Ngày 28/2/2026, giữa lúc Iran và Mỹ đang xúc tiến các vòng đàm phán quan trọng, Mỹ và Israel đã bất ngờ tiến hành các cuộc tấn công quân sự vào Iran, nhằm thẳng vào các mục tiêu có sự hiện diện của các nhà lãnh đạo chủ chốt nước này. Hậu quả, lãnh tụ tối cao của Iran thiệt mạng. Cuộc tấn công đã kích hoạt một cuộc chiến quy mô lớn chưa từng có giữa Mỹ, Israel và Iran trong thế kỷ XXI. Các cuộc tấn công đáp trả của Iran vượt xa những gì Mỹ và đồng minh đã tưởng tượng, động thái phản ứng khác nhau của các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế cũng ghi nhận những bất ngờ. Mỹ từ bên chủ động tấn công, nay lại gặp khó khăn trong việc rút khỏi cuộc chiến. Iran từ quốc gia bị động chịu đựng đã trở thành người quyết định khi nào cuộc chiến kết thúc. Một tháng chiến sự đã diễn ra, mọi thứ vẫn còn ở phía trước, những động thái tiếp theo sẽ trả lời cho câu hỏi, bao giờ cuộc chiến này kết thúc và nó sẽ kết thúc theo cách thức như thế nào.
Điều gì đã trực tiếp thúc đẩy cuộc chiến nổ ra?
Vấn đề hạt nhân của Iran luôn là một cái gai trong mắt Israel và các đồng minh của họ. Các nhà phân tích phương Tây cho rằng nước này đủ dữ liệu cần thiết và cơ sở hạ tầng để sản xuất vũ khí hạt nhân trong thời gian khá ngắn nếu các nhà lãnh đạo quyết định làm như vậy. Chính Mỹ và đồng minh cũng không ít lần khẳng định sẽ tìm mọi cách để ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, bao gồm cả các hành động quân sự[1].

Đến cuối tháng 2 năm 2026, thông qua trao đổi thông tin tình báo giữa Israel và Mỹ, họ tin rằng với những thông tin tình báo có được, liên minh Israel – Mỹ có thể dựa vào chiến thuật “chặt đầu rắn”, hạ sát các nhà lãnh đạo chủ chốt của Iran. Giới tình báo Israel và Mỹ tỏ ra rất chắc chắn về điều này, không thể từ bỏ cơ hội có thể loại bỏ được các quan chức cấp cao của Iran. Và cùng với hàng loạt các đòn tấn công quân sự chớp nhoáng, có tính bất ngờ, các đòn tất công mạng được sử dụng nhằm kích hoạt các đòn tấn công truyền thông, ra sức kích động biểu tình trong nước. Mỹ và Israel dường như tự tin vào khả năng có thể thay đổi chế độ ở Iran.
Đáng chú ý, điều có thể tạo ra sức bất ngờ cho cuộc tấn công của Mỹ nằm ở việc chính Washington đang xúc tiến quá trình đàm phán với Iran về vấn đề hạt nhân. Ngay tại thời điểm Mỹ và Israel tấn công Iran, hai bên gần như đã có thể hoàn thành một bước đầy tích cực trong quá trình đàm phán. Khi đó, Iran đã đề xuất giảm độ tinh thiết của Uranium trong kho của họ. Tuy nhiên, chính ở thời điểm tưởng như có thể giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, Mỹ và Israel đã tấn công phủ đầu Iran. Điều này đặt ra hai vấn đề lớn. (1) Mỹ và Israel đã vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế, tạo ra một hình ảnh đặc biệt tiêu cực trong quan hệ quốc tế, không ai an toàn ngay cả khi đang tiến hành đàm phán. Bất cứ quốc gia nào cũng cần phải chuẩn bị cho chiến tranh nếu muốn đạt được hòa bình với Mỹ (2) Hành động của Mỹ và Israel cho thấy, vấn đề hạt nhân không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc chiến. Cả Washington và Tel Aviv chỉ đang tạo ra một màn kịch để che giấu tham vọng tấn công phủ đầu, tiêu diệt giới lãnh đạo và thay đổi chế độ ở Iran.
Điều đó có nghĩa là gì? Động lực trực tiếp dẫn đến cuộc chiến này là cả Mỹ và Israel đã thấy một cơ hội lật đổ nhà nước thần quyền Iran, và họ đã đặt cược tất cả vào cơ hội này. Washington và Tel Aviv đã không chọn con đường hòa bình dù lẽ ra họ đã có cơ hội đạt được điều đó. Vấn đề hạt nhân thực tế chỉ là một cái cớ cho các hành động thù địch, tham vọng của Mỹ và Israel thực tế lớn hơn rất nhiều.
Mục tiêu và lựa chọn chiến lược, chiến thuật của các bên
Với Mỹ và Israel, không có mục tiêu nào lớn hơn tham vọng thay đổi chế độ ở Iran, và nếu không thể dựng được một chính quyền Iran đi theo quỹ đạo của Mỹ thì họ muốn Iran suy yếu càng nhiều càng tốt. Thông qua việc làm mất ảnh hưởng khu vực của Tehran, Washington và Tel Aviv có thể chặt đứt các sợi dây liên kết giữa Iran và các lực lượng ủy nhiệm của họ ở Trung Đông, giúp Israel có thể gia tăng quyền lực trong khu vực, thực hiện ý đồ “Đại Israel” của thế lực Zionist (chủ nghĩa Phục quốc Do Thái). Mở rộng hơn, một Iran suy yếu cũng góp phần làm suy yếu sự hiện diện của Nga và Trung Quốc trong khu vực này, một điều mà Mỹ luôn muốn đạt được.
Trong khi đó, sau một thời gian dài chịu đựng các áp lực của kẻ thù, Iran đã có một sự điều chỉnh chiến lược đáng kể so với các lần đụng độ trước đây. Lần này, Tehran đã không nhượng bộ, họ quyết tâm hướng đến một mục tiêu lâu dài hơn. Các mục tiêu này cũng đã được thể hiện thông qua các yêu sách ngoại giao của Tehran. Họ muốn có một hiệp định hòa bình lâu dài, chấm dứt hoàn toàn các hành vi thù địch từ phía Mỹ và Israel; đòi bồi thường chiến tranh, quyền lợi cho các đồng minh trong khu vực và quyền chủ quyền trên eo biển Hormuz. Tehran không còn mặn mà với các lệnh ngừng bắn có thời hạn đơn thuần – thứ vốn có thể bị Washington và Tel Aviv đạp đổ bất cứ lúc nào.
Để thực hiện được các mục tiêu của mình, mặc dù cả hai phía đều đang tiến hành một cuộc chiến phức hợp trên nhiều lĩnh vực, ở góc độ quân sự, cuộc chiến diễn ra đang dễ dàng cho thấy 2 thái cực khác nhau về cách thức tổ chức chiến tranh.
Với Mỹ và Israel, họ vẫn tiến hành chiến tranh theo cách thức truyền thống vốn có, điều mà hàng thập kỷ vừa qua họ luôn tự tin vào thế mạnh của mình. Còn đối với Iran, họ đang tiến hành một phương thức chiến tranh mới, học hỏi từ thực tế chiến trường ở Ukraine.
| Quốc gia | Mục tiêu chiến lược chính | Phương thức tác chiến chủ đạo |
| Mỹ |
Thay đổi chế độ chính trị ở Iran. Tập trung tấn công vào mạng lưới chỉ huy, kiểm soát, lực lượng hải quân và các hạ tầng của lực lượng tên lửa Iran. |
Tiến hành không kích, tấn công bằng tên lửa hành trình, tấn công mạng, kích động biểu tình, nổi dậy lật đổ chế độ, không loại trừ khả năng tiến hành chiến dịch đổ bộ vào lãnh thổ Iran. |
| Israel | Loại bỏ các lãnh đạo cấp cao của Iran, phá hoại các hạ tầng chiến lược (năng lượng, kho vũ khí, các cơ sở chỉ huy tác chiến…), phá hủy chương trình hạt nhân, kết hợp với Mỹ làm suy yếu năng lực quân sự của Iran. | Không kích chính xác cao, chiến tranh tâm lý – không gian mạng, đẩy mạnh hoạt động gián điệp, tổ chức các hoạt động ám sát nhắm vào các quan chức cấp cao Iran, sẵn sàng hiệp đồng với Mỹ trong một cuộc đổ bộ tiềm năng. |
| Iran | Gây tổn hao tối đa cho đối phương, kéo dài thời gian chiến tranh, gia tăng áp lực đối với các nước đồng minh của Mỹ, tạo thế cân bằng chiến lược để duy trì sự tồn tại của đất nước. | Tiến hành chiến tranh bất đối xứng. Tấn công đồng thời vào các căn cứ của Mỹ trên lãnh thổ các nước lân cận.
Thực hiện các cuộc tấn công đáp trả bằng tên lửa đạn đạo tầm trung chính xác cao kết hợp UAV cảm tử để vượt lưới phòng không của kẻ thù, áp dụng chiến thuật “hao mòn”, đẩy mạnh tác chiến không gian mạng, chiến tranh tư tưởng đối ứng. Gia tăng kiểm soát eo biển Hormuz, tạo áp lực buộc nhiều nước có lợi ích gắn chặt với nguồn năng lượng tại Vùng Vịnh phải thỏa hiệp. |
Trong cuộc chiến lần này, Iran ít nhiều đã tạo ra sự bất ngờ khi tấn công đồng thời với các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ các nước lân cận. Điều này thể hiện một chiến lược đầy tính toán của Tehran. Đầu tiên, Iran đã cho các nước Arab trong khu vực nhận thấy được, các căn cứ của Mỹ không giúp bảo vệ an ninh cho họ, mà thực tế là ngược lại, chúng chỉ bảo vệ lợi ích của Mỹ. Tiếp theo, việc vô hiệu hoá hoặc gây thiệt hại lớn đối với các căn cứ này cũng sẽ giúp hạn chế khả năng triển khai lực lượng của Mỹ, làm suy yếu năng lực hậu cần, khiến việc dự báo các hoạt động quân sự thù địch của Mỹ trở nên dễ đoán hơn đối với Iran. Đồng thời, các cuộc tấn công của Iran cũng tạo ra cú sốc tâm lý nhất định đối với các lực lượng Mỹ và thân Mỹ trong khu vực. Những điều này đều rất hữu ích đối với chiến lược phòng thủ của Tehran trước kẻ thù mạnh và nhiều thủ đoạn.
Để triển khai phản công hiệu quả, Iran đã dùng chiến thuật đưa bầy đàn UAV cảm tử xâm nhập các mục tiêu Israel và các căn cứ của Mỹ, khiến các trận địa phòng không của kẻ thù buộc phải bộc lộ, đồng thời khiến chúng quá tải, tạo điều kiện cho các tên lửa đạn đạo tầm trung tấn công đạt hiệu quả tốt hơn. Chiến thuật này đã tỏ ra hiệu quả, những ngày đầu tiên, Iran đã sử dụng các loại tên lửa đạn đạo tầm trung thế hệ cũ với số lượng lớn, được hỗ trợ với các bầy đàn UAV tấn công. Sau khi mạng lưới phòng không của Israel suy yếu, những ngày kế tiếp, lượng phương tiện Iran sử dụng để tấn công đáp trả đã giảm (xem thêm hình 2). Điều này không có nghĩa là lực lượng tên lửa của Iran suy yếu, mà ngược lại, những ngày sau đó, Iran sử dụng các loại tên lửa thế hệ mới, tỉ lệ vượt qua lưới phòng không của Israel cao hơn, họ không cần tấn công ồ ạt, tốn kém như trước đó. Bằng chiến thuật như vậy, hệ thống phòng không được cho là tiên tiến, tối tân “Iron Dome” của Israel đã bộc lộ nhiều hạn chế. Khả năng đánh chặn suy giảm nhanh chóng theo thời gian, khả năng phục hồi, bổ sung đạn dược cũng trở thành một vấn đề lớn khi giá thành của chúng là vô cùng đắt đỏ.
Những nguồn lực các bên chưa sử dụng
Sau một tháng chiến tranh, cả hai bên vẫn đang dừng lại ở các hoạt động không kích, tấn công bằng tên lửa, các phương tiện không người lái kết hợp với các cuộc tấn công trên các môi trường phi vật lý khác. Tất cả những gì đã diễn ra vẫn chưa thực sự bộc lộ hết sức mạnh của các bên tham chiến.
Về phía Mỹ và Israel, cả hai đều có điểm tương đồng ở năng lực răn đe hạt nhân. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, lựa chọn tấn công hạt nhân nhằm vào Iran là không lớn, bởi điều đó sẽ vấp phải sự phản đối rất mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, Nga và Trung Quốc, thậm chí cả Triều Tiên cũng sẽ có phản ứng mạnh. Hơn nữa, Iran là một quốc gia rộng lớn, có chiều sâu phòng thủ, hệ thống ngầm của họ được cho là có khả năng chống chịu các cuộc tấn công hạt nhân. Tất nhiên, khi không còn gì để mất, khả năng này vẫn cần phải tính đến.
Một lựa chọn khác có nhiều khả năng được sử dụng là tổ chức một lực lượng lớn triển khai đổ bộ vào Iran, chiến tranh trên bộ chính thức được khởi động. Nếu được thực hiện, đây sẽ là cuộc chiến trên bộ quy mô lớn nhất thế kỷ XXI ở Trung Đông. Tuy nhiên, cũng cần tính tới các rủi ro của lựa chọn này. Iran đã có những cuộc tấn công nhằm vào hạm đội 5, buộc tàu sân bay Gerald R. Ford phải rời xa khỏi vịnh Ba Tư với tình trạng không xác định. Việc bị bào mòn lực lượng hải quân sẽ khiến chiến dịch đổ bộ của Mỹ gặp nhiều khó khăn hơn. Muốn chiếm ưu thế, Mỹ cần một lực lượng đổ bộ khổng lồ và thiệt hại có thể sẽ rất lớn. Theo một số chuyên gia đánh giá, đó có thể là “những hậu quả chính trị không thể chịu đựng được”[2]. Người Mỹ cũng cần phải nhớ lại những ký ức kinh hoàng từ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn của “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968).
Bên cạnh lựa chọn đổ bộ, Mỹ vẫn còn phương án sử dụng lực lượng không quân ném bom chiến lược với bộ ba máy bay ném bom: B-52, B1 và B2. Khi nhắc đến phương án này, Mỹ một lần nữa sẽ phải nhớ đến bài học kinh nghiệm ở Hà Nội năm 1972, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Khi đó, lưới lửa phòng không của Việt Nam đã gây thiệt hại đặc biệt nặng nề đối với Mỹ. 34 chiến B-52 bị bắn hạ được phía Việt Nam ghi nhận. Người Mỹ tất nhiên đã công bố một con số thấp hơn. Quay lại trường hợp của Iran, Iran ngày nay tất nhiên không giống Việt Nam cách đây hơn nửa thế kỷ.
Nhiều thông tin cho rằng, Iran có những hệ thống phòng không tiên tiến được phát triển dựa trên các hệ thống có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nga[3]. Đến thời điểm hiện tại, các hệ thống phòng thủ này vẫn chưa thực sự xuất hiện. Iran có thể đang để dành cho những giai đoạn leo thang xung đột hơn nữa. Và cũng cần nhắc thêm rằng, các hệ thống phòng không như vậy mạnh hơn rất nhiều so với các hệ thống phòng không được sử dụng ở Việt Nam năm 1972.
Về lực lượng tên lửa của Iran, các nguồn tin của chính phương Tây cũng đánh giá kết quả của các cuộc tấn công của Mỹ và Israel không quá khả quan. Reuters cho biết, chỉ có thể xác nhận khoảng 1/3 kho tên lửa của Iran đã bị phá huỷ[4]. Và với truyền thống tô vẽ thiệt hại của đối thủ, con số thực tế có thể ít hơn thế khá nhiều. Hơn nữa, Iran cũng không ít lần tuyên bố, họ còn những loại tên lửa mới hơn chưa được sử dụng[5]. Nếu họ sử dụng các phương tiện mới, tấn công vào các hạ tầng chiến lược mới, sức ép đối với các đối thủ của Tehran sẽ tiếp tục gia tăng.
Về năng lực sản xuất và vận hành các UAV cảm tử, Iran đã chứng minh họ có khả năng gia tăng sản xuất nhanh chóng để hồi lại kho dự trữ. Điều đó cũng có nghĩa, họ đủ khả năng kéo dài cuộc chiến này, ít nhất là về mặt phương tiện tiến hành chiến tranh phi đối xứng. Một nguồn tin cho biết, thời gian qua, Iran đã sử dụng khoảng 3.000 UAV, con số này chỉ phản ánh một phần năng lực của Iran. Thực tế, năng lực sản xuất hàng ngày của nước này là cực kỳ cao, họ có thể bổ sung số lượng phương tiện trong thời gian tương đối ngắn[6].
Một lựa chọn chiến lược mà Iran có thể tận dụng, nhưng đến nay họ vẫn chưa bật đèn xanh cho điều đó. Sự hỗ trợ của Nga, Trung Quốc và Triều Tiên có thể được xem là lá bài then chốt cho cuộc chiến này. Nga và Trung Quốc đã có những hỗ trợ về tình báo, dễ dàng kiểm chứng bằng truyền thông cũng như từ thực tế chiến tranh. Tuy nhiên, hỗ trợ ở mức độ nào vẫn là một ẩn số. Tự thân Iran hiện nay được cho là chưa sở hữu vũ khí hạt nhân, như vậy, với 3 cường quốc hạt nhân làm chỗ dựa, sự tồn vong của Iran trước nguy cơ tấn công hạt nhân có thể được đảm bảo. Thậm chí, trong hoàn cảnh hiểm nghèo, sự giúp sức của 3 cường quốc hạt nhân Nga – Trung – Triều hoàn toàn có thể đưa Iran nhanh chóng gia nhập CLB hạt nhân thế giới. Điều này có lẽ thật trớ trêu đối với Mỹ và Israel, hết sức ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, nhưng kết cục lại đẩy nhanh quá trình sở hữu vũ khí này của Tehran.

Israel và Mỹ đã bộc lộ những sai lầm?
Các mục tiêu then chốt mà liên minh hai nước này đặt ra đến nay chưa thể thành công. Cuộc chiến đã diễn ra một tháng, trong khi bản thân Washington và Tel Aviv thường không thể thắng trong các cuộc chiến tranh kéo dài. Vậy họ đã sai lầm ở đâu?
Thứ nhất, Tel Aviv và Washington đã nhầm khi cho rằng chiến thuật “chặt đầu rắn” sẽ hiệu quả. Thực tế đã chứng minh điều ngược lại. Mất đi vị lãnh tụ tối cao, Iran thậm chí còn đáp trả mạnh hơn, phản ứng của Tehran là chưa từng thấy. Đứng ở dưới góc độ văn hóa, không phải ngẫu nhiên Iran có lịch sử phát triển liên tục hàng ngàn năm. Họ vẫn đứng vững được trong một không gian cạnh tranh địa chính trị phức tạp ở Trung Đông. Niềm tin tôn giáo và sự tự tôn về văn minh của mình khiến họ không dễ bị tan vỡ khi mất đi những người lãnh đạo. Mặt khác, mô hình quyền lực được phân tán ở cấp độ địa phương nhưng đồng thời tuyệt đối trung thành với một đức tin chung – lãnh tụ tối cao chỉ là người đại diện cho đức tin đó – khiến bộ máy nhà nước Iran được tổ chức theo mô hình “phân tán trong thống nhất”. Đây là căn nguyên khiến chiến thuật “chặt đầu rắn” không hiệu quả.
Thứ hai, Israel và Mỹ cũng đã nhầm khi cho rằng có thể kích động một cuộc biểu tình, lật đổ chính quyền ở Iran. Thậm chí, họ cũng đã sử dụng hình ảnh thái tử lưu vong của Iran để phục vụ chiến tranh tư tưởng. Nhưng một lần nữa, sai lầm đã bộc lộ. Sau cuộc biểu tình rầm rộ ở Iran cuối năm 2025 đầu năm 2026, Iran đã gần như dẹp yên được các thế lực chống đối, nắm được mạng lưới hỗ trợ từ bên ngoài. Điều đó khiến các lực lượng đối lập ở Iran bị suy yếu đáng kể. Cùng với sự phát triển của các phong trào ủng hộ chính phủ thần quyền trong nước, nhất là khi tinh thần chống Mỹ và Israel ngày càng gia tăng sau cái chết của vị lãnh tụ Ali, đã không có cuộc biểu tình đáng kể nào nổ ra trong thời gian diễn ra chiến sự.
Thứ ba, liên quân đã đánh giá quá thấp khả năng đáp trả của Iran cũng như các tính toán về phản ứng từ chính các đồng minh thân cận. Ngay khi Mỹ và Israel tấn công Iran, các lực lượng vũ trang của Iran đã đáp trả gần như tức thì. Mục tiêu đáp trả cũng tạo nên sự bất ngờ, tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ ở các nước lân cận Iran đều đã trở thành mục tiêu tấn công. Và điều bất ngờ hơn thế là chính các quốc gia đồng minh cho phép Mỹ đặt căn cứ quân sự đã không có những động thái cứng rắn để gây áp lực lên Iran. Các quốc gia này lưỡng lự, kiềm chế, tránh gia tăng xung đột với Tehran, các phản ứng chỉ dừng lại ở các tuyên bố ngoại giao.
Thứ tư, Israel và Mỹ cũng đã sai lầm khi nghĩ rằng mình có thể chủ động rút ra khỏi xung đột bất cứ khi nào giống như các chiến dịch chớp nhoáng trước đây – lần gần nhất là cuộc chiến 12 ngày. Lần này thì khác, cuộc chiến đã kéo dài 1 tháng và Iran mới đang cho thấy, họ là bên sẽ quyết định cuộc chiến này kéo dài đến bao giờ.
Phản ứng của các bên liên quan
Phản ứng của các bên tham chiến
Các phản ứng của Mỹ, Israel tỏ ra khá phức tạp, trong khi phản ứng của Iran tương đối thống nhất, hầu như ít thay đổi trong tháng đầu tiên diễn ra chiến tranh.
Liên tục trong thời gian của cuộc chiến, Tổng thống Mỹ Donald Trump thường trở thành tâm điểm quan tâm của dư luận quốc tế. Vẫn như thương hiệu vốn có từ thời 1.0, Trump 2.0 liên tục đưa ra những tuyên bố “bất ngờ” một cách bừa bãi. Tuy nhiên, thay vì tập trung quá nhiều vào việc phân tích ông ta nói cái gì, cần nhìn nhận những biểu hiện bất nhất trong những tuyên bố của Tổng thống Trump ở những góc độ khác:
Một, các phát ngôn “vô tư” đến mức bừa bãi của Trump đang tạo ra một bức tường che giấu những ý định thật sự của Washington trong cuộc chiến nhằm vào Iran.
Hai, các phát ngôn của Trump đồng thời hướng đến mục đích kích động mâu thuẫn bên trong xã hội Iran thông qua việc hạ uy tín, bôi nhọ danh dự của giới chức lãnh đạo nhà nước thần quyền này.
Ba, Trump cũng đang cố gắng gieo rắc sự nghi kị giữa các quốc gia trong khu vực Trung Đông, tìm cách đẩy các quốc gia này vào tình thế đối đầu với Iran.
Trong khi đó, một báo cáo xuất bản trên Trung tâm nghiên cứu Pew công bố phần lớn nghị sĩ Đảng Dân chủ không đồng tình với lựa chọn chiến tranh của ông Trump. Điều ngược lại được thể hiện ở Đảng Cộng hoà. Đối với xã hội Mỹ, phần đông người dân không ủng hộ cuộc chiến này[7]. Tuy nhiên, cũng không ít các chuyên gia phản đối cuộc chiến này và cho rằng cuộc chiến sẽ tạo ra nhiều tác động tiêu cực đối với xã hội trong nước cũng như vị thế của Mỹ trên trường quốc tế[8].
Phản ứng của Israel cũng phức tạp không kém. Cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn, có nhiều thông tin bị kiểm duyệt gắt gao. Không ít các nguồn tin cho rằng, Thủ tướng Israel Netanyahu đã bị tiêu diệt trong các đợt tấn công của Iran. Và những hình ảnh xuất hiện gần đây của ông Netanyahu bị đặt nghi vấn được tạo dựng bởi AI (Trí tuệ nhân tạo). Không dễ để xác minh được điều này, tuy nhiên, nếu mọi thứ được dàn dựng, những gì quốc tế nhìn thấy được từ phản ứng của chính quyền Israel cũng sẽ trở nên mơ hồ. Thế lực nào đang thực sự điều hành chính sách hiếu chiến của Israel? Hơn nữa, Israel từ cuộc chiến 12 ngày năm 2025 đã tăng cường kiểm duyệt thông tin, hạn chế tối đa những thông tin từ người dân nước họ phát tán trên mạng. Khó có thể kiểm chứng được quan điểm của người dân Israel. Nhưng có điều chắc chắn, chính quyền Israel hiện tại đang nỗ lực theo đuổi chính sách hiếu chiến, tiếp tục các hoạt động tấn công Iran đến cùng.
Đối với Iran, cuộc chiến của Mỹ và Israel thay vì có thể kích hoạt được làn sóng chống đối chính quyền thì ngược lại đã khiến phản ứng của người dân và Nhà nước thần quyền Iran trở nên thống nhất hơn. Tinh thần chống Mỹ được đẩy cao trong xã hội Iran.
Trong các tuyên bố ngoại giao, Iran thường xuyên lên án các cuộc tấn công của Mỹ và Israel, đặc biệt là các cuộc tấn công nhằm vào dân thường. Tehran luôn tìm cách nhấn mạnh đến những vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế của liên minh kẻ thù. Đồng thời, bên cạnh các hoạt động quân sự nhằm vào các căn cứ Mỹ ở Trung Đông, Iran cũng đã có những phát ngôn ngoại giao trấn an các nước láng giềng. Họ đang thực hiện chính sách phân hoá kẻ thù. Đối với Tehran, quan điểm của họ rất rõ ràng, Mỹ và Israel cũng như bất cứ quốc gia nào tiếp tay cho hai nước này thực hiện các hành vi chống lại Iran đều là kẻ thù của họ. Bất cứ quốc gia nào từ chối hợp tác với Mỹ và Israel đều có thể trở thành các quốc gia đối tác, thân thiện với Tehran.
Chính sách phân hóa kẻ thù này của Iran đã cho thấy hiệu quả trong việc trấn an các nước láng giềng, ngăn chặn khả năng các nước này bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Các đồng minh khác của Mỹ cũng tỏ ra thận trọng, không mấy mặn mà việc tham gia một cuộc chiến với lợi ích đạt được không rõ ràng trong khi rủi ro đặc biệt lớn là điều dễ dự đoán được.
Phản ứng của cộng đồng khu vực và quốc tế
Cuộc chiến lần này đã tạo ra sức ảnh hưởng đặc biệt lớn, nhất là với tầm quan trọng về năng lượng của eo biển Hormuz đã khiến toàn thế giới gần như ngay lập tức cảm nhận được những hệ quả tiêu cực. 20% lượng dầu mỏ thế giới đi qua eo biển này và Iran đã tận dụng điều đó để khiến cả thế giới phải chú ý. Iran đã khiến cả thế giới phải chịu chung những hậu quả do Mỹ và Israel gây ra. Điều đó có thể mang lại cho Iran những lợi thế nhất định, bởi rõ ràng họ là bên bị xâm lược và kẻ thù của họ đã vi phạm luật quốc tế nghiêm trọng. Dư luận quốc tế có thể sẽ gây áp lực nhất định đối với Washington và Tel Aviv.
Đối với các quốc gia Ả rập láng giềng, phản ứng của các nước trong khu vực Trung Đông khá bất ngờ, đặc biệt là các quốc gia vùng Vịnh hầu hết đều lựa chọn chính sách kiềm chế, mặc dù có lên án Iran thông qua kênh ngoại giao. Các quốc gia quân chủ Ả Rập đã giữ mình tránh khỏi cuộc chiến tranh vô nghĩa này.
Tuy nhiên, Iran dường như vẫn đang tiếp tục thử sức chịu đựng của các quốc gia này. Tehran đang thực hiện chiến lược buộc các quốc gia quân chủ Ả Rập phải lựa chọn: cho Mỹ ở lại và tiếp tục nhận các áp lực mới; hoặc đẩy Mỹ ra khỏi lãnh thổ và nhận lại sự thân thiện của các đối tác tiềm năng trong khu vực.
Chiến lược của Iran có thể đúng, nhưng không loại trừ có thể có rủi ro. Đứng trước các lựa chọn này, các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh vẫn tỏ ra lưỡng lự, tìm cách trung lập. Việc tham chiến hay từ chối Mỹ đều khó khăn như nhau. Nhiều nước trong khu vực này đã phụ thuộc quá nhiều vào chiếc ô an ninh Mỹ như trường hợp Qatar hay Bahrain.
Đối với các nước đồng minh của Mỹ, từ NATO cho tới G7 đang bộc lộ những rạn nứt rõ ràng. Một cuộc tranh luận gay gắt đã diễn ra giữa các thành viên G7[9]. Trong khi đó, các đồng minh NATO của Mỹ cũng có những quan điểm khác nhau về cuộc chiến lần này. Pháp đã điều tàu sân bay Charles de Gaulle cùng nhóm tác chiến tới Địa Trung Hải, nhưng hoạt động này cho đến nay chỉ có giá trị biểu tượng. Pháp không có thêm bất cứ các động thái nào nhằm làm phức tạp thêm tình hình. Anh đến nay cũng chỉ dừng lại ở các tuyên bố ủng hộ Mỹ và Israel. Trong khi đó, Đức tỏ ra nghi ngờ về cuộc chiến, lãnh đạo Đức tuyên bố: “cuộc chiến với Iran không phải là cuộc chiến của NATO”[10]. Quan điểm trái ngược, phản đối Mỹ trong khối NATO có thể thấy ở trường hợp Tây Ban Nha[11]. Thổ Nhĩ Kỳ cũng bác bỏ thông tin cho phép Mỹ sử dụng lãnh thổ để tấn công Iran. Cuộc chiến lần này rõ ràng hoàn toàn khác với cuộc chiến xâm lược Iraq năm 2003, không có một liên quân hùng hậu nào được thành lập. Không đồng minh nào thực sự muốn hi sinh lợi ích vì Mỹ. Vì điều này, Donald Trump cũng đã thẳng thắn chỉ trích các đồng minh[12]. Rạn nứt cứ như vậy đã xuất hiện.
Trường hợp của Nga, Trung Quốc và Triều Tiên đang thể hiện quan điểm rõ ràng hơn, nhưng theo hướng có lợi cho Iran. Các quốc gia này không ngần ngại đưa ra quan điểm ủng hộ Tehran. Moskva và Bắc Kinh được cho là có thể hỗ trợ Iran theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt là việc chia sẻ thông tin tình báo. Sự ủng hộ này sẽ là chỗ dựa cho Iran kéo dài cuộc chiến – một điều không có lợi đối với Mỹ và đồng minh Israel[13]. Trong trường hợp chiến tranh kéo dài, thậm chí Trung Quốc với lợi ích đặc biệt lớn ở khu vực Trung Đông hoàn toàn có thể cung cấp hậu cần từ xa cho Iran. Trường hợp của Triều Tiên cũng tương tự, không chỉ lên án các cuộc tấn công vào Iran là bất hợp pháp và vi phạm chủ quyền[14]. Không những vậy, Triều Tiên còn tự lấy họ làm một minh chứng cho việc cần thiết phải có vũ khí hạt nhân để kiềm chế các hành vi hiếu chiến của kẻ thù[15]. Điều đó cũng đặt ra một câu hỏi, liệu Triều Tiên có đang ngầm ủng hộ một Iran có vũ khí hạt nhân? Và với lịch sử hợp tác quốc phòng mờ ám giữa hai bên, Bình Nhưỡng thậm chí có thể sẵn sàng giúp Tehran có được loại vũ khí này.
Các tổ chức quốc tế và các quốc gia còn lại trên thế giới hầu hết chỉ đưa ra các tuyên bố quan ngại về tình hình chiến tranh, vấn đề nhân đạo và kêu gọi các bên nhanh chóng kết thúc cuộc chiến. Điều gần như trở thành thông lệ đối với bất cứ cuộc chiến nào diễn ra trên thế giới hiện nay. Đó là những phản ứng thường thấy và không mấy ảnh hưởng đến quyết định của các bên tham chiến.
Dự báo và những vấn đề đặt ra
Một số chuyên gia quốc tế đã đưa ra những nhận định của họ về thời điểm chấm dứt cuộc chiến. Ví dụ, Kirill Semenov Nhà khoa học chính trị, chuyên gia độc lập trong lĩnh vực xung đột Trung Đông, thành viên RIAC (Nga) đã nhận định cuộc chiến này có thể kéo dài tối đa khoảng ba tháng[16]. Tuy nhiên, tương lai cuộc chiến này chịu ảnh hưởng từ một số yếu tố đáng chú ý.
Thứ nhất, Iran đang thể hiện mình mới là bên quyết định thời điểm kết thúc của cuộc chiến. Họ sẽ không dừng lại cho đến khi đạt được một hiệp định hoà bình lâu dài cùng các khoản bồi thường chiến tranh. Tất nhiên, Mỹ khó lòng chấp nhận điều đó. Nếu không có một bên thất bại hoặc chịu thiệt hại nặng nề, cuộc chiến này không thể kết thúc sớm. Trong trường hợp Mỹ – Israel thực hiện chiến dịch đổ bộ và thất bại với thiệt hại nặng, một làn sóng phản chiến chắc chắn sẽ nổ ra, cơ hội để ngừng chiến sẽ được khai mở.
Thứ hai, trường hợp Mỹ có thể lôi kéo được thêm các đồng minh, chẳng hạn NATO sẽ thay thế các đồng minh Trung Đông can thiệp vào cuộc chiến. Điều này không dễ khi phản ứng của các đồng minh không mấy hứng thú với cuộc chiến này. Nhưng với sức ép kinh tế, chính trị, Washington vẫn hoàn toàn có thể thúc ép được một số đồng minh chủ chốt. Điều đó sẽ khiến tình hình phức tạp hơn, cục diện xung đột ở Trung Đông sẽ có những bước ngoặt khó lường. Khi tình thế bế tắc, một thoả thuận ngừng bắn có thời gian đi kèm với những nhượng bộ lợi ích của bên yếu thế sẽ được tính tới.
Thứ ba, sự thất bại của Donald Trump trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ cũng có thể kết thúc cuộc chiến này. Tất nhiên là nếu cuộc chiến này có thể kéo dài đến cuối năm nay. Trong thời gian đó, cuộc chiến sẽ là một gánh nặng đối với tất cả các bên liên quan dù trực tiếp hay gián tiếp. Sức chịu đựng có hạn của các chủ thể liên quan có thể khiến kịch bản này khó xảy ra.
Với ba kịch bản đã nêu, cuộc chiến này nhiều khả năng sẽ không diễn ra quá lâu, ước chừng chỉ ít tháng tiếp theo.
Thứ tư, kịch bản khó tin nhất và cũng khó xảy ra nhất: Iran sụp đổ. Chính quyền thần quyền không muốn điều đó, Nga và Trung Quốc cũng không muốn điều đó, hậu quả của kịch bản này sẽ vô cùng lớn. Bầu không khí hỗn loạn ở Trung Đông có thể sẽ kéo dài hơn những gì người ta tưởng tượng. Cấu trúc an ninh khu vực này sẽ thay đổi. Thậm chí, nếu Donald Trump chiến thắng, sẽ rất khó để kiềm chế Mỹ tiếp tục bành trướng mạnh hơn. Greenland, Canada, Mexico, toàn bộ vùng Caribe và nhiều nơi khác sẽ là mục tiêu tiếp theo của Mỹ.
Dù kịch bản nào xảy ra, những tác động về năng lượng, thương mại đối với khu vực và thế giới sẽ kéo dài ít nhất cho tới hết năm nay. Sự gián đoạn trong phát triển kinh tế đối với các nước Ả Rập quân chủ là điều chắc chắn. Các nước phụ thuộc vào nguồn cùng dầu mỏ từ vùng Vịnh cũng không tránh khỏi ảnh hưởng. Và rộng hơn, kinh tế toàn cầu cũng rơi vào tình trạng ảm đạm hơn do chi phí sinh hoạt trở nên đắt đỏ hơn. Các chính sách điều tiết của các nhà nước khó có thể duy trì được lâu và tất yếu sẽ phải điều chỉnh.
Đối với Việt Nam, cuộc chiến này có thể kéo dài không quá lâu, nhưng tác động về kinh tế và môi trường chính trị quốc tế là lâu dài, một vài khuyến nghị có thể xem xét tính đến:
Một, tiếp tục phát triển quan hệ năng lượng với Nga trên nhiều lĩnh vực, từ hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí cho tới việc mở rộng thêm các cơ sở lọc dầu ở trong nước; xem xét tính khả thi của việc xây dựng đường ống dẫn dầu Nga – Việt quá cảnh qua Trung Quốc hoặc tăng cường kết nối hạ tầng cảng biển, đường sắt có khả năng vận chuyển dầu khí trung gian; tích cực hợp tác trên các lĩnh vực năng lượng tái tạo khác; đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án điện hạt nhân, có thể tính tới việc khảo sát mở rộng, quy hoạch thêm dự án điện hạt nhân mới phục vụ cho chiến lược của 20 đến 50 năm tới.
Hai, tiếp tục đẩy mạnh phát triển năng lực phòng thủ quốc gia theo hướng tự chủ, phù hợp với sự phát triển của chiến tranh hiện đại, đẩy mạnh nghiên cứu, sáng chế các giải pháp mới trong vấn đề phòng thủ từ xa; tăng cường công tác nghiên cứu, tổng kết các cuộc chiến tranh, xung đột hiện đại, đưa ra các giải pháp phù hợp với đặc thù của Việt Nam.
Ba, tăng cường quan hệ với các nước láng giềng, coi hợp tác láng giềng là trụ cột của nền ngoại giao nước nhà. Rút bài học kinh nghiệm từ cuộc chiến đang diễn ra ở Trung Đông, chính các nước láng giềng có thể là lá chắn kiên cố, giúp Việt Nam xây dựng được thế phòng thủ từ xa. Tuy nhiên, phát triển quan hệ quốc tế nhưng đồng thời phải nhấn mạnh tinh thần của chính sách Bốn không.
Bốn là, phát triển khả năng phòng thủ trước các cuộc tấn công mạng, tấn công tư tưởng, hạn chế các mầm mống mâu thuẫn bên trong, duy trì thế trận lòng dân, thế trận an ninh nhân dân, tăng cường huấn luyện thích ứng với các thủ đoạn chiến tranh tư tưởng mới.
Năm là, công tác tình báo, phản gián cần chặt chẽ, khoa học, đảm bảo các hoạt động phòng thủ luôn đi trước các tác nhân gây đe doạ; tăng cường hợp tác chia sẻ thông tin tình báo với các nước trên thế giới.
Cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran hiện nay nếu có thể kết thúc mà không bên nào giành thắng lợi. Các bên tìm kiếm được giải pháp kết thúc chiến tranh trong danh dự sẽ có lợi đối với thế giới. Còn trong kịch bản kết thúc chiến tranh với kết quả một bên mất, một bên còn, dù là bên nào cũng sẽ tạo ra những xáo trộn đặc biệt lớn đối với cục diện Trung Đông nói riêng và trật tự thế giới nói chung. Việt Nam và cộng đồng quốc tế nên có sẵn nhiều phương án thích ứng đối với nhiều kịch bản phát triển trong thời gian tới./.
Tác giả: Hoàng Hải
Lời tạm kết của tác giả: Cuộc chiến giữa Mỹ và Israel nhằm vào Iran mới chỉ đang diễn ra giai đoạn đầu, cuộc chiến thông tin của các bên đã khiến việc tiếp cận các dữ liệu chính xác trở nên khó khăn. Do vậy, các thông tin chỉ mang tính chất tương đối, được cập nhật đến ngày thực hiện bài viết. Cũng chính vì vậy, bài viết này có thể tồn tại nhiều thiếu sót. Hi vọng tiếp tục nhận được những phản hồi, đóng góp từ quý độc giả.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Nghiên cứu Chiến lược. Mọi trao đổi học thuật và các vấn đề khác, quý độc giả có thể liên hệ với ban biên tập qua địa chỉ mail: [email protected]
Tài liệu tham khảo:
[1] Mariel Ferragamo, Jonathan Masters, Will Merrow (2026), What Are Iran’s Nuclear and Missile Capabilities?, https://www.cfr.org/articles/what-are-irans-nuclear-and-missile-capabilities
[2] 阚静文、吴宝澍、蔺妍 (2026), 即将“满月”,美以伊战事走向四大悬念, 新华社https://www.thepaper.cn/newsDetail_forward_32844535
[3] Sam Lair (2025), Air and Missile Defenses in the June 2025 Israel-Iran War, Fpri, https://www.fpri.org/article/2025/10/shallow-ramparts-air-and-missile-defenses-in-the-june-2025-israel-iran-war/
[4] Phil Stewart, Idrees Ali, Jonathan Landay and Erin Banco (2026), Exclusive: U.S. can only confirm about a third of Iran’s missile arsenal destroyed, sources say, Reuters, https://www.reuters.com/world/middle-east/us-can-only-confirm-about-third-irans-missile-arsenal-destroyed-sources-say-2026-03-27/
[5] Iran International (2026), Iran says many newer missiles remain unused, IRGC spokesman says, https://www.iranintl.com/en/202603156830
[6] WANA (2026), How Much of Its Missile and Drone Capability Has Iran Used So Far?, https://wanaen.com/how-much-of-its-missile-and-drone-capability-has-iran-used-so-far/
[7] Steven Shepard & Andrew Daniller (2026), “Americans Broadly Disapprove of U.S. Military Action in Iran”, Pew Research Center, https://www.pewresearch.org/politics/2026/03/25/americans-broadly-disapprove-of-u-s-military-action-in-iran/
[8] Sarah Yerkes (2026), “The Iran War Is Making America Less Safe”, Carnegie Endowment for International Peace, https://carnegieendowment.org/emissary/2026/03/iran-war-us-less-safe
[9] Aljazeera (2026), US-Israel war on Iran: What’s happening on day 28 of attacks?, https://www.aljazeera.com/news/2026/3/27/us-israel-war-on-iran-whats-happening-on-day-28-of-attacks-2
[10] Anadolu Ajansı (2026), German chancellor criticizes US, Israeli military strategy in Iran, https://www.aa.com.tr/en/europe/german-chancellor-criticizes-us-israeli-military-strategy-in-iran/3882220
[11] Quỳnh Vũ (2026), Tây Ban Nha “không ủng hộ chiến tranh” bất chấp đe dọa cắt đứt giao thương của Mỹ, Đại biểu Nhân dân, https://daibieunhandan.vn/tay-ban-nha-khong-ung-ho-chien-tranh-bat-chap-de-doa-cat-dut-giao-thuong-cua-my-10408546.html
[12]Siladitya Ray (2026), Trump Lashes Out At NATO Allies And Threatens Iran, Forbes, https://www.forbes.com/sites/siladityaray/2026/03/26/trump-attacks-nato-allies-and-threatens-iran-to-get-serious-soon-before-its-too-late/
[13] Charbel A. Antoun (2026), Can Russia and China turn the Iran War into a long war Washington can’t win?, The Hill, https://thehill.com/opinion/national-security/5799531-us-israeli-air-campaign-iran/
[14] Michael MacArthur Bosack (2026), North Korea’s Response to the Israel-US Attacks on Iran, The Diplomat, https://thediplomat.com/2026/03/north-koreas-response-to-the-israel-us-attacks-on-iran/
[15] Iran International (2026), North Koreans fear possible deployment as Iran war intensifies – report, https://www.iranintl.com/en/202603259187
[16] Nghiên cứu Chiến lược (2026), Cuộc chiến giữa Mỹ, Israel với Iran: Quan điểm từ các chuyên gia, https://nghiencuuchienluoc.org/cuoc-chien-giua-my-israel-voi-iran-quan-diem-tu-cac-chuyen-gia/























