rộng phi đội F-35A và tăng cường năng lực tấn công tầm xa, Israel đẩy nhanh triển khai hệ thống phòng thủ laser Iron Beam nhằm giảm chi phí đánh chặn so với Iron Dome, đồng thời nâng cấp mạng lưới phòng thủ đa tầng gồm Iron Dome, David’s Sling và Arrow-3. Việc các hệ thống này liên tục được sử dụng để đánh chặn hàng trăm UAV và tên lửa trong các đợt tấn công quy mô lớn của Iran đã tạo ra nguồn dữ liệu thực chiến quý giá, thúc đẩy Israel tiếp tục cải tiến công nghệ phòng thủ tên lửa.
Ở chiều ngược lại, Iran tiếp tục theo đuổi chiến lược phát triển năng lực quân sự phi đối xứng nhằm bù đắp hạn chế về sức mạnh quân sự truyền thống. Trong bối cảnh chịu các lệnh trừng phạt kéo dài, Tehran tập trung mở rộng sản xuất UAV Shahed-136, Mohajer và các dòng tên lửa đạn đạo như Kheibar Shekan hay tên lửa siêu thanh Fattah, đồng thời tăng cường hỗ trợ các lực lượng đồng minh và ủy nhiệm trong khu vực. Những cuộc tập kích quy mô lớn nhằm vào Israel trong năm 2024 và 2025 cho thấy Iran ngày càng chú trọng kết hợp UAV, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo trong các chiến dịch tấn công phối hợp, qua đó tạo áp lực lớn đối với các hệ thống phòng thủ của đối phương và thúc đẩy cuộc cạnh tranh công nghệ quân sự trong khu vực.
Trong khi đó, các quốc gia Vùng Vịnh cũng điều chỉnh chiến lược quốc phòng theo hướng tăng cường tự chủ và đa dạng hóa nguồn cung vũ khí. Những vụ tấn công bằng UAV và tên lửa nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng trong những năm gần đây, cùng với các cuộc đối đầu trực tiếp giữa Israel và Iran, đã cho thấy nguy cơ lan rộng của xung đột khu vực. Vì vậy, Saudi Arabia, UAE và Qatar không chỉ tiếp tục tăng chi tiêu quân sự mà còn đẩy mạnh mua sắm các hệ thống phòng không, tác chiến điện tử và công nghệ chống UAV từ nhiều đối tác khác nhau. Tiêu biểu, Saudi Arabia ký hợp đồng khoảng 3,2 tỷ USD mua hệ thống phòng không Cheongung-II (KM-SAM) của Hàn Quốc, trong khi UAE cũng đầu tư vào các hệ thống tương tự nhằm xây dựng mạng lưới phòng thủ nhiều lớp, giảm dần sự phụ thuộc vào các hệ thống do Mỹ cung cấp.[27] Xu hướng này phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình phụ thuộc vào một nhà cung cấp sang chiến lược đa dạng hóa đối tác và nâng cao khả năng tự chủ quốc phòng.
Cuộc cạnh tranh phát triển vũ khí hiện nay được giới chuyên gia ví như cuộc chạy đua hạt nhân thập niên 1940. Các quốc gia ráo riết ứng dụng hệ thống vũ khí tự động sát thương (AWS), máy bay không người lái tự hành bằng AI nhằm loại bỏ hoàn toàn độ trễ do sự can thiệp của con người trên chiến trường. Các hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân cũ như New START gần như đóng băng. Xu hướng hiện nay của các nước sở hữu hạt nhân là hiện đại hóa chất lượng, tức là phát triển các đầu đạn thông minh hơn, phương tiện phóng siêu thanh khó đánh chặn hơn thay vì chỉ tăng số lượng thuần túy. Không gian mạng và không gian vũ trụ chính thức trở thành mặt trận tác chiến thứ 5 và thứ 6, nơi các nước lớn chạy đua thiết lập các chùm vệ tinh quân sự và các lực lượng tác chiến mạng có khả năng làm tê liệt hạ tầng quốc gia đối phương.
*Tình hình các nước ASEAN
Đối với Indonesia, chính sách phát triển quốc phòng được thể chế hóa thông qua Luật Công nghiệp Quốc phòng số 16/2012, tạo nền tảng pháp lý cho chiến lược xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ. Đạo luật quy định mọi hợp đồng mua sắm vũ khí từ nước ngoài phải gắn với cơ chế bù trừ thương mại (offset) và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp quốc phòng như PT PAL và PT Pindad. Trên cơ sở đó, Indonesia không chỉ ký hợp đồng mua 42 tiêm kích Rafale của Pháp mà còn tiếp tục thúc đẩy dự án phát triển tiêm kích KF-21 với Hàn Quốc, đồng thời mở rộng năng lực đóng tàu chiến và tàu ngầm trong nước. Bên cạnh đó, Jakarta tăng cường triển khai căn cứ quân sự, hệ thống radar và các cuộc tuần tra thường xuyên tại quần đảo Natuna nhằm nâng cao năng lực giám sát và bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế trước các hoạt động ngày càng gia tăng trên Biển Đông.
Đối với Malaysia, chính sách quốc phòng được triển khai theo Kế hoạch Hành động Quốc phòng Quốc gia (KiND) và Sách trắng Quốc phòng, với định hướng tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và nâng cao Nhận thức về lĩnh vực hàng hải (Maritime Domain Awareness – MDA). Theo đó, Kuala Lumpur đẩy mạnh tái cơ cấu lực lượng, giảm sự phân tán về trang bị và ưu tiên các nền tảng đa nhiệm. Trong thực tiễn, Malaysia đã tiếp nhận các máy bay FA-50 Block 20 của Hàn Quốc để thay thế phi đội cũ, đồng thời triển khai chương trình Littoral Mission Ship (LMS) Batch 2 và mở rộng hệ thống giám sát hàng hải tại Eo biển Malacca và vùng biển Sabah, góp phần tăng cường năng lực kiểm soát các tuyến hàng hải chiến lược.
Đối với Philippines, quá trình hiện đại hóa quân đội được luật hóa thông qua Đạo luật Hiện đại hóa Quân đội (RA 10349) trong giai đoạn Horizon 3, đánh dấu sự chuyển dịch từ nhiệm vụ chống nổi dậy sang phòng thủ quần đảo toàn diện. Trên cơ sở đó, Manila tập trung đầu tư vào các năng lực chống tiếp cận và răn đe, nổi bật là việc đưa vào biên chế hệ thống tên lửa chống hạm BrahMos, mua sắm radar cảnh giới tầm xa và hiện đại hóa hải quân. Đồng thời, Philippines mở rộng Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA) với Mỹ, bổ sung thêm các địa điểm quân sự mới và tăng cường các cuộc tập trận Balikatan, qua đó nâng cao năng lực phòng thủ và khả năng phối hợp tác chiến tại Biển Đông.
Đối với Thái Lan, chiến lược hiện đại hóa quốc phòng được triển khai theo Chiến lược Quốc phòng 20 năm và Đạo luật Thúc đẩy Công nghệ Quốc phòng, với trọng tâm là phát triển năng lực công nghiệp quốc phòng trong nước. Việc thành lập Viện Công nghệ Quốc phòng (DTI) tạo cơ chế thúc đẩy hợp tác với khu vực tư nhân và các đối tác quốc tế nhằm tiếp nhận, làm chủ và nội địa hóa công nghệ quân sự. Trong những năm gần đây, Bangkok đẩy mạnh phát triển các dòng UAV nội địa, xe bọc thép Black Widow Spider, đồng thời hiện đại hóa hải quân thông qua việc tiếp nhận các tàu hộ vệ và nâng cấp hệ thống chỉ huy – kiểm soát trên các tàu chiến hiện có. Thái Lan cũng tăng cường các cuộc diễn tập đa phương như Cobra Gold với Mỹ và nhiều đối tác khu vực nhằm nâng cao năng lực phối hợp tác chiến và ứng phó với các thách thức an ninh mới…
CÒN TIẾP
Tác giả: Trương Quốc Lượng
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Stockholm International Peace Research Institute. (2026). Increasing focus on nuclear weapons amid heightened escalation risks—New SIPRI Yearbook out now. SIPRI. https://www.sipri.org/sites/default/files/2026-04/2604_milex_2025.pdf
[2] Legis1 Editorial. (2026). Senate panel to examine record $1.5 trillion defense budget ask. Legis1. https://legis1.com/news/defense-budget-2027-senate-panel-examines-record
[3] TTXVN. (2026). Báo cáo tiết lộ mức chi đáng chú ý của Mỹ cho kho vũ khí hạt nhân. Báo Tin tức. https://baotintuc.vn/quan-su/bao-cao-tiet-lo-muc-chi-dang-chu-y-cua-my-cho-kho-vu-khi-hat-nhan-20260610234224966.htm
[4] United States. 22 U.S.C. § 2430a: Definitions. Legal Information Institute, Cornell Law School. https://www.law.cornell.edu/uscode/text/22/2430a
[5] Nguyễn Hồng Quang. (2026). Một số nét về chính sách phát triển vũ khí chiến lược của Mỹ và tác động đối với an ninh thế giới. Tạp chí Quốc phòng toàn dân. https://m.tapchiqptd.vn/vi/quoc-phong-quan-su-nuoc-ngoai/mot-so-net-ve-chinh-sach-phat-trien-vu-khi-chien-luoc-cua-my-va-tac-dong-doi-voi-an-ninh-the-gioi-25553.html
[6] International Defense & Government Conference (IDGA). (2025). Golden Dome explained: What the US missile defense shield means for space, hypersonics, and homeland defense. https://www.idga.org/command-and-control/articles/golden-dome-explained-what-the-us-missile-defense-shield-means-for-space-hypersonics-and-homeland-defense
[7] Global Times. (2026). China’s 2026 defense budget set at 1.94 trillion yuan: spokesperson. https://www.globaltimes.cn/page/202603/1356751.shtml
[8] Stockholm International Peace Research Institute. (2026). Global military spending rise continues as European and Asian expenditures surge. https://www.sipri.org/media/press-release/2026/global-military-spending-rise-continues-european-and-asian-expenditures-surge
[9] McGerty, F., & Dewey, K. (2026). Global defence spending continues to grow amid geopolitical uncertainty. International Institute for Strategic Studies. https://www.iiss.org/online-analysis/military-balance/2026/02/global-defence-spending-continues-to-grow-amid-geopolitical-uncertainty/
[10] Stockholm International Peace Research Institute. (2026). Increasing focus on nuclear weapons amid heightened escalation risks – New SIPRI Yearbook out now. SIPRI. https://www.sipri.org/media/press-release/2026/increasing-focus-nuclear-weapons-amid-heightened-escalation-risks-new-sipri-yearbook-out-now
[11] Funaiole, M. P., Hart, B., Powers-Riggs, A., & Bermudez, J. S., Jr. (2026). Tracking China’s fourth aircraft carrier: A new supercarrier emerges. Center for Strategic and International Studies. https://features.csis.org/hiddenreach/china-fourth-carrier/
[12] Nguyễn Thị Hiệp. (2025). Tăng chi ngân sách quốc phòng toàn cầu, cao kỷ lục. Báo Quốc phòng Thủ đô. https://quocphongthudo.vn/quoc-te/binh-luan-quoc-te/tang-chi-ngan-sach-quoc-phong-toan-cau-cao-ky-luc.html
[13] Watling, J., & Reynolds, N. (2024). Russian military objectives and capacity in Ukraine through 2024. Royal United Services Institute (RUSI). https://www.rusi.org/explore-our-research/publications/commentary/russian-military-objectives-and-capacity-ukraine-through-2024
[14] Albright, D., Anokhin, I., Burkhard, S., Cheng, V., & Faragasso, S. (2024). Alabuga’s greatly expanded production rate of Shahed 136 drones. Institute for Science and International Security. https://isis-online.org/isis-reports/alabugas-greatly-expanded-production-rate-of-shahed-136-drones/
[15] Liang, X., Tian, N., Lopes da Silva, D., Scarazzato, L., Karim, Z. A., & Guiberteau Ricard, J. (2026). Trends in world military expenditure, 2025 (SIPRI Fact Sheet). Stockholm International Peace Research Institute. https://www.sipri.org/sites/default/files/2026-04/2604_milex_2025.pdf
[16] European Commission. Acting on defence to protect Europeans. https://commission.europa.eu/topics/defence/future-european-defence_en
[17] Ptak, A. (2025). Poland plans record defence spending of 4.8% GDP in 2026 budget along with lower deficit. Notes from Poland. https://notesfrompoland.com/2025/08/29/poland-plans-record-defence-spending-of-4-8-gdp-in-2026-budget-along-with-lower-deficit/
[18] International Institute for Strategic Studies. (2026). Fortifying NATO’s eastern flank. In The Military Balance 2026. https://www.iiss.org/publications/the-military-balance/2026/the-military-balance-2026/fortifying-natos-eastern-flank/
[19] Bình Minh. (2025). Đức đối mặt thách thức ngân sách vì chi mạnh cho quốc phòng và hạ tầng. VnEconomy. https://vneconomy.vn/duc-doi-mat-thach-thuc-ngan-sach-vi-chi-manh-cho-quoc-phong-va-ha-tang.htm
[20] Clark, J., & Welby, M. (2025). UK defence spending: What 2.5% of GDP by 2027 actually means for UK defence. Flint Global. https://flint-global.com/blog/what-2-5-of-gdp-by-2027-actually-means-for-uk-defence/
[21] Trends in world military expenditure, 2025 (SIPRI Fact Sheet)
[22] Mai Anh . (2025). Nhật Bản công bố tăng chi tiêu quốc phòng lên mức kỷ lục. Báo Nhà báo & Công luận. https://congluan.vn/nhat-ban-cong-bo-tang-chi-tieu-quoc-phong-len-muc-ky-luc-post144962.html
[23] AFP. (2023). Taiwan’s 2024 defense budget to hit record NT$606.8bn: Tsai. Taipei Times. https://www.taipeitimes.com/News/taiwan/archives/2023/08/22/2003805106
[24] Ministry of Defence, Government of India. (2026). DAP 2026 proposes transformative leap in India’s defence procurement framework. https://www.pib.gov.in/PressReleasePage.aspx?PRID=2227775®=3&lang=1
[25] Trends in world military expenditure, 2025 (SIPRI Fact Sheet)
[26] Hà Đào. (2026). Israel chi thêm 10 tỉ USD cho quốc phòng giữa chiến sự. Báo Tuổi Trẻ. https://tuoitre.vn/israel-chi-them-10-ti-usd-cho-quoc-phong-giua-chien-su-20260330161952444.htm
[27] Minh Tâm. (2024). Hàn Quốc xuất khẩu hệ thống tên lửa trị giá 3,2 tỷ USD cho Saudi Arabia. VietnamPlus https://www.vietnamplus.vn/han-quoc-xuat-khau-he-thong-ten-lua-tri-gia-32-ty-usd-cho-saudi-arabia-post926977.vnp























